Thông tin chung
Tác giả: Antonín Dvořák.
Tác phẩm: Ngũ tấu piano số 2 giọng La trưởng, Op. 81, B. 155
Thời gian sáng tác: Từ tháng 8 đến tháng 10/1887.
Công diễn lần đầu: Ngày 6/1/1888 tại Prague.
Đề tặng: Tác phẩm được đề tặng Bohdan Neureuther, một giáo sư đại học đồng thời cũng là nhà bảo trợ hàng đầu cho các nhà soạn nhạc trẻ thời kỳ đó.
Độ dài: khoảng 40 phút.
Cấu trúc tác phẩm: Tác phẩm có 4 chương
Chương I – Allegro ma non tanto (La trưởng)
Chương II – Dumka. Andante con moto (Pha thăng thứ)
Chương III – Scherzo (Furiant). Molto vivace (La trưởng – Rê trưởng)
Chương IV – Finale. Allegro (La trưởng)
Hoàn cảnh sáng tác
Ngày 16/8/1887, trong một bức thư gửi cho người bạn thân Alois Göbl, Dvořák viết: “… bây giờ tôi không làm gì mới cả”. Điều này là khá bất thường bởi Dvořák thường trao đổi với bạn mình một cách hào hứng về những ý tưởng mới hay các tác phẩm được hoàn thành trước đó. Vào thời điểm này, Dvořák đã là một trong những nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất châu Âu. Ông gây tiếng vang rất lớn với bản Giao hưởng số 7 (4/1885), chuẩn bị tạo nên một cơn địa chấn còn lớn hơn thế với bản Giao hưởng số 8 (2/1890) và tạo dựng được phong cách đặc trưng của riêng mình. Có lẽ với bất cứ nhà soạn nhạc nào, một chút khoảng lặng là rất cần thiết sau những màn tung hô của khán giả. Khoảng thời gian vào dịp Dvořák viết thư cho Göbl, ông đang có kế hoạch sửa chữa lại bản Ngũ tấu piano, Op. 5 được sáng tác vào 15 năm trước đó. Dvořák từng thất vọng với tác phẩm này đến nỗi ông không lưu trữ tổng phổ của nó mà phải nhờ đến bản sao của một người bạn. Tuy nhiên, những nỗ lực nhằm cải thiện bản nhạc không mang lại hiệu quả. Nhưng thay vào đó, chỉ hai ngày sau bức thư trên, những phác thảo đầu tiên của một bản ngũ tấu piano mới, cũng ở giọng La trưởng đã bắt đầu được hình thành. Đó là hai điểm chung duy nhất của chúng. Còn về mặt nội dung, bản số hai này đã trở thành một trong những viên ngọc quý báu nhất của kho tàng âm nhạc thính phòng, sở hữu tất cả những gì tinh tuý nhất ở Dvořák: kết cấu rõ ràng, tràn đầy sức sống, âm nhạc hài hoà, sở hữu hơi thở mộc mạc của đời sống làng quê với giai điệu đẹp vô ngần.
Trong vòng chưa đầy hai tháng (18/8/1887-8/10/1887) tại ngôi nhà của mình tại làng Vysoká, Dvořák đã hoàn thành bản Ngũ tấu piano số 2. Có vẻ như bầu không khí bình dị của môi trường này đã được thể hiện vào chính bản nhạc: đây là một tác phẩm thanh bình tỏa ra sự lạc quan bao trùm và được phát triển thành niềm vui hân hoan. Bản ngũ tấu được đưa ra trình diễn lần đầu vào ngày 6/1/1888 tại Rudolfinum, Prague với sự tham gia của những nhạc công hàng đầu Czech thời điểm đó. Ngay lập tức tác phẩm đã giành được thiện cảm của tất cả mọi người. Josef Bohuslav Foerster đã miêu tả trên Národní listy: “Đây là một tác phẩm có giá trị hiếm có, sáng tạo trong chất liệu chủ đề và chiều sâu ấn tượng trong cách xử lý. Chúng ta không thể thể hiện sự ưu tiên cho bất kỳ chương nhạc nào, vì Allegro ấm áp và Dumka đầy chất thơ cũng như Furiant nhiệt huyết và Finale biến ảo, vui tươi. Tác phẩm này gói gọn những gì chúng ta mong đợi từ Dvořák: âm nhạc tuyệt vời và nhiều hiệu ứng nhạc cụ hấp dẫn, độc đáo”. Khoảng một tháng sau buổi ra mắt, Tchaikovsky ghé thăm Prague và tham dự một buổi hoà nhạc. Pyotr Ilyich Tchaikovsky ghi lại trong nhật ký: “Họ đã chơi tứ tấu của Smetana và Kovařovic và bản ngũ tấu của Dvořák. Tôi thấy người sau rất dễ mến và tôi rất thích bản ngũ tấu của ông ấy”. Ngay lập tức, tác phẩm này đã được biểu diễn trên khắp châu Âu và trở thành một trong những bản nhạc được chơi nhiều nhất của Dvořák.
Phân tích
Chương I
Nét đặc trưng của chương I (và ở một phạm vi nhỏ hơn ở chương II và III) là kiểu dáng mà những ý tưởng của chủ đề đầu tiên được thay đổi – một cách thường xuyên – lại phù hợp với những khung cảnh khác nhau. Có thể lấy ngay ví dụ, hình thức cơ bản của chủ đề một bắt đầu được vang lên bằng cây đàn cello dưới sự bao bọc nhẹ nhàng của piano, một chủ đề trầm buồn, sâu lắng, trữ tình nhưng dứt khoát, và ngay lập tức trở nên sôi nổi, mạnh mẽ khi có sự xuất hiện của những nhạc cụ khác (âm nhạc được mở rộng từ quãng 4 tăng thành quãng 8) và chỉ trở lại chất trữ tình xa xăm sau khi cả 5 nhạc cụ cùng hòa tấu. Còn ở chủ đề hai, giai điệu được vang lên trên những nét lướt lấp lánh của cây đàn viola. Những chủ đề đối chọi nhau được lan rộng rồi hoà hợp trở lại. Và rồi tất cả được tóm tắt lại bằng những biến tấu rất khéo léo trong cách xử lý, cấu thành bằng cách rút ngắn phần mở đầu trong một coda tưng bừng.
Chương II
Chương II chậm ở giọng Pha thăng thứ theo phong cách Dumka, điều mà Dvořák thường dùng để tạo sự khác biệt mà điển hình là sự chia đoạn một cách rất tự nhiên và bất ngờ thay đổi nhịp điệu. Chương này có hình thức rondo (ABACABA). “A” là một chủ đề buồn trên đàn dây với giai điệu khác một quãng 8 so với piano, được bố trí trên những câu nhạc đầy khao khát của nhạc cụ này, được tiếp thêm sức mạnh từ chủ đề “C” (Vivace); “B” (Un pochettino più mosso) là những giai điệu đẹp được hai violin song tấu trên phần đệm pizzicato say đắm của viola và cello. Đây là trung tâm trữ tình của tác phẩm.
Chương III
Dù rằng Dvořák đã viết trong phần tiêu đề, nhưng chương III Scherzo không hẳn là một Furiant (một điệu nhảy của đất nước Czech) thực sự (vì phải có sự tương phản của nhịp 2/4 và 3/4) mà giống với một bản waltz nhanh – theo phong cách của Schubert. Lại một lần nữa, chủ đề được trình bày liên tục rất thú vị trên từng cây đàn. Phần Trio bao gồm một chuỗi các hợp âm nhẹ nhàng được tô điểm và xen kẽ với các tham chiếu mơ mộng tới giai điệu chính của phần Scherzo. Toàn bộ chương nhạc toát lên một niềm vui nhẹ nhàng với sự duyên dáng tao nhã.
Chương IV
Chương IV, là một sonata-rondo sôi nổi, với sự mở đầu ngắn gọn được nối tiếp bằng sự đỏm dáng trên những nốt móc kép tạo nên sự cân bằng giữa các phần. Một thành công đặc biệt là nét lướt fugato căng thẳng được violin 2 dẫn dắt trong phần phát triển của chương. Âm nhạc của chương trở nên trầm tĩnh hơn như để mọi người lấy lại cân bằng trước khi năm nhạc cụ bay bướm, bừng sáng với những nét chấm phá ngũ cung dẫn tới một trong những coda rực rỡ nhất của Dvořák, kết thúc với niềm phấn khởi, hân hoan vô bờ bến.
Không nhiều bản piano ngũ tấu có thể sánh bằng tác phẩm này của Dvořák về sự mĩ lệ của nó. Khả năng sử dụng màu sắc biến ảo của các nhạc cụ, tạo nên một kết cầu hài hoà và bền chắc, tràn đầy không khí làng quê mộc mạc và vui tươi nhưng được chế tác một cách tinh xảo đã biến Ngũ tấu piano số 2 này sở hữu một vẻ đẹp tự nhiên thuần khiết, tráng lệ, tươi sáng và đạt tới sự cân bằng tuyệt đối.
Cobeo



