“Người nghệ sĩ đáng kinh ngạc nhất mà tôi từng gặp… Anh ấy sở hữu sức mạnh thôi miên huyền bí… Anh ấy đã tiến gần đến sự hoàn hảo hơn hầu hết chúng ta.” – Mischa Maisky
Trong lịch sử nghệ thuật trình diễn của thế kỷ 20, có những tên tuổi không cần đến nhiều bản thu âm, cũng chẳng cần ánh đèn sân khấu tại những phòng hoà nhạc danh giá mà vẫn để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí những người yêu nhạc thực thụ và đồng nghiệp – chỉ bằng tài năng thuần khiết của mình. Philippe Hirschhorn là một trường hợp như vậy. Ông là một nghệ sĩ violin mang phong cách độc đáo: kết hợp giữa kỹ thuật điêu luyện, trí tuệ âm nhạc sâu sắc và một tâm hồn nghệ sĩ mẫn cảm đến độ mong manh. Ông chiến thắng cuộc thi Nữ hoàng Elisabeth danh giá năm 1967, đánh bại cả những tên tuổi sau này trở nên lừng lẫy như Gidon Kremer (chỉ giành giải ba) nhưng lại chọn một con đường khiêm nhường, ít xuất hiện và tránh xa mọi bon chen trong thế giới biểu diễn chuyên nghiệp. Có lẽ vì vậy mà những ai từng nghe ông chơi – dù chỉ một lần – đều không thể quên được cảm giác như đang chứng kiến một điều gì đó quá đỗi chân thực, quá đỗi tuyệt vời và với một số người – quá đỗi linh thiêng. Gần như không có một bản thu âm đúng nghĩa (chủ yếu những gì còn sót lại là thu trực tiếp tại buổi biểu diễn) vì Hirschhorn đã từ chối đánh đổi âm nhạc của mình cho một sự nghiệp thương mại, nhưng những gì còn lại sẽ khiến chúng ta sửng sốt trước vẻ đẹp thâm trầm và sự chân thành không màu mè trong tiếng đàn của ông. Hirschhorn không chơi để gây ấn tượng – ông biểu diễn như thể đang giãi bày một nội tâm kín đáo, nơi từng nốt nhạc được chắt lọc đến mức gần như đau đớn. Những ai từng biết Philippe Hirschhorn đều nói về việc ông chạm tới sự vĩnh cửu; một cảm giác tràn ngập mãnh liệt. Việc sử dụng những khái niệm siêu hình để mô tả một nghệ sĩ violin thiên tài ra đi khi còn đang độ chín muồi có thể bị xem là cường điệu, nhưng với nhiều người có may mắn được nghe ông biểu diễn, tham gia lớp học nâng cao hay cộng tác với ông trong âm nhạc thính phòng, Hirschhorn là một con người độc nhất – không chỉ với tư cách nghệ sĩ và nhà sư phạm phi thường, mà còn là một con người đầy nhân văn. Tinh thần của Hirschhorn vẫn sống mãi trong những ai thấu hiểu ý nghĩa đằng sau câu nói quen thuộc của ông: “Hãy dũng cảm là chính mình”.
Philippe Hirschhorn sinh ngày 11/6/1946 tại Riga, Latvia trong một gia đình không hoạt động nghệ thuật, chỉ có cha cậu là một nghệ sĩ violin nghiệp dư và có một bộ sưu tập đĩa nhạc khá đồ sộ, một số đã được Hirschhorn lưu giữ cho đến cuối đời. Đã có những câu chuyện âm nhạc liên quan đến Philippe mang tính truyền thuyết. Có lần cha mẹ Philippe đang nghe bản Giao hưởng số 3 của Ludwig van Beethoven và cậu bé 4 tuổi khóc lóc nài nỉ mọi người tắt đi vì khăng khăng rằng âm nhạc “đẹp đến mức không thể chịu nổi” – dấu hiệu sớm của một tâm hồn cực kỳ nhạy cảm. Nhạc cụ đầu tiên cuốn hút Philippe là piano nhưng mẹ cậu lại khuyến khích con trai mình học violin – vì nhận thấy tay cậu dài bất thường. Hirschhorn thường nói đùa: “Muốn trở thành nghệ sĩ violin giỏi, phải có một bà mẹ đầy tham vọng”. Lí do mẹ Philippe thuyết phục con trai mình là violin tiện lợi hơn, cậu có thể luyện tập khi đi nghỉ mát. Sáu tuổi, Philippe theo học tại trường âm nhạc thiếu nhi chuyên nghiệp ở Riga, dưới sự hướng dẫn của Waldemar Sturestep. Ở đây, bạn học của cậu gồm có Oleg Kagan, Kremer và Maisky. Chỉ sau một năm, Philippe đã đại diện cho trường học tới Moscow để biểu diễn. Ngay từ thời điểm này, cậu bé đã toát lên khí chất rất độc đáo, như Leopold Auer từng nói là chỉ dành cho những người: “được tạo nên từ chất liệu của những bậc thầy”.
Philippe lớn lên trong thời kỳ đầu của Chiến tranh Lạnh, khi những biểu hiện đầu tiên của sự hòa hoãn văn hóa bắt đầu hình thành giữa các siêu cường. Cuộc thi Tchaikovsky năm 1958 (với Van Cliburn đoạt giải nhất dành cho piano) đã mở ra làn sóng quan tâm mới từ phương Tây đến âm nhạc Nga, và khơi gợi trí tưởng tượng cho cả một thế hệ nghệ sĩ trẻ như Philippe. Sau cuộc thi, Cliburn đã đến Riga và được thưởng thức màn trình diễn của Philippe. Cliburn rất xúc động: “Tôi sẽ rời khỏi đây với những kỷ niệm vô cùng tuyệt vời trong lòng. Tôi có quá nhiều ấn tượng cá nhân đến nỗi tôi không thể nhớ hết được. Có một cuộc gặp gỡ đáng nhớ ở Riga với một cậu bé – một nghệ sĩ violin. Cậu ấy tặng tôi một món quà mà tôi rất quý và sẽ mang về nhà. Đó là một chiếc đĩa được trang trí bằng chân dung của Tchaikovsky. Cậu bé đã nhận được nó vào ngày sinh nhật của mình và quyết định tặng cho tôi”. Một năm sau, 13 tuổi, cùng với cậu bạn Kagan, Hirschhorn đã tới Moscow, đến học tại trường Âm nhạc trung ương. Tuy nhiên, Hirschhorn lại bị đuổi chỉ sau một năm học vì… đã đốt phím đàn piano và quậy phá trong trường. Mặc dù vậy, tài năng của cậu đã được toàn bộ bạn bè ghi nhận. Một người bạn học nhớ lại: “Hirschhorn mà chúng tôi biết trong những năm ấy là người phi thường nhất trong số bạn cùng thời… Cậu ấy có thể chơi bất cứ thứ gì. Cậu ấy chơi bản Erlkönig quỷ quái trong khi nằm ngửa và hay hơn cả người khác chơi khi đứng”. Và tài năng của Hischhorn không chỉ giới hạn trong cây đàn violin. Cậu cũng khiến bạn bè thán phục qua những câu truyện cười, chơi bi a và cả những màn trình diễn piano dù hiếm khi luyện tập thực sự.
Trở về Riga, Hirschhorn đã thực hiện một bản thu tại đây với tác phẩm Sonata số 3 dành cho violin độc tấu ‘Ballade” của Eugène Ysaÿe, điều này cũng đồng nghĩa với việc tại thời điểm này, chàng trai trẻ 15 tuổi đã có thể chơi hầu hết mọi thứ. Bị Moscow từ chối, Hirschhorn theo học tại Nhạc viện Leningrad dưới sự hướng dẫn của Mikhail Vayman, người đoạt giải nhì trong cuộc thi Nữ hoàng Elisabeth lần thứ hai năm 1951 (giải nhất là Leonid Kogan). Như nghệ sĩ violin Dmitry Potemin, người bạn chung ký túc xá tại nhạc viện của Hirschhorn đã nhớ lại rằng Hirschhorn đã mang cuốn băng thu tại Riga cho Vayman nghe và hỏi “Thầy nghĩ thế nào, Mikhail Izrailevich? Thầy nghĩ đây là ai”? Vayman trả lời: “Với tôi thì có vẻ như đây là Menuhin trẻ tuổi”. Và câu trả lời là: “Không, đó là em khi mười lăm tuổi”. Tin đồn về một tài năng khác thường đến từ Riga đã lan toả trong giới sinh viên tại đây. Anh đã thu hút được một lượng lớn người hâm mộ là các bạn học. Các hành lang vắng tanh khi Hirschhorn biểu diễn và mọi người đổ xô đi nghiên cứu Concerto violin số 1 của Niccolò Paganini, tác phẩm yêu thích của anh. Ngay từ lúc này, Hirschhorn đã sở hữu “sức mạnh thôi miên huyền bí” mà Maisky đã nói đến. Vayman là một người thầy tận tâm, ông đã theo sát cậu học trò thiên tài của mình, trao đi tất cả những gì ông có, cả về mặt kỹ thuật lẫn diễn giải nghệ thuật. Năm 1965, Hirschhorn đã giành chiến thắng trong cuộc thi tuyển chọn thí sinh để tham gia cuộc thi violin quốc tế Paganini được tổ chức tại Genoa. Anh đã giành giải nhì, làm dấy lên một cuộc tranh luận gay gắt rằng Hirschhorn đã phải nhường lại giải nhất cho Viktor Pikaizen, nghệ sĩ đồng hương vì Pikaizen đã 32 tuổi và chưa một lần đoạt huy chương vàng trong những cuộc thi trước đó trong khi anh mới 19, còn nhiều cơ hội ở phía trước. Bản thân Hirschhorn, với tính cách bất kham của mình, không hề nghĩ rằng điều đó là công bằng với mình và chẳng thèm che giấu điều đó, đã gặp phải một số bất lợi khi quay lại cuộc sống tại Nhạc viện Leningrad.
Nhưng cuối cùng thì chiến thắng cũng đã đến với Hirschhorn. Tháng 5/1967, anh đã giành giải nhất tại cuộc thi Nữ hoàng Elisabeth lần thứ 6 trước một ban giám khảo gồm những tên tuổi lừng lẫy như Joseph Szigeti, Yehudi Menuhin, Arthur Grumiaux, David Oistrakh hay Zino Francescatti. Dimache Presse đã thông báo: “Giải nhất: nghệ sĩ violin người Nga Philippe Hirschhorn, 20 tuổi. Với sự điêu luyện đến mức chói sáng, anh đã biểu diễn Etude in the Form of a Waltz của Saint-Saëns và Concerto violin số 1 của Paganini. Giải thưởng được Hoàng hậu Fabiola trao tặng… Hàng nghìn người xem, hàng triệu người nghe (những người không đủ may mắn để có được một vị trí trong Cung điện Mỹ thuật) qua đài phát thanh màn trình diễn điêu luyện này. Những tràng pháo tay không đếm xuể kèm theo tên của những người chiến thắng. Ba người đoạt giải đã nhảy lên vì sung sướng. Những người xem nhiệt tình đã đứng dậy khỏi chỗ ngồi của mình và chào đón Philippe Hirschhorn bằng những tràng pháo tay dài”. Trên thực tế, con đường đưa Hirschhorn đến với cuộc thi không hề bằng phẳng. Dù có màn trình diễn phi thường tại vòng sơ khảo toàn Liên Xô, các giáo viên khác lại tìm cách tiến cử học trò mình thay cho Hirschhorn. Bằng uy tín của mình, Vayman đề nghị ông sẽ đích thân dạy Hirschhorn để học trò chuẩn bị thật kỹ lưỡng. Với cá tính của mình, Hirschhorn muốn biểu viễn Concerto violin của Johannes Brahms nhưng Vayman kiên quyết bắt cậu học trò của mình lựa chọn tác phẩm của Paganini. Trong cuộc thi, Hirschhorn còn biểu diễn bản sonata dành cho violin độc tấu của Béla Bartók. Mọi người đồn rằng Menuhin đã gặp anh sau cánh gà và nói: “Bản sonata này được viết cho tôi, nhưng cậu chơi hay hơn”.
Ban giám khảo, giới phê bình và khán giả đều nhất trí tán dương ngôi sao mới nổi, với các màn trình diễn tràn đầy năng lượng và biểu cảm chưa từng thấy. Nhưng nhìn lại cuộc thi, Hirschhorn nói: “Tôi đã đánh lừa khán giả, đánh lừa giám khảo khi họ xem lại đoạn phim ghi hình! Ngốc thật! Tôi không cho họ biết điều gì đang chờ phía trước”. Với sự tự ý thức và khiêm nhường châm biếm của mình, Hirschhorn ngụ ý rằng phiên bản tại cuộc thi của anh chưa phải tốt nhất mà vẫn còn nhiều điều tuyệt vời hơn sẽ đến trong tương lai. Và cá tính thực sự của anh cũng được bộc lộ. Trong buổi biểu diễn sau lễ trao giải, khi Hirschhorn đang chơi Caprice số 1 của Paganini, anh bỗng nhiên bỏ dở và bước ra khỏi sân khấu dù rằng khán giả đang rất ấn tượng với kỹ thuật hoàn hảo của anh. Nhưng bản thân Hirschhorn nghĩ rằng mình đang biểu diễn quá tệ: nếu điều đó chưa đủ tốt với bản thân, thì nó cũng chưa đủ tốt cho khán giả. Hirschhorn luôn trung thực với bản thân mình. Trở về nước, Hirschorn đã được yêu cầu biểu diễn tại phòng hoà nhạc của Leningrad Philharmonic trong chương trình đón Henryk Szeryng sang thăm. Szeryng đã thán phục, khen ngợi chàng trai trẻ rằng anh đã chơi không khác gì Jascha Heifetz. Với tư cách người giành được giải nhất, sau đó, anh được yêu cầu đi biểu diễn tại nhiều nơi với cùng một chương trình: Concerto violin số 1 của Johann Sebastian Bach, số 3 của Wolfgang Amadeus Mozart và số 1 của Paganini, điều khiến Hirschhorn chán nản. Đó không phải là một cuộc sống vui vẻ, anh phải ở trong các khách sạn cũ kĩ tại nhiều tỉnh lẻ, chịu đựng các chuyến bay trễ giờ, vạ vật ngồi trên sàn trong phòng chờ. Nhiều lời mời từ nước ngoài được gửi đến, trong đó có Menuhin đề nghị được biểu diễn cùng anh trong double concerto của Bach nhưng đều bị chính quyền Liên Xô từ chối. Thế giới rộng lớn bên ngoài gần như bị ngăn cách hoàn toàn. Trong suốt sáu năm sau đó, Hirchhorn chỉ được xuất ngoại biểu diễn một lần tại London.
Một sự cố đã xảy ra với Hirschhorn khi anh có chương trình biểu diễn tại Sochi. Tuy nhiên, anh đã không xuất hiện tại phòng hoà nhạc, với lý do là không có xe đến đón. Nhiều người đã lên án Hirschhorn, rằng đó là một sự “tự phụ”, “kiêu căng” khi “phòng hoà nhạc chỉ cách đó một khoảng đi bộ ngắn”. Đó là một vụ bê bối lớn vào thời điểm đó, anh đã bị huỷ bỏ nhiều chương trình hoà nhạc sau đó. Đây là một trong những nguyên nhân khiến Hirschhorn quyết rời bỏ đất nước Liên Xô. Sau này, cuốn nhật ký của Yuri Temirkanov đã minh oan cho Hirschhorn. Temirkanov kể rằng khi còn trẻ, ông tham gia chuyến biểu diễn dọc sông Volga cùng Symphony Orchestra of All-Union Radio and Television với Gennady Rozhdestvensky làm trưởng đoàn. Lúc được thông báo sẽ có xe đón đoàn tại khách sạn, Temirkanov đã sửng sốt vì phòng hoà nhạc nằm ngay bên kia quảng trường đối diện khách sạn thì được trả lời: “Hãy nhớ rằng, chàng trai trẻ, khán giả không bao giờ được thấy anh đi dọc phố đến một buổi hoà nhạc với bộ lễ phục trên tay. Nếu điều đó xảy ra, họ sẽ không lắng nghe anh biểu diễn với sự tôn trọng đúng mực”. Hirschhorn và cha mẹ anh đã nộp đơn xin di cư đến Israel vào năm 1972. Với chính sách của Liên Xô khi đó cho phép những người dân có nguồn gốc Do Thái được rời khỏi đất nước, năm 1973, họ đã được chấp thuận. Anh không dừng lại Israel lâu, từ chối sự giúp đỡ của Isaac Stern và Zubin Mehta và chuyển đến sinh sống tại Bỉ.
Một cuộc sống mới bắt đầu tại Brussels. Hirschhorn nhận được nhiều lời biểu diễn cùng London Symphony Orchestra, Philadelphia Orchestra, Berlin Philharmonic với những nhạc trưởng danh tiếng như Herbert von Karajan, Eugene Ormandy, Charles Groves hay Jean Martinon. Trong đó màn trình diễn Concerto violin của Peter Ilyich Tchaikovsky cùng Karajan tại liên hoan Salzburg được ca ngợi: “Philippe Hirshhorn là một nghệ sĩ violin quốc tế trẻ đầy tài năng, sở hữu tài năng trữ tình nổi bật, gợi nhớ đến phong cách tinh tế của Kreisler. Những phẩm chất nghệ thuật xuất chúng của ông hiển nhiên và đầy thuyết phục”. Hiển nhiên, Hirchhorn đã bắt đầu gây dựng được danh tiếng cho mình tại phương Tây, một tương lai tươi sáng đang rộng mở. Nhưng bất ngờ, từ năm 1975, ông bắt đầu huỷ bỏ các chương trình hoà nhạc. Ngay cả lời mời của Karajan cũng bị từ chối với lý do không phù hợp với triết lý âm nhạc của Hirschhorn. Với Hirschhorn, âm nhạc là thứ đầu tiên và quan trọng nhất, nó bén rễ từ nỗi đau. Hirschhorn không biết đến sự giả dối. Nếu ông không đồng ý với nhạc trưởng nào – dù nổi tiếng đến đâu – ông sẽ thể hiện điều đó. Toàn bộ giới âm nhạc bàng hoàng vì thái độ dửng dưng của Hirschhorn với sự nghiệp. Sự dửng dưng ấy đến từ sự ý thức cao độ, không phải tự hủy hoại. Được xem là một trong nghệ sĩ violin đáng chú ý nhất lúc bấy giờ, Hirschhorn lại chọn con đường nhạc thính phòng. Ông mở rộng chân trời biểu diễn và hợp tác với Gary Hoffman, Nobuko Imai, Martha Argerich hay Tabea Zimmermann. Hirschhorn tin chắc rằng biểu diễn âm nhạc không phải là nghề, càng không phải một lựa chọn mang tính thực dụng – mà là nhu cầu cảm xúc mãnh liệt, một hành trình từ nội tâm hướng ra thế giới bên ngoài.
Đã có thời gian Hirschhorn trở thành chỉ huy dàn nhạc. đảm nhiệm vai trò giám đốc nghệ thuật của Orchestre de Chambre de Wallonie ở Bỉ. Đó là một dàn nhạc thính phòng gồm 12 nhạc công và ông kiêm nhiệm luôn vị trí concertmaster. Dù các nhạc công yêu quý ông, nhưng có những thế lực bản địa muốn giành vị trí đó cho một người khác nên cuối cùng Hirschhorn đã bị sa thải. Hirschhorn sau những trải nghiệm chính trị ở Liên Xô, ông không còn ngạc nhiên về bất cứ điều gì tương tự. Một nhạc công của dàn nhạc cho biết: “Có lẽ đây là một biểu hiện khác của sự vĩ đại chân chính. Ông ấy ưu tư với sự thật của nghệ thuật hơn là biến mình thành một món hàng. Philippe đơn giản là không thể thỏa hiệp”. Ông quay lại sự nghiệp biểu diễn của một nghệ sĩ tự do, nhưng chủ yếu là hoà tấu cùng piano cũng như tham gia vào các tác phẩm thính phòng.
Từ năm 1985, Hirschhorn bắt đầu công việc dạy học. Di sản của Hirshhorn với tư cách giáo viên tại Nhạc viện Hoàng gia Brussels và Nhạc viện Utrecht, Hà Lan vẫn sống mãi trong trái tim và tâm trí của hàng chục học trò cũ. Lớp học của Hirshhorn luôn kín chỗ, có cả những nghệ sĩ từ các bộ môn khác. Đôi khi các để xuất của Hirschhorn bị suy xét dưới ánh mắt hoài nghi nhưng thường thì những suy nghĩ và cảm nhận độc đáo đó đã khiến mọi người phải thay đổi. Ông giành được rất nhiều tình cảm của học trò, thường xuyên mời họ đến nhà ăn tối và không ngại ngần trò chuyện sâu sắc về những lĩnh vực khác như chính trị, tôn giáo và triết học. Cũng không như nhiều giảng viên khác phân loại sinh viên thành “nghệ sĩ lớn, nghệ sĩ trung bình và những kẻ vô vọng”, với Hirschhorn, mỗi con người đều có cơ hội để thay đổi, miễn là họ dám đối mặt với cảm xúc của mình. Để luyện tập đúng cách – một từ mà ông có lẽ rất ghét – Hirschhorn nhấn mạnh sự quan trọng của việc khởi đầu bằng âm thanh chậm, mở, thư giãn và đầy đặn: “Bất kể bạn bắt đầu với điều gì, nó phải vừa năng động vừa đẹp đẽ”. Các bạn học ở Leningrad đều biết được rằng từ 17 tuổi, Hirschhorn đã hình thành cho mình một hệ thống luyện tập độc đáo của riêng ông. Tài năng thiên bẩm cộng với khả năng cảm âm đặc biệt – đặc biệt là đối với âm bán cung và phần tư cung – khiến Hirschhorn nổi bật. Một người bạn thân đã nhận xét: “Cuộc sống sẽ dễ dàng hơn cho Philippe nếu cậu ấy không có tai nghe phi thường đến thế”. Đã có nhiều học trò thành danh dưới sự dạy dỗ của ông như Philippe Graffin, Janine Jansen, Liza Ferschtman hay Adriaan Stoet. Họ luôn dành cho Hirschhorn sự kính trọng lớn lao. Graffin nói: “Tôi chưa từng gặp ai giống ông ấy và bất kể điều gì xảy ra sau đó, tôi đều nhìn qua lăng kính của ông: tài năng, lòng nhân đạo, sự tốt bụng, ý nghĩa của sự chăm chỉ…”. Còn Jansen thì nhận xét: “Những bài học thật thú vị và đầy cảm hứng đối với tôi. Được chơi nhạc cho một nhạc sĩ đầy sức lôi cuốn như vậy, bạn luôn muốn cống hiến hết mình”. Phương châm của Hirshhorn: “Là một nghệ sĩ, bạn nên quan tâm đến thái độ, không phải mục tiêu” đã trở thành ngọn hải đăng chỉ đường cho một thế hệ nghệ sĩ trẻ.
Những lời mời biểu diễn liên tục đến với Hirschhorn thì năm 1994, ông cảm thấy đau ngón tay đeo nhẫn ở bàn tay trái và không thể cử động theo ý muốn. Khi đầu ông trở nên đau trở nên dữ dội, các bác sĩ đã khám một cách nghiêm túc và xác định rằng ông bị u não. Ông được phẫu thuật và trở lại với công việc giảng dạy một thời gian. Nhưng mùa hè năm 1996, mọi thứ đã quay trở lại. Ca phẫu thuật thứ hai vào tháng 9/1996 đã không thành công và Hirschhorn đã qua đời vào ngày 26/11/1996 ở tuổi 50. Đích thân hoàng hậu Fabiola đã can thiệp để thi hài ông được chôn cất tại nghĩa trang Dieweg, Ukkel, Brussels vốn đã được đóng cửa từ năm 1945.
Giải thích cho câu hỏi tại sao một nghệ sĩ phi thường như vậy lại không bao giờ có được sự nghiệp đẳng cấp thế giới là rất phức tạp. Đối với người bạn thân lâu năm Maisky, vấn đề nằm ở tâm lý bất ổn, càng trở nên trầm trọng bởi sự nhạy cảm quá mức của Hirschhorn trước những giả dối trong thế giới âm nhạc, cùng sự sùng bái các ngôi sao, tuổi trẻ và những yếu tố hào nhoáng không liên quan gì đến hành trình khám phá nghệ thuật đích thực. Còn Elisabeth Leonskaja – người đã cộng tác với Hirschhorn trong nhiều thập niên – nhận xét rằng ông sở hữu tài năng thiên phú và cảm quan âm nhạc sâu sắc đến mức “tiệm cận sự hoàn hảo” hơn bất kỳ nghệ sĩ lớn nào khác. Chính sự tiệm cận đó lại mang đến cho Hirsch những cảm xúc choáng ngợp của nỗi thất vọng và hoài nghi bản thân – những điều sau cùng đã bao trùm cả cuộc đời ông. Philipp Hirschhorn là một hiện tượng hiếm có trong thế giới âm nhạc cổ điển – một nghệ sĩ violin mang trong mình khả năng biểu đạt thấu suốt và tinh tế đến mức siêu thực, nhưng cũng là một tâm hồn nhạy cảm, thường xuyên giằng xé giữa lý tưởng nghệ thuật và thực tế khắc nghiệt. Ông không để lại nhiều bản thu âm, không mưu cầu danh vọng, nhưng những ai từng nghe ông biểu diễn – hoặc từng học với ông – đều mang trong mình ký ức không thể phai mờ. Trong thế giới này, nơi mà sự chân thực và giản dị ngày càng trở thành điều xa xỉ, di sản của Hirschhorn nhắc nhở chúng ta về vẻ đẹp nguyên bản, về sự can đảm theo đuổi nghệ thuật đến tận cùng, và về một con đường làm nghệ sĩ không dành cho số đông.
Cobeo
- [Vietsub] Gounod: Faust
- 10 lý do khiến ta yêu Hector Berlioz
- 10 nghệ sĩ piano chơi Chopin xuất sắc nhất
- 10 nhạc trưởng và dàn nhạc hàng đầu thế giới
- 11 nhà soạn nhạc yêu thích ẩm thực
- 20 BẢN CONCERTO HAY NHẤT (a list by Cobeo)
- 500 lần bày tỏ tình yêu
- A Midsummer Night’s Dream (Giấc mộng đêm hè), Op. 64
- ABBADO, CLAUDIO (1933-2014)
- Absolutely adore in Other Ethnicities
- Aida
- Aida – bi kịch bên dòng sông Nil
- Aida – tượng đài chiến thắng bất tử của Verdi
- ALBENIZ, ISAAC (1860-1909)
- Albert Einstein và cây vĩ cầm
- ALKAN, CHARLES-VALENTIN (1813-1888)
- ALVA, LUIGI (TENOR, 1927-2025)
- ÂM NHẠC CHƯƠNG TRÌNH
- ANDERSON, MARIAN (CONTRALTO, 1897-1993)
- ANDRÉ, MAURICE (1933-2012)
- Andrés Segovia từ góc nhìn của Otto Friedric
- Anh của Gounod
- Arabella, TrV. 263
- ARGERICH, MARTHA (1941-)
- ARIA
- Ariadne auf Naxos (Ariadne ở Naxos), TrV. 228
- Ariettes oubliées (Những đoản khúc lãng quên), L. 60
- ARKHIPOVA, IRINA (MEZZO-SOPRANO, 1925-2010)
- ARRAU, CLAUDIO (1903-1991)
- ASHKENAZY, VLADIMIR (1937-)
- Auf dem Wasser zu singen (Bài ca trên mặt nước), D. 774
- Ave Maria, D. 389
- BACH, JOHANN SEBASTIAN (1685-1750)
- Bach: Biến tấu Goldberg
- Bach: Cantata “Cà phê”
- Bach: Concerto “Brandenburg”
- Bach: Concerto harpsichord số 2
- Bach: Concerto harpsichord số 4
- Bach: Concerto violin số 1
- Bach: Concerto violin số 2
- Bach: Mass giọng Si thứ, BWV. 232
- Bach: St Matthew Passion
- BAGATELLE
- BALAKIREV, MILY (1837-1910)
- BALLADE
- Bàn tròn cùng 3 “ngự lâm pháo thủ” của Operaphilia
- BARBER, SAMUEL (1910-1981)
- Barber: Adagio cho dàn dây
- BARCAROLLE
- BARENBOIM, DANIEL (1942-)
- BARTOK, BELA (1881-1945)
- Bartok: Âm nhạc cho dàn dây, bộ gõ và celesta
- Bartok: Concerto cho dàn nhạc
- Bartók: Divertimento cho dàn dây
- Bartok: Sonata cho 2 piano và bộ gõ
- BARTOLI, CECILIA (MEZZO-SOPRANO, 1966-)
- BASHMET, YURI (1953-)
- BASTIANINI, ETTORE (BARITONE,1922-1967)
- BAVARIAN RADIO SYMPHONY ORCHESTRA
- BAX, ARNOLD (1883-1953)
- BEECHAM, THOMAS (1879-1961)
- Beethoven – Thiên tài chống lại chủ nghĩa chuyên chế
- Beethoven ở vành đai Sao Thổ
- BEETHOVEN, LUDWIG VAN (1770-1827)
- Beethoven: Adelaide
- Beethoven: Concerto cho ba nhạc cụ (Triple Concerto)
- Beethoven: Concerto piano số 4
- Beethoven: Concerto piano số 5
- Beethoven: Concerto violin
- Beethoven: Egmont
- Beethoven: Fantasy hợp xướng (Choral fantasy)
- Beethoven: Fidelio
- Beethoven: Für Elise (Thư gửi Elise)
- Beethoven: Giao hưởng số 3 “Eroica”
- Beethoven: Giao hưởng số 4
- Beethoven: Giao hưởng số 5
- Beethoven: Giao hưởng số 6 “Đồng quê”
- Beethoven: Giao hưởng số 7
- Beethoven: Giao hưởng số 8
- Beethoven: Giao hưởng số 9 “Hợp xướng” (bài viết cũ)
- Beethoven: Giao hưởng số 9 “Hợp xướng” (bài viết mới)
- Beethoven: Gửi người yêu phương xa
- Beethoven: Missa Solemnis
- Beethoven: Overture “Coriolan”
- Beethoven: Sonata Ánh Trăng
- Beethoven: Sonata horn
- Beethoven: Sonata piano số 17 “Giông tố”
- Beethoven: Sonata piano số 21 “Waldstein”
- Beethoven: Sonata piano số 23 “Appassionata”
- Beethoven: Sonata piano số 26 “Les Adieux”
- Beethoven: Sonata piano số 29 “Hammerklavier”
- Beethoven: Sonata piano số 8 “Pathétique”
- Beethoven: Sonata violin số 5 “Mùa xuân”
- Beethoven: Sonata violin số 7
- Beethoven: Sonata violin số 9 “Kreutzer”
- Beethoven: Tứ tấu dây số 11 “Serioso”
- BELLINI, VINCENZO (1801-1835)
- Bellini: La sonnambula (Cô gái mộng du)
- BERG, ALBAN (1885-1935)
- Berg: Lulu
- Berg: Wozzeck
- BERGANZA, TERESA (MEZZO-SOPRANO, 1933-2022)
- BERGONZI, CARLO (TENOR, 1924-2014)
- BERLIN PHILHARMONIC
- Berlioz nhà cải cách
- Berlioz trong tự truyện của Wagner (London)
- Berlioz trong tự truyện của Wagner (Paris)
- Berlioz và Liszt – một tình bạn bị ngăn trở
- BERLIOZ, HECTOR (1803-1869)
- Berlioz: Béatrice et Bénédict (Béatrice và Bénédict)
- Berlioz: Benvenuto Cellini
- Berlioz: L’enfance du Christ (Tuổi thơ của Chúa Ki-tô)
- Berlioz: La damnation de Faust (Tội đày địa ngục của Faust)
- Berlioz: Les nuits d’été (Những đêm hè)
- Berlioz: Les Troyens (Những người thành Troie)
- Berlioz: Rubini đến Calais
- Berlioz: Symphonie Fantastique (bài viết mới)
- Berlioz: Symphonie Fantastique (Giao hưởng Ảo tưởng)
- BERNSTEIN, LEONARD (1918-1990)
- Biển Đông phỏng vấn Hồng Quân
- Biến tấu trên dây Sol
- Bình luận hòa nhạc: FOUR SEASONS CONCERT 1
- Bình luận hòa nhạc: FOUR SEASONS CONCERT 2
- BIZET, GEORGES (1838-1875)
- Bizet: Carmen
- Bizet: Giao hưởng giọng Đô trưởng
- BJORLING, JUSSI (TENOR, 1911-1960)
- BOHM, KARL (1894-1981)
- BORODIN, ALEXANDER (1833-1887)
- Borodin: Giao hưởng số 2
- BOSTON SYMPHONY ORCHESTRA
- BOULEZ, PIERRE (1925-2016)
- BRAHMS, JOHANNES (1833-1897)
- Brahms: Concerto “double”
- Brahms: Concerto piano số 1
- Brahms: Concerto piano số 2
- Brahms: Concerto violin
- Brahms: Ein Deutsches Requiem
- Brahms: Giao hưởng số 1
- Brahms: Giao hưởng số 2
- Brahms: Giao hưởng số 2 (bài viết mới)
- Brahms: Giao hưởng số 3
- Brahms: Giao hưởng số 3 (bài viết mới)
- Brahms: Giao hưởng số 4
- Brahms: Giao hưởng số 4 (bài viết mới)
- Brahms: Ngũ tấu clarinet giọng Si thứ, Op. 115
- Brahms: Sonata cello số 1
- Brahms: Sonata violin số 3
- Brahms: Tam tấu piano số 1
- Brahms: Tứ tấu piano số 1
- BRAIN, DENNIS (1921-1957)
- BRAVO hay BRAVA? Vỗ tay hay là không?
- BREAM, JULIAN (1933-)
- BRENDEL, ALFRED (1931-2025)
- BRITTEN, BENJAMIN (1913-1976)
- Bruce Duffie phỏng vấn Birgit Nilsson
- BRUCH, MAX (1838-1920)
- Bruch: Scottish Fantasy
- BRUCKNER, ANTON (1824-1896)
- Bruckner: Giao hưởng số 4
- Bruckner: Giao hưởng số 7
- Bruckner: Giao hưởng số 9
- BUMBRY, GRACE (MEZZO-SOPRANO, 1937-2023)
- CABALLE, MONTSERRAT (SOPRANO, 1933-2018)
- Các bản thu lịch sử: Pablo Casals, người đưa Bach Cello Suites đến với công chúng
- CÁC LOẠI GIỌNG HÁT TRONG THANH NHẠC CỔ ĐIỂN
- CÁC LOẠI NHẠC CỤ TRONG DÀN NHẠC GIAO HƯỞNG
- Cách khoảng lặng tạo nên âm nhạc
- CALLAS, MARIA (SOPRANO, 1923-1977)
- Camille Saint-Saëns: Những kỷ niệm ấu thơ
- Camille Saint-Saëns: Tôi đã say mê ngắm nhìn các thiên thể
- CANTATA (ĐẠI HỢP XƯỚNG)
- CAPPUCCILLI, PIERO (BARITONE, 1926-2005)
- Carlo Bergonzi
- Carlos Kleiber
- CARRERAS, JOSE (TENOR, 1946-)
- CARUSO, ENRICO (TENOR, 1873-1921)
- CASALS, PABLO (1876-1973)
- Câu chuyện tình lãng mạn nhất trong lịch sử âm nhạc
- Cây bút tạo ra ý nghĩa hoàn hảo của âm nhạc cổ điển
- CELIBIDACHE, SERGIU (1912-1996)
- CELLO
- Cha tôi – Alexander Glazunov (hồi ký của Elena Glazunova-Gyunter)
- CHAILLY, RICCARDO (1953-)
- CHALIAPIN, FEODOR (BASS, 1873-1938)
- CHANG, HAN-NA (1982-)
- CHANG, SARAH (1980-)
- Charles Gounod: Tiếng thở dài mênh mông trôi vào vô tận
- CHAUSSON, ERNEST (1855-1899)
- CHICAGO SYMPHONY ORCHESTRA
- Chớ nói xấu phụ nữ!
- Chopin chơi đàn như thế nào?
- Chopin và Schumann – tương đồng và khác biệt
- CHOPIN, FRÉDÉRIC (1810-1849)
- Chopin: Andante spianato và Grande polonaise brillante
- Chopin: Ballade số 1
- Chopin: Ballade số 4
- Chopin: Barcarolle
- Chopin: Các bài hát tiếng Ba Lan
- Chopin: Piano concerto số 1
- Chopin: Piano Concerto số 2
- Chopin: Piano Sonata số 2
- Chopin: Polonaise “Heroic”
- Chopin: Sonata cello
- Chopin: Sonata piano số 3
- CHRISTOFF, BORIS (BASS, 1914-1993)
- Chúc thư Heiligenstadt
- CHUNG, KYUNG-WHA (1948-)
- CILEA, FRANCESCO (1866-1950)
- Cilea: Adriana Lecouvreur
- Claudi Abbado: một đời cho âm nhạc
- CLEVELAND ORCHERTRA
- CLIBURN, VAN (1934-2013)
- CONCERTO
- Concierto de Aranjuez
- CONTRABASS
- CORELLI, FRANCO (TENOR, 1921-2003)
- CORTOT, ALFRED (1877-1962)
- COTRUBAȘ, ILEANA (SOPRANO, 1939-2026)
- COUPERIN, FRANÇOIS (1668-1733)
- CRESPIN, RÉGINE (SOPRANO, 1927-2007)
- Cuộc chiến của các nhà Lãng mạn
- Cuộc chuyện trò âm nhạc với P. I. Tchaikovsky
- Cuộc đời và nghệ thuật của Kathleen Ferrier
- Cuộc đời và sự nghiệp của Maria Callas
- Cuộc gặp gỡ của hai gã khổng lồ
- Cười cùng Haydn
- David và Igor Oistrakh
- DAVIS, COLIN (1927-2013)
- DE LOS ANGELES, VICTORIA (SOPRANO, 1923-2005)
- DEBUSSY, CLAUDE (1862-1918)
- Debussy: Children’s Corner (bài viết mới)
- Debussy: Children’s Corner (bài viết cũ)
- Debussy: Images, L. 122
- Debussy: Pelléas et Mélisande
- Debussy: Pelléas et Mélisande (bài viết mới)
- Debussy: Prélude à l’après-midi d’un faune, L. 86
- Debussy: Sonata cello giọng Rê thứ
- Debussy: Tứ tấu đàn dây
- DEL MONACO, MARIO (TENOR, 1915-1982)
- Der Erlkönig (Chúa rừng) , D. 328
- Der Fliegende Holländer (Người Hà Lan phiêu bạt), WWV 63
- Der Freischütz (Nhà thiện xạ), J. 277
- Der hirt auf dem felsen, D. 965
- DEUSCHE GRAMMOPHON
- DI STEFANO, GIUSEPPE (TENOR, 1921-2008)
- Die Forelle (Con cá hồi), D.550
- Die Meistersinger von Nürnberg (Những nhạc sĩ xứ Nürnberg), WWV 96
- Die Walküre (Nữ chiến binh), WWV 86b
- Dietrich Fischer-Dieskau
- Dmitri Hvorostovsky
- DOHNANYI, CHRISTOPH VON (1929-2025)
- DOLUKHANOVA, ZARA (MEZZO-SOPRANO, 1918-2007)
- DOMINGO, PLACIDO (TENOR, 1941-)
- DONIZETTI, GAETANO (1797-1848)
- Donizetti: L’elisir d’amore (Rượu tình)
- Donizetti: Lucia Di Lammermoor
- Donizetti: Lucrezia Borgia
- DU PRE, JACQUELINE (1945-1987)
- DUPARC, HENRI (1848-1933)
- DVORAK, ANTONIN (1841-1904)
- Dvorak: Cello concerto giọng Si thứ
- Dvorak: Concerto piano
- Dvorak: Concerto violin giọng La thứ
- Dvorak: Giao hưởng số 7
- Dvorak: Giao hưởng số 8
- Dvorak: Giao hưởng số 9 “Từ thế giới mới”
- Dvorak: Ngũ tấu piano số 2
- Dvorak: Rusalka
- Dvorak: Serenade cho nhạc cụ hơi
- Dvorak: Serenade dành cho dàn dây giọng Mi trưởng, Op. 22, B. 52
- Đặng Thái Sơn – Âm nhạc nâng con người lên cao hơn
- Đặng Thái Sơn – danh cầm cô đơn
- ĐẶNG THÁI SƠN (1958-)
- Elektra, TrV. 223
- ELGAR, EDWARD (1857-1934)
- Elgar: Cello Concerto
- Elgar: Những biến tấu trên chủ đề gốc “Điều bí ẩn”
- Elgar: Salut D’Amour
- ELISABETH GRÜMMER (SOPERANO, 1911-1986)
- ENESCU, GEORGE (1881-1955)
- ETUDE
- Etude giọng Mi trưởng “Nỗi buồn” Op. 10 No. 3
- Euryanthe, J. 291
- Evgeny Mravinsky
- EZIO PINZA (BASS, 1892-1957)
- Falstaff
- Fantasía para un Gentilhombre
- FAURE, GABRIEL (1845-1924)
- Fauré: Dolly Suite
- Fauré: Dolly Suite (bài viết mới)
- Fauré: Sonata violin số 1
- Faust của Goethe qua cái nhìn của Berlioz, Gounod và Boito
- FERRAS, CHRISTIAN (1933-1982)
- FERRIER, KATHLEEN (CONTRALTO, 1912-1953)
- Fêtes Galantes (Những lễ hội tình tứ) I , L. 80
- FEUERMANN, EMANUEL (1902-1942)
- Fidelio – hiện thân trọn vẹn của Giao hưởng “Anh hùng”
- FISCHER-DIESKAU, DIETRICH (BARITONE, 1925-2012)
- FISCHER, ANNIE (1914-1995)
- five Signs You will be in Like
- FLAGSTAD, KRISTEN (SOPRANO, 1895-1962)
- FLEISHER, LEON (1928-2020)
- For what reason Get a Oriental Wife?
- FOURNIER, PIERRE (1906-1986)
- FRANCESCATTI, ZINO (1902-1991)
- FRANCK, CÉSAR (1822-1890)
- Franck: Giao hưởng giọng Rê thứ
- Franck: Sonata vilolin
- FRANCOIS, SAMSON (1924-1970)
- FRENI, MIRELLA (SOPRANO, 1935-2020)
- FURTWANGLER, WILHELM (1886-1952)
- GALLI-CURCI, AMELITA (SOPRANO, 1882-1963)
- GEDDA, NICOLAI (TENOR, 1925-2017)
- GERSHWIN, GEORGE (1898-1937)
- Gershwin: Rhapsody in Blue
- GHEORGHIU, ANGELA (SOPRANO, 1965-)
- GHIAUROV, NICOLAI (BASS, 1929-2004)
- Giao hưởng “Từ thế giới mới” và nguồn gốc gây tranh cãi
- GIAO HƯỞNG (SYMPHONY)
- Giao hưởng No. 1 giọng Rê trưởng
- Giao hưởng No. 2 giọng Đô thứ “Phục sinh”
- GIESEKING, WALTER (1895-1956)
- GIGLI, BENIAMINO (TENOR, 1890-1957)
- GILELS, EMIL (1916-1985)
- Giới thiệu
- GIORDANO, UMBERTO (1867-1948)
- Giordano: Andrea Chénier
- GITLIS, IVRY (1922-2020)
- GIULINI, CARLO MARIA (1914-2005)
- GLAZUNOV, ALEXANDER (1865-1936)
- Glazunov: Concerto violin
- Glenn Gould – thiên tài lập dị
- GLINKA, MIKHAIL (1804-1857)
- Glinka: Kamarinskaya
- Glinka: Ruslan và Lyudmila
- GLUCK, CHRISTOPH WILLIBALD (1714-1787)
- GOBBI, TITO (BARITONE, 1913-1984)
- Götterdämmerung (Hoàng hôn của những vị thần), WWV 86d
- GOULD, GLENN (1932-1982)
- GOUNOD, CHARLES (1818-1893)
- Gounod: Faust
- Gounod: Roméo et Juliette (Roméo và Juliette)
- GRIEG, EDVARD (1843-1907)
- Grieg: Concerto piano giọng La thứ, Op. 16
- Grieg: Sonata violin số 3
- Grieg: Tổ khúc Holberg
- GRUBEROVA, EDITA (SOPRANO, 1946-2021)
- GRUMINAUX, ARTHUR (1921-1986)
- GULDA, FRIEDRICH (1930-2000)
- Gustav Mahler là ai? (Hòa nhạc dành cho người trẻ)
- HAENDEL, IDA (1923-2020)
- HAHN, HILARY (1979-)
- HAITINK, BERNARD (1929-2021)
- HANDEL, GEORGE FRIDERIC (1685-1759)
- Handel: Âm nhạc cho lễ hội Pháo hoa hoàng gia giọng Rê trưởng, HWV. 351
- Handel: Messiah, HWV. 56
- HARRELL, LYNN (1944-2020)
- HASKIL, CLARA (1895-1960)
- Hãy thận trọng với điều bạn muốn
- HAYDN, JOSEPH (1732-1809)
- Haydn: Concerto cello số 1
- Haydn: Concerto trumpet
- Haydn: Giao hưởng số 100 “Quân đội”
- Haydn: Giao hưởng số 101 “Đồng hồ”
- Haydn: Giao hưởng số 45
- Haydn: Giao hưởng số 94 “Surprise”
- Haydn: Tứ tấu dây số 62 giọng Đô trưởng “Emperor”
- HEIFETZ, JASCHA (1901-1987)
- Herbert von Karajan
- HERLEA, NICOLAE (BARITONE, 1927-2018)
- HERSETH, ADOLPH (1921-2013)
- HINDEMITH, PAUL (1895-1963)
- HIRSCHHORN, PHILIPPE (1946-1996)
- Hồi ký Berlioz: Cái đẹp xé lòng (Hiền Trang)
- Hồi ký Berlioz: Lời bạt của David Cairns
- Hồi ký Berlioz: Lời cảm ơn
- Hồi ký Berlioz: Lời giới thiệu (David Cairns)
- Hồi ký Berlioz: Lời giới thiệu (Peter Bloom)
- Hồi ký Berlioz: Lời người biên tập (Nguyễn Ngọc Chi)
- Hồi ký Berlioz: Lời người hiệu đính (Cao Văn Bình)
- Hồi ký Berlioz: Những bình luận
- Hồi ức Massenet 1: Được nhận vào Nhạc viện
- Hồi ức Massenet 2: Những năm tháng tuổi trẻ
- Hồi ức Massenet 3: Giải thưởng lớn Rome
- Hồi ức Massenet 4: Biệt thự Médicis
- Hồi ức Massenet 5: Biệt thự Médicis
- Hồi ức Massenet 6: Biệt thự Médicis
- Hồi ức Massenet 7: Trở về Paris
- Hồi ức Massenet 8: Khởi đầu tại nhà hát
- Hồi ức Massenet 9: Những ngày hậu chiến
- Hồi ức Massenet 9+1: Niềm vui và nỗi đau
- Hồi ức Massenet 9+2: Khởi đầu tại Nhà hát Opéra
- Hồi ức Massenet 9+3: Các nhà hát ở Ý
- Hồi ức Massenet 9+4: Nhạc viện và Học viện
- Hồi ức Massenet 9+5: Một buổi ra mắt ở Bruxelles
- Hồi ức Massenet 9+6: Thầy dòng Prévost tại Nhà hát Opéra-Comique
- Hồi ức Massenet 9+7: Năm người cộng sự
- Hồi ức Massenet 9+8: Chuyến đi Đức
- Hồi ức Massenet 9+9: Một ngôi sao
- Hồi ức Massenet 9+9+1: Một cuộc sống mới
- Hồi ức Massenet 9+9+2: Milan-London-Bayreuth
- Hồi ức Massenet 9+9+3: Thăm Verdi – Giã từ Ambroise Thomas
- Hồi ức Massenet 9+9+4: Công việc!… Luôn là công việc
- Hồi ức Massenet 9+9+5: Giữa thời Trung cổ
- Hồi ức Massenet 9+9+6: Từ Chérubin đến Thérèse
- Hồi ức Massenet 9+9+7: Nói về năm 1793
- Hồi ức Massenet 9+9+8: Từ Ariane đến Don Quichotte
- Hồi ức Massenet 9+9+9: Một đêm diễn
- Hồi ức Massenet 9+9+9+1: Những cảm xúc thân thương
- Hồi ức Massenet 9+9+9+2: Tâm ý khi đã lìa trần
- HOLST, GUSTAV (1874-1934)
- HONEGGER, ARTHUR (1892-1955)
- HORNE, MARILYN (MEZZO-SOPRANO, 1934-)
- HOROWITZ, VLADIMIR (1903-1989)
- HOTTER, HANS (BASS-BARITONE, 1909-2003)
- How to Succeed in Going out with in High Society
- How you can Know If the Girl is normally Interested in You Through Text
- How you can Recognize the Signs The Relationship is Over
- HVOROSTOVSKY, DMITRI (BARITONE, 1962-2017)
- I Puritani (Những người Thanh giáo)
- Il Pirata (Tên cướp biển)
- Invitation to the Dance (Lời mời khiêu vũ), J. 260
- Islamey, Op. 18
- JANACEK, LEOS (1854-1928)
- Janos Starker – nghệ sĩ và người thầy cello
- JANSONS, MARISS (1943-2019)
- Jenůfa
- Joan Sutherland
- JOCHUM, EUGEN (1902-1987)
- Johann Christian Bach: nhà tiên phong của thời kỳ Cổ điển và người dìu dắt Mozart
- Jules Massenet: Diễn văn khánh thành tượng đài Berlioz tại Monte-Carlo
- KABAIVANSKA, RAINA (SOPRANO, 1934-)
- KAGAN, OLEG (1946-1990)
- KARAJAN, HERBERT VON (1908-1989)
- Karl Bohm
- KATCHEN, JULIUS (1926-1969)
- KEMPFF, WILHELM (1895-1991)
- KETELBEY, ALBERT (1875-1959)
- KHACHATURIAN, ARAM (1903-1978)
- Khachaturian: Concerto violin
- Khám phá Hector Berlioz
- Khi Salome còn nhảy múa
- KISSIN, EVGENY (1971-)
- KLEIBER, CARLOS (1930-2004)
- KLEMPERER, OTTO (1885-1973)
- KOGAN, LEONID (1924-1982)
- KONDRASHIN, KIRILL (1914-1981)
- KOUSSEVITZKY, SERGE (1874-1951)
- KRAUS, ALFREDO (TENOR, 1927-1999)
- KREISLER, FRITZ (1875-1962)
- KREMER, GIDON (1947-)
- KUBELIK, RAFAEL (1914-1996)
- La favorite (Ái phi)
- La Fille du Régiment (Người con gái của trung đoàn)
- La forza del destino (Sức mạnh của số phận)
- La Mer (Biển cả), L. 109
- LALO, ÉDOUARD (1823-1892)
- Lalo: Symphonie Espagnole
- LANG LANG (1982-)
- LAURI-VOLPI, GIACOMO (TENOR, 1892-1979)
- Légende (Truyền thuyết), Op. 17
- LEHAR, FRANZ (1870-1948)
- Lehar: Bà quả phụ vui vẻ
- LEHMANN, LOTTE (SOPRANO, 1888-1976)
- LEIPZIG GEWANDHAUS ORCHESTRA
- Leonard Bernstein – một biểu tượng văn hóa
- LEONCAVALLO, RUGGERO (1857-1919)
- Leopold Auer: Nghệ thuật bắt đầu ở nơi kỹ thuật kết thúc
- Les contes d’Hoffmann (Những câu chuyện của Hoffmann)
- LEVINE, JAMES (1943-2021)
- LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
- LIED
- Lieder, Op. 49
- LIGETI, GYORGY (1923-2006)
- LIPATTI, DINU (1917-1950)
- LISITSIAN, PAVEL (BARITONE, 1911-2004)
- LISZT, FRANZ (1811-1886)
- Liszt: Concerto piano số 1
- Liszt: Concerto piano số 2
- Liszt: Giao hưởng Faust
- Liszt: Hungarian Rhapsody No. 2
- Liszt: Les Préludes
- Liszt: Sonata piano
- LONDON PHILHARMONIC
- LONDON SYMPHONY ORCHESTRA
- LORENGAR, PILAR (SOPRANO, 1928-1996)
- LUCA, GIUSEPPE DE (BARITONE, 1876-1950)
- LUDWIG, CHRISTA (MEZZO-SOPRANO, 1928-2021)
- LULLABY (HÁT RU)
- LULLY, JEAN-BAPTISTE (1632-1687)
- LUPU, RADU (1945-2022)
- LUTOSLAWSKI, WILTOLD (1913-1994)
- Má vlast (Tổ quốc tôi)
- MA, YO-YO (1955-)
- MAAZEL, LORIN (1930-2014)
- Madama Butterfly
- MAHLER, GUSTAV (1860-1911)
- Mahler: Das Lied von der Erde (Bài ca trái đất)
- Mahler: Giao hưởng số 1
- Mahler: Giao hưởng số 2 “Phục sinh”
- Mahler: Giao hưởng số 4
- Mahler: Giao hưởng số 5
- Mahler: Giao hưởng số 6
- MAISKY, MISCHA (1948-)
- Manifesting Love — Signs You Are in Love
- Manon
- Manon Lescaut
- MARCH (HÀNH KHÚC)
- MASCAGNI, PIETRO (1863-1945)
- Mascagni: Cavalleria Rusticana (Hiệp sĩ làng quê)
- MASSENET, JULES (1842-1912)
- Massenet: Werther
- MASUR, KURT (1927-2015)
- MATSUEV, DENIS (1975-)
- Maurizio Pollini
- Maurizio Pollini – Tính táo bạo trong âm nhạc thời kỳ Cổ điển
- Mazeppa
- Mẹ của Gounod
- MELBA, NELLIE (SOPRANO, 1861-1931)
- MELCHIOR, LAURITZ (TENOR, 1890-1973)
- MELODIE
- MENDELSSOHN, FANNY (1805-1847)
- MENDELSSOHN, FELIX (1809-1847)
- Mendelssohn: A Midsummer Night’s Dream (Giấc mộng đêm hè), Op. 61
- Mendelssohn: Giao hưởng số 3
- Mendelssohn: Giao hưởng số 4
- Mendelssohn: Octet cho dàn dây
- Mendelssohn: Overture Hebrides
- Mendelssohn: Violin Concerto giọng Mi thứ, Op. 64
- MENUHIN, YEHUDI (1916-1999)
- MERRILL, ROBERT (BARITONE, 1917-2004)
- MESSIAEN, OLIVIER (1908-1992)
- Methods for Building a Long-lasting Relationship
- MICHELANGELI, ARTURO BENEDETTI (1920-1995)
- MILANOV, ZINKA (SOPRANO, 1906-1989)
- MILNES, SHERRILL (BARITONE, 1935-)
- MILSTEIN, NATHAN (1903-1992)
- Mitsuko Uchida: Chậm mới tốt
- MONTEVERDI, CLAUDIO (1567-1643)
- Montserrat Caballé: Cuộc đời và sự nghiệp
- Một câu chuyện tình yêu
- Mozart – vị Chúa âm nhạc của Tchaikovsky
- Mozart : Ngũ tấu cho oboe, clarinet, bassoon, horn và piano K. 452
- Mozart và cuộc sống
- MOZART, WOLFGANG AMADEUS (1756-1791)
- Mozart: Concerto cho flute, harp và dàn nhạc
- Mozart: Concerto clarinet
- Mozart: Concerto oboe giọng Đô trưởng, K. 314
- Mozart: Concerto piano số 16 giọng Rê trưởng, K. 451
- Mozart: Concerto piano số 20
- Mozart: Concerto piano số 21
- Mozart: Concerto piano số 22
- Mozart: Concerto piano số 23
- Mozart: Concerto piano số 27
- Mozart: Concerto violin số 5
- Mozart: Così fan tutte (Đàn bà là như thế)
- Mozart: Die Entführung aus dem Serail (Vụ trốn thoát khỏi hậu cung)
- Mozart: Die Zauberflöte (Cây sáo thần)
- Mozart: Don Giovanni
- Mozart: Exsultate, jubilate (bài viết cũ)
- Mozart: Exsultate, jubilate (bài viết mới)
- Mozart: Giao hưởng số 25
- Mozart: Giao hưởng số 39 giọng Mi giáng trưởng, K. 543
- Mozart: Giao hưởng số 40
- Mozart: Giao hưởng số 41
- Mozart: Idomeneo
- Mozart: La Clemenza di Tito (Lòng nhân từ của Tito)
- Mozart: Le nozze di Figaro (Đám cưới Figaro)
- Mozart: Requiem
- Mozart: Sinfonia concertante cho oboe, clarinet, bassoon và horn, K. 297b
- Mozart: Sinfonia concertante cho violin và viola, K. 364 (bài viết cũ)
- Mozart: Sinfonia concertante cho violin và viola, K. 364 (bài viết mới)
- Mozart: Sonata violin số 21 giọng Mi thứ, K.304
- MRAVINSKY, EVGENY (1903-1988)
- Mstislav Rostropovich – Shostakovich, Prokofiev, Britten và tôi
- Mstislav Rostropovich – Tôi quan tâm đến mọi người!
- MUNCH, CHARLES (1891-1968)
- MUSSORGSKY, MODEST (1839-1881)
- Mussorgsky: Boris Godunov
- Mussorgsky: Boris Godunov (bài viết mới)
- Mussorgsky: Con rối (romance dành cho các nhà phê bình)
- Mussorgsky: Những bức tranh trong phòng triển lãm
- Mussorgsky: Night on Bald Mountain
- Mussorgsky: Phòng của bé
- Mussorgsky: Songs and Dances of Death
- MUTI, RICCARDO (1941-)
- MUTTER, ANNE-SOPHIE (1963-)
- Nabucco (Vua Nebuchadnezzar)
- Nadezhda von Meck – nàng thơ vô hình của Tchaikovsky
- Năm nhà soạn nhạc yêu rượu vang
- NESTERENKO, EVGENY (BASS, 1938-2021)
- NETREBKO, ANNA (SOPRANO, 1971-)
- Nếu Mozart sống lâu hơn
- NEUHAUS, HEINRICH (1888-1964)
- NEVEU, GINETTE (1919-1949)
- NEW YORK PHILHARMONIC
- NEZHDANOVA, ANTONINA (SOPRANO, 1873-1950)
- Nghe lại Beethoven
- Nghệ sĩ
- Nhà soạn nhạc
- NHẠC THÍNH PHÒNG (CHAMBER MUSIC)
- Nhạc trưởng thực sự đóng vai trò gì?
- Nhaccodien.info phỏng vấn Greg Sandow – nhà phê bình âm nhạc của New York Times
- Nhờ Berlioz mà tôi biết đến Chopin
- NHÓM THUẬT NGỮ CHỈ CAO ĐỘ (PITCH)
- NHÓM THUẬT NGỮ CHỈ CƯỜNG ĐỘ (DYNAMICS)
- NHÓM THUẬT NGỮ CHỈ LOẠI GIỌNG HÁT
- NHÓM THUẬT NGỮ CHỈ TÊN NHẠC CỤ
- NHÓM THUẬT NGỮ CHỈ TỐC ĐỘ (TEMPO)
- NHÓM THUẬT NGỮ CHỈ TRƯỜNG ĐỘ (DURATION)
- Những buổi tối cùng Hector Berlioz
- Những nàng thơ hẳn đã thầm thì
- Những người yêu Berlioz: David Cairns
- Những người yêu Berlioz: Marina Lewycka
- Những người yêu Berlioz: Monir Tayeb và Michel Austin
- Những người yêu Berlioz: Roger Waters
- Những tác phẩm cho violin và piano của Dvorak
- Niên biểu Wagner
- NILSSON, BIRGIT (SOPRANO, 1918-2005)
- NOCTURNE
- Nocturne No. 20 giọng Đô thăng thứ
- Nơi khúc Polonaise vẫn vang lên
- Norma
- NORMAN, JESSYE (SOPRANO, 1945-2019)
- Oberon, or The Elf King’s Oath (Oberon hay Lời nguyền của chúa quỷ), J. 306
- OBRAZTSOVA, ELENA (MEZZO-SOPRANO, 1939-2015)
- OBUKHOVA, NADEZHDA (MEZZO-SOPRANO, 1886-1961)
- OFFENBACH, JACQUES (1819-1880)
- OGDON, JOHN (1937-1989)
- OISTRAKH, DAVID (1908-1974)
- OLIVERO, MAGDA (SOPRANO, 1910-2014)
- OPERA
- OPERA CÔNG NỮ ANIO – VỞ OPERA VIỆT NAM HAY NHẤT KỂ TỪ CÔ SAO
- OPERETTA
- ORATORIO (THANH XƯỚNG KỊCH)
- Orfeo ed Euridice (Orfeo và Euridice)
- ORMANDY, EUGENE (1899-1985)
- Otello
- Otto Klemperer
- OVERTURE
- Overture “Năm 1812”, giọng Mi giáng trưởng, Op. 49
- Overture “Romeo và Juliet”
- OZAWA, SEIJI (1935-2024)
- PAGANINI, NICCOLO (1782-1840)
- Paganini: Violin Concerto số 1
- Pagliacci (Những chú hề)
- Parsifal, WWV 111
- PAVAROTTI, LUCIANO (TENOR, 1935-2007)
- Pelléas và Mélisande – bốn chứng thư âm nhạc cho Maeterlinck
- PENDERECKI, KRZYSZTOF (1933-2020)
- PERAHIA, MURRAY (1947-)
- PERLMAN, ITZHAK (1945-)
- Peter Grimes, Op. 33
- PHILADELPHIA ORCHESTRA
- PHILHARMONIA ORCHESTRA
- Phỏng vấn soprano Sofia Savenko
- PIANO
- Piano Concerto – nhật ký cuộc đời Mozart
- PIATIGORSKY, GREGOR (1903-1976)
- PLETNEV, MIKHAIL (1957-)
- POLLINI, MAURIZIO (1942-2024)
- PONCE, MANUEL MARIA (1882-1948)
- PONCHIELLI, AMILCARE (1834-1886)
- Ponchielli: La Gioconda
- PONSELLE, ROSA (SOPRANO, 1897-1981)
- POPP, LUCIA (SOPRANO, 1939-1993)
- POULENC, FRANCIS (1899-1963)
- Precisely what is Uberhorny?
- PRELUDE
- PREY, HERMANN (BARITONE, 1929-1998)
- PRICE, LEONTYNE (SOPRANO, 1927-)
- PROKOFIEV, SERGEI (1891-1953)
- Prokofiev: Alexander Nevsky
- Prokofiev: Concerto piano số 1
- Prokofiev: Concerto piano số 2
- Prokofiev: Concerto piano số 3
- Prokofiev: Concerto violin số 1
- Prokofiev: Concerto violin số 2
- Prokofiev: Giao hưởng số 1 “Cổ điển”
- Prokofiev: Giao hưởng số 5
- Prokofiev: Giao hưởng số 7
- Prokofiev: Peter and The Wolf
- Prokofiev: Piano sonata số 7
- Prokofiev: Romeo and Juliet
- Prokofiev: War and Peace
- PUCCINI, GIACOMO (1858-1924)
- Puccini: La Bohème
- Puccini: La fanciulla del West (Cô gái miền Tây)
- Puccini: Tosca
- Puccini: Turandot
- RABIN, MICHAEL (1936-1972)
- RACHMANINOV, SERGEI (1873-1943)
- Rachmaninov: Cello sonata
- Rachmaninov: Concerto piano số 2
- Rachmaninov: Concerto piano số 3
- Rachmaninov: Giao hưởng số 2
- Rachmaninov: Rhapsody trên chủ đề Paganini
- Rachmaninov: Symphonic Dances
- Rachmaninov: Vocalise
- RAIMONDI, GIANNI (TENOR, 1923-2008)
- RAMEAU, JEAN-PHILIPPE (1683-1764)
- RAMPAL, JEAN–PIERRE (1922-2000)
- RATTLE, SIMON (1955-)
- RAVEL, MAURICE (1875-1937)
- Ravel: Boléro (bài viết cũ)
- Ravel: Boléro (bài viết mới)
- Ravel: Concerto piano cho tay trái
- Ravel: Concerto piano giọng Son trưởng
- Ravel: Gaspard de la nuit
- Ravel: La Valse
- Ravel: Những bức tranh trong phòng triển lãm (phiên bản dàn nhạc)
- Ravel: Tứ tấu đàn dây giọng Pha trưởng
- REINER, FRITZ (1888-1963)
- REPIN, VADIM (1971-)
- REQUIEM
- RESPIGHI, OTTORINO (1879-1936)
- Respighi: Những đài phun nước ở Rome
- Respighi: Những lễ hội La Mã
- Respighi: Pini di Roma (bài viết cũ)
- Respighi: Pini di Roma (bài viết mới)
- Richard Strauss: Don Quixote
- Richard Wagner ở Zürich
- RICHTER, SVIATOSLAV (1915-1997)
- RIMSKY-KORSAKOV, NIKOLAI (1844-1908)
- Rimsky-Korsakov: Scheherazade
- RODRIGO, JOAQUIN (1901-1999)
- ROMANCE
- ROSSINI, GIOACCHINO (1792-1868)
- Rossini: Con chim ác là ăn cắp
- Rossini: Guillaume Tell
- Rossini: Il Barbiere Di Siviglia
- Rossini: L’italiana in Algeri
- Rossini: La Cenerentola
- ROSTROPOVICH, MSTISLAV (1927-2007)
- ROYAL CONCERTGEBOUW ORCHESTRA
- ROZHDESTVENSKY, GENNADY (1931-2018)
- RUBINSTEIN, ARTHUR (1887-1982)
- RUFFO, TITTA (BARITONE, 1877-1953)
- RYSANEK, LEONIE (SOPRANO, 1926-1998)
- SAINT PETERSBURG PHILHARMONIC
- Saint-Saëns và Massenet: bạn bè hay đối thủ?
- Saint-Saëns viết phê bình
- SAINT-SAENS, CAMILLE (1835-1921)
- Saint-Saëns: Concerto cello số 1
- Saint-Saens: Danse macabre
- Saint-Saëns: Le Carnaval Des Animaux (bài viết mới)
- Saint-Saëns: Le Carnaval des Animaux (Lễ hội muông thú)
- Saint-Saëns: Samson et Dalila
- SALIERI, ANTONIO (1750-1825)
- Salome, TrV. 215
- SARASATE, PABLO DE (1844-1908)
- Sau 200 năm âm nhạc Chopin vẫn còn những bí ẩn
- SAWALLISCH, WOLFGANG (1923-2013)
- SCARLATTI, DOMENICO (1685-1757)
- Scarlatti: Các sonata cho đàn phím
- SCHIFF, HEINRICH (1951-2016)
- SCHIPA, TITO (TENOR, 1888-1965)
- SCHNABEL, ARTUR (1882-1951)
- SCHOENBERG, ARNOLD (1874-1951)
- SCHUBERT, FRANZ (1797-1828)
- Schubert: Fantasy Wanderer (Người lang thang)
- Schubert: Die schöne Müllerin
- Schubert: Fantasia giọng Pha thứ cho piano 4 tay
- Schubert: Giao hưởng số 5
- Schubert: Giao hưởng số 8 “Bỏ dở”
- Schubert: Giao hưởng số 9 “Lớn”
- Schubert: Impromptus
- Schubert: Moments Musicaux
- Schubert: Ngũ tấu đàn dây giọng Đô trưởng
- Schubert: Ngũ tấu piano “Cá hồi” (bài viết cũ)
- Schubert: Ngũ tấu piano “Cá hồi” (bài viết mới)
- Schubert: Sonata arpeggione
- Schubert: Sonata piano số 13
- Schubert: Sonata piano số 17 giọng Rê trưởng “Gasteiner”, Op. 53 (D. 850)
- Schubert: Sonata piano số 18
- Schubert: Sonata piano số 20
- Schubert: Sonata piano số 21
- Schubert: Tam tấu piano số 2
- Schubert: Tứ tấu dây số 14 “Der Tod und das Mädchen”
- Schubert: Winterreise (Hành trình mùa đông)
- SCHUMANN, CLARA (1819-1896)
- SCHUMANN, ROBERT (1810-1856)
- Schumann: Arabeske
- Schumann: Biến tấu “Abegg”
- Schumann: Carnaval, Op. 9
- Schumann: Concerto piano
- Schumann: Fantasie, Op. 17
- Schumann: Kinderszenen
- Schumann: Kreisleriana
- Schumann: Ngũ tấu piano
- Schumann: Symphonic Etudes
- Schumann: Tình yêu của thi sĩ
- SCHWARZKOPF, ELISABETH (1915-2006)
- SCOTTO, RENETA (SOPRANO, 1934-2023)
- SCRIABIN, ALEXANDER (1872-1915)
- Scriabin: Prometheus, Le Poème Du Feu
- Scriabin: The Poem of Ecstasy
- SEGOVIA, ANDRES (1893-1987)
- SERENADE
- SERKIN, RUDOLF (1903-1991)
- SHAFRAN, DANIIL (1923-1997)
- SHAHAM, GIL (1971-)
- Shostakovich – một chuẩn mực của sáng tạo nghệ thuật
- Shostakovich và các nàng thơ
- SHOSTAKOVICH, DMITRI (1906-1975)
- Shostakovich: Bài ca về những cánh rừng
- Shostakovich: Concerto cello số 1
- Shostakovich: Concerto piano số 1
- Shostakovich: Concerto violin số 1
- Shostakovich: Giao hưởng số 10
- Shostakovich: Giao hưởng số 11
- Shostakovich: Giao hưởng số 12
- Shostakovich: Giao hưởng số 5
- Shostakovich: Giao hưởng số 7
- Shostakovich: Phu nhân Macbeth quận Mtsensk
- Shostakovich: Tam tấu piano số 2
- Shostakovich: Tứ tấu dây số 11
- Shostakovich: Tứ tấu dây số 3
- Shostakovich: Tứ tấu dây số 6
- Shostakovich: Tứ tấu dây số 8
- Sibelius và Phần Lan là một
- SIBELIUS, JEAN (1865-1957)
- Sibelius: Concerto violin
- Sibelius: Finlandia
- Sibelius: Giao hưởng số 2
- Sibelius: Giao hưởng số 5
- Sibelius: Giao hưởng số 7
- Sie liebten sich beide (Hai người họ đã từng yêu nhau), Op. 13 No. 2
- Siegfried, WWV 86c
- SIEPI, CESARE (BASS, 1923-2010)
- SILLS, BEVERLY (SOPRANO, 1929-2007)
- SIMIONATO, GIULIETTA (MEZZO-SOPRANO, 1910-2010)
- SIMONEAU, LÉOPOLD (TENOR, 1916-2006)
- SITKOVETSKY, YULIAN (1925-1958)
- SMETANA, BEDRICH (1824-1884)
- Smetana: Má Vlast (Tổ quốc tôi)
- SOFRONITSKY, VLADIMIR (1901-1961)
- SOLTI, GEORG (1912-1997)
- SONATA
- Soprano Lucia Popp – “bông hồng bạc” của nhà hát opera
- SOR, FERNANDO (1778-1839)
- SOULIOSTIS, ELENE (SOPRANO, 1943-2004)
- Souvenir d’un lieu cher (Kỉ niệm về một nơi thân thương), Op. 42
- SOUZAY, GERARD (BARITONE, 1918-2004)
- STARKER, JANOS (1924-2013)
- STERN, ISAAC (1920-2001)
- STEVENS, RISE (MEZZO-SOPRANO, 1913-2013)
- STOKOWSKI, LEOPOLD (1882-1977)
- Stradivari và hành trình tìm kiếm tài hoa
- STRAUSS II, JOHANN (1825-1899)
- Strauss II: An der schönen, blauen Donau (Sông Danube xanh)
- Strauss II: Die Fledermaus
- Strauss II: Frühlingsstimmen
- STRAUSS, RICHARD (1864-1949)
- Strauss, Richard: Also sprach Zarathustra
- Strauss, Richard: Capriccio
- Strauss, Richard: Concerto horn số 1
- Strauss, Richard: Der Rosenkavalier (Kỵ sĩ hoa hồng)
- Strauss, Richard: Don Juan
- Strauss, Richard: Ein Heldenleben
- Strauss, Richard: Eine Alpensinfonie
- Strauss, Richard: Till Eulenspiegels lustige Streiche
- Strauss, Richard: Tod und Verklärung
- STRAVINSKY, IGOR (1882-1971)
- Stravinsky: Concerto violin
- Stravinsky: Lễ bái Xuân
- Stravinsky: Petrushka
- STRING QUARTET (TỨ TẤU ĐÀN DÂY)
- SUITE (TỔ KHÚC)
- SULTANOV, ALEXEI (1969-2005)
- SUPERVÍA, CONCHITA (MEZZO SOPRANO, 1895-1936)
- SUTHERLAND, JOAN (SOPRANO, 1926-2010)
- SVETLANOV, EVGENY (1928-2002)
- SZELL, GEORGE (1897-1970)
- SZERYING, HENRYK (1918-1988)
- SZIGETI, JOSEPH (1892-1973)
- SZYMANOWSKI, KAROL (1882-1937)
- TAKEMITSU, TORU (1930-1996)
- TALVELA, MARTTI (BASS, 1935-1989)
- TARREGA, FRANCISCO (1852-1909)
- Tchaikovsky và Brahms, đồng cảm và khác biệt
- TCHAIKOVSKY, PYOTR ILYICH (1840-1893)
- Tchaikovsky: Capriccio Italien
- Tchaikovsky: Con đầm pích
- Tchaikovsky: Concerto piano số 1
- Tchaikovsky: Concerto piano số 2
- Tchaikovsky: Concerto violin
- Tchaikovsky: Eugene Onegin
- Tchaikovsky: Francesca da Rimini
- Tchaikovsky: Giao hưởng “Manfred”
- Tchaikovsky: Giao hưởng số 1
- Tchaikovsky: Giao hưởng số 4 giọng Pha thứ, Op. 36
- Tchaikovsky: Giao hưởng số 5
- Tchaikovsky: Giao hưởng số 6
- Tchaikovsky: Kẹp hạt dẻ
- Tchaikovsky: Những biến tấu trên chủ đề Rococo
- Tchaikovsky: Romeo and Juliet
- Tchaikovsky: Serenade cho dàn dây
- Tchaikovsky: Souvenir De Florence
- Tchaikovsky: Swan Lake (bài viết mới)
- Tchaikovsky: Swan Lake (Hồ Thiên Nga)
- Tchaikovsky: Tam tấu piano
- Tchaikovsky: The Seasons (bài viết mới)
- Tchaikovsky: The seasons (Bốn mùa)
- TE KANAWA, KIRI (SOPRANO, 1944-)
- TEBALDI, RENATA (SOPRANO, 1922-2004)
- TEMIRKANOV, YURI (1938-2023)
- TETRAZZINI, LUISA (SOPRANO, 1871-1940)
- Thaïs
- The Planets (Những hành tinh), Op. 32
- The way to select the Right Adult Dating Sites
- The Young Person’s Guide to the Orchestra (Hướng dẫn về dàn nhạc cho người trẻ), Op. 34
- THƠ GIAO HƯỞNG (SYMPHONIC POEM)
- THỜI KÌ BAROQUE (1600-1700)
- THỜI KÌ HIỆN ĐẠI (1890-1975)
- THỜI KÌ PHỤC HƯNG (1400-1600)
- THỜI KÌ TIỀN CỔ ĐIỂN VÀ CỔ ĐIỂN (1730-1820)
- THỜI KÌ TRUNG CỔ (TRƯỚC THẾ KỈ THỨ 15)
- THỜI KỲ LÃNG MẠN (1820-1910)
- THOMAS, MICHAEL TILSON (1944-2026)
- Thư Beethoven gửi người yêu bất tử
- THUẬT NGỮ – THỂ LOẠI
- THUNEMANN, KLAUS (1937-2025)
- TIBBETT, LAWRENCER (BARITONE, 1896-1960)
- Tiểu sử Alfred Cortot
- Tiểu sử Artur Schnabel
- Tiểu sử Birgit Nilsson
- Tiểu sử Claudio Abbado
- Tiểu sử Claudio Arrau
- Tiểu sử Fritz Wunderlich
- Tiểu sử Glenn Gould
- Tiểu sử Jacqueline du Pré
- Tiểu sử Jussi Björling
- Tiểu sử Kirsten Flagstad
- Tiểu sử Leonid Kogan
- Tiểu sử Lorin Maazel
- Tiểu sử Mstislav Rostropovich
- Tiểu sử Nathan Milstein
- Tiểu sử Nicolai Gedda
- Tiểu sử Rafael Kubelík
- Tiểu sử Victoria de los Ángeles
- Tiểu sử Wilhelm Furtwängler
- Tiểu sử Wilhelm Kempff
- Tiểu sử Yehudi Menuhin
- Tiểu sử Zino Francescatti
- Tìm hiểu Shostakovich: Giao hưởng số 8
- Tin tức
- Tình ca Andalusia
- Tips on how to Hookup With Someone You’re Not Ready For
- TỔ CHỨC
- Tôi là Richard Strauss, nhà soạn nhạc của Rosenkavalier và Salome
- TOSCANINI, ARTURO (1867-1957)
- Totentanz, D. 126
- Từ trang sách lên sân khấu opera: trường hợp Manon
- UCHIDA, MITSUKO (1948-)
- Un ballo in maschera (Buổi khiêu vũ hóa trang)
- Valse giọng La giáng trưởng “Lời từ biệt” Op. 69 No. 1
- Van Cliburn – người chinh phục những trái tim Nga
- VARIATION (BIẾN TẤU)
- Về các thang âm lên dây đàn (temperament)
- VENGEROV, MAXIM (1974-)
- VERDI, GIUSEPPE (1813-1901)
- Verdi: Don Carlo
- Verdi: Ernani
- Verdi: Il trovatore (Người hát rong)
- Verdi: La Traviata (Trà hoa nữ)
- Verdi: Macbeth
- Verdi: Requiem
- Verdi: Rigoletto
- Verdi: Tứ tấu dây giọng Mi thứ
- VERRETT, SHIRLEY (MEZZO-SOPRANO, 1931-2010)
- Vì sao concertmaster luôn là một nghệ sĩ violin?
- VICKERS, JON (TENOR, 1926-2015)
- VIENNA PHILHARMONIC
- Vier letzte Lieder (Bốn khúc ca cuối cùng), TrV. 297
- VIEUXTEMPS, HENRI (1820-1881)
- Vieuxtemps: Concerto violin số 4
- VILLA-LOBOS, HEITOR (1887-1959)
- VIOLA
- VIOLIN
- Violin Concerto No. 1 giọng Son thứ, Op. 26
- VISHNEVSKAYA, GALINA (SOPRANO, 1926-2012)
- VIVALDI, ANTONIO (1678-1741)
- Vivaldi: Bốn mùa
- Vladimir Horowitz
- Wagner – Thiên thần hay ác quỷ?
- Wagner có gì không ổn?
- WAGNER, RICHARD (1813-1883)
- Wagner: Das Rheingold (Vàng sông Rhine)
- Wagner: Lohengrin
- Wagner: Siegfried Idyll, WWV 103
- Wagner: Tannhäuser
- Wagner: Tristan und Isolde
- WALTER, BRUNO (1876-1962)
- WARREN, LEONARD (BARITONE, 1911-1960)
- Water Music (Nhạc nước)
- WEBER, CARL MARIA VON (1786-1826)
- Weber: Concerto bassoon
- Weber: Concerto clarinet số 1
- Weber: Der Freischütz
- WEISSENBERG, ALEXIS (1929-2012)
- WIENIAWSKI, HENRYK (1835-1880)
- Wieniawski: Concerto violin số 2
- WILD, EARL (1915-2010)
- Wilhelm Furtwängler: thiên tài được tôi rèn qua vạc lửa chiến tranh
- WUNDERLICH, FRITZ (TENOR, 1930-1966)
- YUDINA, MARIA (1899-1970)
- ZEANI, VIRGINIA (SOPRANO, 1925-2023)
- ZIMERMAN, KRYSTIAN (1956-)





