Thông tin chung
Tác giả: Edward Elgar.
Tác phẩm: Những biến tấu trên chủ đề gốc “Điều bí ẩn”, Op. 36
Thời gian sáng tác: Tháng 10/1898 – tháng 2/1899.
Công diễn lần đầu: Ngày 19/6/1899 tại Saint James’s Hall, London dưới sự chỉ huy của Hans Richter.
Độ dài: Khoảng 33 phút.
Đề tặng: Cho những người bạn của tôi được hình dung ra trong đó.
Cấu trúc tác phẩm:
Tác phẩm gồm một chủ đề và 14 biến tấu.
Chủ đề (Enigma: Andante)
Biến tấu I (L’istesso tempo) “C.A.E.”
Biến tấu II (Allegro) “H.D.S-P.”
Biến tấu III (Allegretto) “R.B.T.”
Biến tấu IV (Allegro di molto) “W.M.B.”
Biến tấu V (Moderato) “R.P.A.”
Biến tấu VI (Andantino) “Ysobel”
Biến tấu VII (Presto) “Troyte”
Biến tấu VIII (Allegretto) “W.N.”
Biến tấu IX (Adagio) “Nimrod”
Biến tấu X (Intermezzo: Allegretto) “Dorabella”
Biến tấu XI (Allegro di molto) “G.R.S.”
Biến tấu XII (Andante) “B.G.N.”
Biến tấu XIII (Romanza: Moderato) “* * *”
Biến tấu (Finale: Allegro) “E.D.U.”
Thành phần dàn nhạc: 2 flute (flute 2 kiêm piccolo), 2 oboe, 2 clarinet, 2 bassoon, contrabassoon, 4 horn, 3 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, snare drum, bass drum, triangle, cymbals, organ (có thể có hoặc không) và dàn dây.
Hoàn cảnh sáng tác
Vào buổi tối ngày 21/10/1898, Elgar sau một ngày dài dạy violin, trở về nhà và ngồi vào piano, dạo những giai điệu ngẫu hứng cho người vợ yêu quý Alice đang ngồi cạnh đó. Bỗng nhiên, Alice thốt lên: “Đó là một giai điệu hay”. Elgar giật mình: “Ồ, giai điệu, giai điệu nào cơ?”. Alice bảo: “Anh chơi lại đi, em thích giai điệu đó. Đó là gì vậy?”. Elgar trả lời vợ: “Không có gì. Nhưng có thể có một cái gì đó sẽ được tạo ra từ đó”. Elgar tiếp tục giúp vợ tiêu khiển bằng cách khúc xạ giai điệu đó thông qua lăng kính của một số bạn bè họ. Với sự khởi đầu một cách đầy ngẫu nhiên như vậy, Elgar đã tạo ra một tác phẩm sẽ khẳng định danh tiếng của ông với tư cách một nhà soạn nhạc, Những biến tấu trên chủ đề gốc hay còn gọi là Biến tấu “Điều bí ẩn”.
Chỉ ba ngày sau, Elgar đã viết thư cho người bạn của mình là August Jaeger về tác phẩm mới: “Tôi đã phác thảo một tập hợp các biến tấu theo một chủ đề gốc: Tôi thích thú với các biến tấu này vì tôi đã gắn chúng với biệt danh cho những người bạn cụ thể của tôi – anh là Nimrod”. Sau khi hoàn thành bản nhạc vào ngày 19/2/1899, Elgar đã gửi nó cho Nicholas Vert và Vert lại tiếp tục giao nó cho Hans Richter. Richter rất hào hứng với tác phẩm và đã tiến hành buổi ra mắt thành công tại London vào ngày 19/6/1899. Tác phẩm nhanh chóng được biểu diễn trên khắp thế giới: Rimsky-Korsakov đã nghe nó ở Saint Petersburg và đánh giá rất cao; Mahler cũng chỉ huy tác phẩm ở New York.
Tuy nhiên, ngay trước buổi biểu diễn đầu tiên, Elgar đã đặt nền móng cho nhiều thế hệ suy đoán về ý nghĩa của tác phẩm này khi ông viết một bức thư thần bí gửi cho người chú giải chương trình cho buổi ra mắt, C.A. Barry: “Bí ẩn tôi sẽ không giải thích – “lời nói đen tối” của nó phải để không đoán được… Hơn nữa, xuyên suốt và bao phủ toàn bộ là một chủ đề khác lớn hơn “đi” nhưng đã không được chơi”. Elgar có thể đã không “giải thích” “lời nói đen tối”, nhưng ông đã che đậy những ám chỉ về “Enigma” (Điều bí ẩn) trong suốt phần đời còn lại của mình. Điều thú vị là từ “Enigma” chỉ xuất hiện một lần trong bản thảo, phía trên chủ đề và từ này có trong chữ viết tay của Jaeger chứ không phải của nhà soạn nhạc. “Enigma” khiến mọi người vô cùng tò mò và hàng loạt giả thuyết xảy ra sau đó, thậm chí đã từng có những cuộc thi đoán để hi vọng có người giải thích được “Enigma” này. Tuy nhiên, chưa có ý tưởng nào thực sự thuyết phục. Và bất chấp việc “Enigma” chưa được giải đáp, tác phẩm này chắc chắn là một những tác phẩm xuất sắc nhất của Elgar, đã tạo dựng vị thế cho ông trở thành một nhà soạn nhạc hàng đầu của nước Anh thời kỳ đó.
Phân tích
Biến tấu “Enigma” bao gồm một chủ đề chính và 14 biến tấu. Cao trào xuất hiện ở biến tấu thứ 9 và biến tấu cuối cùng là một phần kết được mở rộng. Trên thực tế, phiên bản được Richter chỉ huy ra mắt chưa phải là phiên bản cuối cùng. Jaeger đã thuyết phục Elgar kéo dài thêm biến tấu cuối cùng và Elgar đã thêm vào 100 ô nhịp, bao gồm cả phần dành cho organ. Phiên bản cuối cùng này lần đầu được công diễn tại Worcester vào ngày 13/9/1899 dưới sự chỉ huy của chính tác giả. Tên, tên viết tắt hoặc biệt danh của nhân vật mà Elgar định giới thiệu được ông ghi trong tổng phổ. Nhà soạn nhạc đã phác hoạ chân dung họ bằng một đặc điểm hoặc liên quan đến một điều cụ thể, ví dụ như tiếng cười, thói quen hoặc một kỷ niệm đáng nhớ.
Phần giới thiệu chủ đề bao gồm 17 ô nhịp, dàn dây giới thiệu chủ đề chính u sầu, được Elgar giải thích “cảm giác của tôi về sự cô đơn của người nghệ sĩ”. Có lẽ bản thân Elgar được phác hoạ trong chính chủ đề này khi thỉnh thoảng ông lấy một vài ô nhịp đầu tiên là chữ ký trong các bức thư gửi cho bạn bè. Phần giới thiệu này có cấu trúc đơn giản theo dạng 3 đoạn ABA.
Biến tấu I “C.A.E.” được chơi không có khoảng dừng (attaca) ngay sau đó là một lời Elgar tri ân dành cho người vợ thân yêu của mình Caroline Alice Elgar. Oboe và bassoon chơi motif bốn nốt nhạc mà Elgar thường huýt sáo khi trở về nhà.
Biến tấu II “H.D.S-P.” là nghệ sĩ piano Hew David Steuart-Powell thường chơi hoà tấu thính phòng với Elgar. Biến tấu có hình dáng giống một toccata.
Biến tấu III “R.B.T.” Richard Baxter Townshend là một nghệ sĩ kịch nghiệp dư, người có khả năng biến đổi giọng nói từ âm vực trầm đến giọng soprano cao nhất. Townshend hay đi xe đạp với tiếng chuông xe luôn kêu vang. Tiếng gảy dây violin và kèn gỗ được Elgar sử dụng để miêu tả tiếng chuông xe đạp này.
Biến tấu IV “W.M.B.” William Meath Baker, cảnh sát trưởng của Hatsfield và là anh rể của Townshend trong biến tấu III. Đây là biến tấu ngắn nhất trong toàn bộ tác phẩm, kết thúc với một tiếng đập mạnh.
Biến tấu V “R.P.A.” Richard Penrose Arnold là người con trai yêu âm nhạc của nhà thơ Matthew Arnold. Richard là một nghệ sĩ piano nghiệp dư. Dàn dây chơi một trong những giai điệu rộng rãi và truyền cảm hứng nhất của Elgar, thể hiện tâm hồn cao thượng và phong cách chơi nhạc sâu sắc của Richard.
Biến tấu VI “Ysobel” Isabel Fitton là một người phụ nữ xinh đẹp, theo học viola với Elgar. Cây đàn viola là nhạc cụ chính yếu xuất hiện trong biến tấu này, thể hiện những bài học giữa hai người.
Biến tấu VII “Troyte”Arthur Troyte Griffith, một trong người bạn thân nhất của Elgar. Troyte là một kiến trúc sư. Âm nhạc thể hiện chuyến đi chơi của hai người và gặp phải một cơn bão. Âm nhạc bão táp với tiếng timpani như những tiếng sấm.
Biến tấu VIII “W.N.” Winifred Norbury là một nhà bảo trợ nghệ thuật sống trong một ngôi nhà có từ thế kỷ 18. Âm nhạc mang không khí điền viên về ngôi nhà làng quê này với tiếng kèn gỗ miêu tả những tiếng cười khúc khích. Khi biến tấu sắp kết thúc, Elgar đã đưa ra một trong những hoà thanh ấn tượng nhất trong “Enigma”. Những hợp âm Son trưởng cuối cùng mất đi chỉ còn lại bè violin 1 giữ nốt Son để rồi khi những bè dây khác xuất hiện trở lại, hợp âm trượt xuống Mi giáng trưởng và một thế giới mới mở ra.
Biến tấu IX “Nimrod” có lẽ là biến tấu nổi tiếng và được yêu thích nhất trong tác phẩm. Nimrod là “thợ săn dũng mãnh” được đề cập trong Sáng thế ký 10 và “Jaeger” trong tiếng Đức có nghĩa là thợ săn. August Jaeger là người bạn tâm giao của Elgar trong âm nhạc. Ông đã động viên Elgar rất nhiều, giúp đỡ Elgar vượt qua những giai đoạn khó khăn trong cuộc đời. Biến tấu “Nimrod” này là hồi ức thú vị của Elgar về một buổi nói chuyện dài với Jaeger vào một tối mùa hè. Trong đó, Jaeger hùng hồn về sự hùng vĩ trong âm nhạc của Beethoven, đặc biệt là những chương chậm. “Nimrod” thường xuyên được sử dụng trong các lễ tang, lễ kỉ niệm và các dịp trọng thể khác tại Anh.
Biến tấu X “Dorabella” Dora Penny là cháu gái của Baker (biến tấu IV) được Elgar đặt cho biệt danh Dorabella, theo tên một nhân vật trong vở opera Così fan tutte của Mozart. Tiếng kèn gỗ nhại lại tật nói lắp của cô bé. Khúc intermezzo hấp dẫn này là một điệu nhảy quyến rũ, miêu tả tính thích khiêu vũ của Dorabella.
Biến tấu XI “G.R.S.” George Robinson Sinclair là một nghệ sĩ organ tài ba của nhà thờ Hereford. Ông sở hữu một chú chó chăn bò hoạt bát tên Dan, luôn nghịch ngợm khiến Elgar thích thú và được truyền cảm hứng. Âm nhạc miêu tả Dan nhiều hơn. Chú chó ngã xuống sông Wye, vội vã bơi vào bờ và cuối cùng thoát nạn với “một tiếng sủa vui mừng”.
Biến tấu XII “B.G.N.” là nghệ sĩ cello nghiệp dư Basil George Nevinson tài năng. Elgar cùng ông và Steuart-Powell (biến tấu II) thường chơi tam tấu với nhau. Biến tấu bắt đầu và kết thúc một đoạn độc tấu ai oán trên cello, tiếp nối vào biến tấu sau đó không ngừng nghỉ.
Biến tấu XIII “* * *” được lấy cảm hứng từ Lady Mary Lygon. Mùa xuân năm 1899, cô lên đường tới Úc cùng vơi anh trai mình, người sẽ trở thành thống đốc bang New South Wales. Tiếng trống nhẹ nhàng vang lên, gợi ý về tiếng của động cơ tàu. Trên đó, clarinet chơi một giai điệu từ overture “Biển êm đềm và chuyến đi thuận lợi” (Meeresstille und glückliche Fahrt) của Mendelssohn. Biến tấu truyền tải một nỗi niềm nhớ nhung da diết một ai đó ở phương xa. Có một lời giải thích khác về * * * là Helen Weaver, người đã phá bỏ hôn ước với Elgar để lên đường tới New Zealand vào năm 1884.
Biến tấu XIV “E.D.U.” Edu chính là tên gọi trìu mến của Alice dành cho chồng mình. Trong biến tấu cuối cùng này, giai điệu của biến tấu I (Alice), biến tấu IX (Nimrod) đều trở lại đưa tác phẩm đến một cái kết nồng nhiệt.
Dù chính Elgar đã gợi ý và khuyến khích suy đoán về bí ẩn âm nhạc, một giai điệu phổ biến không tự nó xuất hiện trong các biến tấu mà chủ đề là đối âm. Tất nhiên có thể đây là một trong những lời nói đùa của Elgar và giai điệu này không tồn tại. Nếu đúng như vậy, nó đã trở thành một trò đùa thành công ngoạn mục, được thực hiện trong thời gian dài và gây ra một cuộc tranh luận sôi nổi cho đến tận ngày nay. Bí ẩn này có lẽ không bao giờ có thể được giải đáp thỏa đáng, vì Elgar đã không tiết lộ điều này cho bất cứ ai và mang theo câu trả lời xuống mồ. Bất chấp việc có hay không có bí ẩn nào xung quanh Biến tấu “Enigma”, đây chắc chắn vẫn là một tác phẩm xuất sắc và quan trọng trong sự nghiệp của Elgar, đưa tên tuổi ông trở thành một trong những nhà soạn nhạc Anh vĩ đại nhất mọi thời đại.
Ngọc Tú tổng hợp



