CHƯƠNG XXIV – TỪ CHÉRUBIN ĐẾN THÉRÈSE
Tôi tình cờ xem một vở kịch ba hồi được trình diễn tại Nhà hát Pháp với một phong cách hoàn toàn mới khiến tôi vô cùng thích thú. Đó là Chérubin của Francis de Croisset.
Hai ngày sau tôi đến nhà tác giả, người có tài năng vẫn tiếp tục tự khẳng định kể từ khi được chú ý và đánh giá cao, để đề nghị cộng tác.
Tôi nhớ đó là một ngày mưa, khi cùng quay trờ về qua đại lộ Champs-Élysées sau lễ khánh thành tượng Alphonse Daudet, chúng tôi đã thiết lập được các điều khoản thỏa thuận.
Nhan đề, bối cảnh, tiến trình kịch, mọi thứ trong vở Chérubin tuyệt diệu này đều quyến rũ tôi.
Tôi soạn nhạc cho vở này ở Égreville.
Khi nhắc đến tên thành phố nhỏ thân yêu này, ốc đảo yên bình và tĩnh lặng hoàn hảo ở tỉnh Seine-et-Marne tươi dẹp – các con thân yêu ơi, các con cũng biết đây là nơi ở cũ của ông bà các con– suy nghĩ của cha ngay lập tức hướng về những kỷ niệm phát xuất từ nơi ấy, những kỷ niệm mà các con sẽ muốn lưu giữ khi chúng ta không còn ở đó nữa…
Những cái cây sẽ nhắc nhở các con rằng ông bà các con, những người yêu thương các con biết bao, đã tự tay nắn chỉnh nhánh cành để chúng tỏa bóng che nắng và mang đến cho các con hơi mát dịu ngọt trong những mùa hè oi ả.
Vui biết bao khi bọn ta thấy những cây này lớn lên! Bọn ta đã nghĩ nhiều đến các bạn và ngưỡng mộ sự phát triển chậm rãi mà quý giá của các bạn!
Nếu các con muốn tôn trọng chúng thì đừng cho phép lưỡi rìu chặt hạ chúng! Dường như những vết thương mà các con gây ra cho chúng sẽ khiến ông bà cha mẹ đau đớn ngay cả khi đã ở thế giới bên kia và các con sẽ không muốn điều đó đâu!…
…
Thân vương điện hạ Monaco, sau khi hay tin Chérubin đã được chuyển thể thành nhạc kịch, đồng thời nhớ đến Người làm trò tung hứng của Đức Bà, vở opéra mà ngài đã đón nhận thật tuyệt diệu và tôi đã kính tặng ngài, đã qua Raoul Gunsbourg đề nghị tôi cho công diễn lần đầu Chérubin ở Monte-Carlo. Không khó hình dung việc tôi nhiệt tình đón nhận lời đề nghị này thế nào. Vậy nên vợ chồng tôi đã có mặt ở xứ sở lý tưởng này và trong cung điện thần tiên này, nơi chúng tôi đã lưu giữ những kỷ niệm bất hủ đến vậy.
Nghệ sĩ vào vai Chérubin là Mary Garden, còn vai Nina dịu dàng do Marguerite Carré đảm nhận, – vào vai Ensoleillad đầy mê hoặc là Cavalieri, – còn vai triết gia do Maurice Renaud đảm nhận.
Đó quả là một màn trình diễn tuyệt diệu. Đêm diễn kéo dài bằng những tiếng hoan hô và kêu đòi hát lại liên tục dành cho các nghệ sĩ; khán giả thực sự đã bao bọc họ trong một bầu không khí cuồng nhiệt nhất.
Ở lại cung điện, với chúng tôi nghĩa là một loạt những điều mê hoặc khôn tả mà chúng tôi lại được trải nghiệm lần nữa khi làm khách của vị thân vương của khoa học với tâm hồn cao đẹp đến vậy.
Trong khi đó Henri Cain, người từng là cộng sự của tôi ở vở Chérubin cùng với Francis de Croisset, đã khiến tôi thích thú khi mời tôi viết nhạc cho Ve sầu [Cigale], vở ballet một màn hay và đẹp như tranh.
Nhà hát Opéra-Comique trình diễn vở này vào ngày 4 tháng 2 năm 1904. Cô Chasle đáng yêu và tài năng là nàng Ve Sầu của chúng tôi, còn Messmaecker, từ Nhà hát Opéra-Comique, vào vai Bà Kiến một cách vui nhộn!
Trong số những người có mặt tại các buổi diễn tập Ve Sầu, chắc chắn tôi là người thấy thích thú nhất. Vào cuối vở có một cảnh rất cảm động và thi vị vô ngần: cảnh một thiên thần hiện ra và cất tiếng hát từ xa. Giọng hát thiên thần đó là của cô Guiraudon, hiện giờ là bà Henri Cain.
Một năm sau, như tôi đã kể, vào ngày 14 tháng 2 năm 1905, Chérubin được trình diễn tại nhà hát của thân vương tại Monte-Carlo, và vào ngày 23 tháng 5 tiếp theo, mùa diễn của Nhà hát Opéra-Comique ở Paris khép lại bằng vở này. Khi được trình diễn ở Paris, thay đổi duy nhất trong dàn diễn viên là vai triết gia được giao cho Lucien Fugère, người đã bổ sung một thành công mới vào rất nhiều vai thành công khác mà mình đã đạt được, và vai Ensoleillad được giao cho bà Vallandri quyến rũ.
…
Các con thân yêu ơi, có lẽ các con sẽ nhận thấy cha vẫn chưa kể cho các con bất cứ điều gì về Ariane, tác phẩm mà các con đã trông thấy các trang nhạc ở Égreville trong nhiều mùa hè. Lý do là cha không bao giờ nói về một tác phẩm cho đến khi nó được hoàn thiện và in ấn xong xuôi. Cha vẫn chưa kể gì về Ariane, cũng như về Roma, tác phẩm mà cha đã soạn các cảnh đầu vào năm 1902, trong niềm phấn khích trước vở bi kịch tuyệt vời Rome bại trận [Rome vaincue] của Alexandre Parodi.
Khi cha viết những dòng này, năm màn của Roma đang được diễn tập để trình diễn tại Monte-Carlo và tại Nhà hát Opéra, nhưng, hãy kín tiếng nhé! Cha trót nói quá nhiều rồi… Để sau nhé!…
Vậy nên tôi lại tiếp tục dòng đời của mình.
Ariane! Ariane! Tác phẩm đã khiến tôi được sống trên những tầm cao đến vậy! Liệu có thể khác chăng với sự cộng tác đáng tự hào của Catulle Mendès, thi sĩ của những khát vọng và mơ ước thanh tao?
Đó là một ngày đáng nhớ trong đời tôi khi Heugel bạn tôi thông báo với tôi rằng Catulle Mendès đã sẵn sàng đọc libretto của Ariane cho tôi nghe.
Từ lâu lắm rồi trong tôi đã nảy sinh ao ước được khóc cùng những giọt nước mắt của Ariane. Vậy nên tôi đã rung động bằng tất cả sức mạnh của con tim và khối óc trước cả khi nghe câu đầu tiên của cảnh thứ nhất!
Chúng tôi đã hẹn gặp nhau để thực hiện việc này. Buổi đọc diễn ra tại nơi ở của Catulle Mendès, số 6 phố Boccador, trong ngôi nhà đầy tính nghệ thuật của vị học giả lớn cùng người vợ cao nhã của ông, cũng là một thi sĩ có tài năng hoàn hảo nhất.
Tôi rời khỏi đó trong trạng thái phấn khích đến phát sốt với cuốn libretto trong túi áo, ngay sát trái tim, như muốn nó cảm nhận được nhịp đập, và tôi leo lên một cỗ xe Victoria mui trần để về nhà. Trời đang mưa như trút nước nhưng tôi đâu để ý. Chắc hẳn những dòng nước mắt của Ariane chính là thứ đã làm ướt đẫm người tôi một cách sướng vui.
Những giọt lệ thân yêu và tốt lành ơi, một ngày nào đó các bạn sẽ hạnh phúc lăn xuống trong những buổi diễn tập tuyệt vời này! Quả thực làm sao tôi có thể không thỏa mãn cho được với biết bao quý mến và chú tâm từ đạo diễn Gailhard thân yêu cũng như từ các diễn viên rất xuất sắc của mình!
Vào tháng 8 năm 1905, khi tôi đang trầm ngâm dạo bước dưới giàn cây nhà mình ở Égreville thì tiếng còi ô tô chợt vọng vang nơi vùng quê yên bình này.
Chẳng phải thần Jupiter đang vung sấm sét trên bầu trời, Cœlo tonantem Jovem, như thi sĩ tinh tế Horace của Odes đã nói ư? Trong chốc lát tôi có thể tin vậy, nhưng điều khiến tôi ngạc nhiên – nhất là ngạc nhiên một cách thú vị – là khi trông thấy bước xuống từ cỗ xe sấm sét sáu mươi dặm một giờ này hai hành khách, dẫu không phải từ trên trời, nhưng vẫn để tôi nghe thấy chất thiên đường trong giọng nói thân thiện của họ.
Một người là giám đốc Gailhard của Nhà hát Opéra, và người kia là kiến trúc sư tượng đài uyên bác Garnier. Giám đốc của tôi đến hỏi tôi soạn Ariane đến đâu rồi, và liệu tôi có muốn giao phó tác phẩm này cho Nhà hát Opéra không?
Chúng tôi đi lên căn phòng lớn của tôi, nơi có giấy dán tường màu vàng và những đồ nội thất cổ mà người ta có thể dễ dàng nhầm tưởng đó là căn phòng của một vị tướng thời Đế chế thứ nhất. Tôi ngay lập tức chỉ ra, trên một chiếc bàn lớn bằng đá cẩm thạch đen có bày tượng nhân sư, một chồng giấy. Đó là toàn bộ tổng phổ đã hoàn thành.
Vào bữa trưa, giữa món cá mòi khai vị và pho mát tráng miệng, vì không có món thịt hầm hoàn hảo, niềm vui thú đối với một người Toulouse, tôi kể một số tình tiết trong tác phẩm. Sau đó các thực khách trong tâm trạng vui vẻ đã đủ sẵn sàng để chủ nhà dẫn đi tham quan cơ ngơi.
Chính trong lúc bách bộ dưới giàn cây mà tôi đã nhắc đến, và trong bóng râm dày đặc và mát mẻ của những cây nho có tán lá tạo thành cái vòm xanh tươi này, chúng tôi đã quyết xong bảng phân vai.
Vai Ariane được dành cho Lucienne Bréval, vai Phèdre kịch tính dành cho Louise Grandjean, và theo một đồng thuận khi nhớ tới tài năng diễn bi kịch của Lucy Arbell, người đã khẳng định được thành công tại Nhà hát Opéra, chúng tôi dành cho cô vai Perséphone, hoàng hậu xinh đẹp và u sầu của Địa ngục.
Muratore và Delmas là những người hết sức thích hợp cho các vai Theseus và Pirithous.
Lúc chia tay, nhớ tới cái cách thức giản dị và tự tin mà cha ông ta đã dùng để giao kết với nhau vào những ngày tốt đẹp xa xưa, Gailhard hái một nhánh khynh diệp trong vườn, vừa dùng nó vẫy chào tôi vừa bảo: “Đây là vật chứng cho những hứa hẹn mà chúng ta trao đổi hôm nay. Tôi mang nó theo mình!”
Rồi những vị khách leo lên xe của họ và biến mất khỏi tầm mắt tôi trong đám bụi xoáy trên đường. Có phải họ đang mang theo về thành phố lớn những hy vọng thân yêu sắp thành hiện thực của tôi? Vừa trở lại phòng mình tôi vừa tự hỏi.
Mệt mỏi và kiệt sức bởi những cảm xúc trong ngày, tôi đi ngủ.
Vầng dương vẫn đang chiếu sáng phía chân trời với toàn bộ ánh quang minh. Nó nhuộm đỏ chiếc giường tôi nằm bằng những tia sáng rực rỡ. Tôi ngủ mơ, giấc mơ đẹp nhất có thể ru ta sau khi nhiệm vụ đã hoàn thành.
Điều đó thật dễ tin. Lúc ấy tôi chẳng hề giống với “những chị gà mái phấn khích đến mức nói suốt đêm”, như lời Alphonse Daudet.
Đến đây tôi xin kể lại một tình tiết liên quan đến Ariane. Ta sẽ thấy nó có phần quan trọng là đằng khác.
Cháu Marie-Magdeleine bé bỏng của tôi đến Égreville để ở cùng ông bà vài ngày. Nhượng bộ nỗi tò mò của cháu, tôi đã kể cho cháu nghe chuyện kịch. Khi đang kể đến đoạn Ariane bị kéo xuống Địa ngục để tìm linh hồn lang thang của chị gái Phèdre, tôi ngừng lại, cháu gái tôi liền kêu lên: “Ông ơi, giờ chúng ta sẽ đến Địa ngục ư?”
Câu hỏi rất đột ngột và tự nhiên qua giọng nói trong trẻo dịu dàng của đứa cháu thân yêu đã tạo cho tôi một ấn tượng lạ lùng, gần như là thần kỳ. Đúng là tôi từng có ý định yêu cầu loại bỏ màn này, nhưng đột nhiên tôi quyết định giữ lại và trả lời câu hỏi chính đáng của đứa cháu: “Phải, chúng ta sẽ đến Địa ngục!” Và tôi nói thêm: “Chúng ta sẽ thấy nhân vật cảm động Perséphone đang say sưa khi tìm lại được những bông hồng thần thánh khiến mình nhớ đến vùng đất thân yêu mình từng sống, trước khi trở thành hoàng hậu ở nơi lưu trú khủng khiếp này với một bông huệ đen làm vương trượng trong tay.”
…
Chuyến thăm Địa ngục này đòi hỏi phải có một cách dàn dựng, một cách trình diễn mà tôi sẵn lòng gọi là chuyên sâu. Tôi đã đến Turin (chuyến đi cuối cùng của tôi đến xứ sở xinh đẹp này) trong thời tiết khá lạnh, đó là ngày 14 tháng 12 năm 1907, cùng nhà xuất bản Henri Heugel thân yêu để tham dự các buổi tập cuối cùng tại Nhà hát hoàng gia Regio, nơi Ariane được công diễn lần đầu ở Ý. Tác phẩm được dàn dựng một cách xa hoa và có được một dàn diễn viên lỗi lạc. Nghệ sĩ lớn Maria Farneti đóng vai Ariane. Tôi để ý nhất đến sự quan tâm đặc biệt của nhạc trưởng lỗi lạc Serafin trong vai trò trợ lý đạo diễn khi dựng cảnh Địa ngục. Perséphone của chúng tôi cũng bi thương hết mực; song tôi thấy khúc aria những bông hồng có vẻ thiếu cảm xúc. Tôi nhớ là mình đã nói với cô, trong buổi tập tại phòng diễn viên lúc tôi ném một bó hoa hồng vào vòng tay rộng mở của cô, ép chặt bó hoa vào trái tim cô như cô sẽ làm với một người chồng, một vị hôn phu cô vẫn luôn yêu thương nhưng đã không gặp hai mươi năm rồi! “Từ những bông hồng đã biến mất bấy lâu, gửi đến người thân yêu rốt cuộc cũng tìm lại được và chẳng bao giờ lìa xa nữa! Hãy suy nghĩ về điều đó, thưa quý cô, và chắc chắn sẽ gây ấn tượng!” Nữ nghệ sĩ duyên dáng mỉm cười; liệu cô có hiểu không?…
…
Vậy là Ariane đã hoàn thành. Người bạn lừng lẫy Jules Claretie của tôi sau khi biết chuyện đã nhắc tôi nhớ đến lời tôi hứa là dể anh viết libretto cho Thérèse, một tác phẩm trữ tình hai màn. Anh nói thêm: “Tác phẩm sẽ ngắn thôi vì ‘cảm xúc mà nó bộc lộ không thể kéo dài được.’”
Tôi bắt tay vào soạn nhạc. Hồi ức của tôi sẽ kể chuyện này sau.
Các con thân yêu ơi, cha vừa bóng gió nhắc đến niềm vui mình cảm nhận được trong mỗi buổi diễn tập liên tục mang đến những khám phá mới về khung cảnh và cảm giác. Chao ôi! các nghệ sĩ của chúng ta đã làm theo lời khuyên quý giá của Gailhard một cách tận tụy mà luôn tỉnh táo biết bao!
Tuy nhiên tháng Sáu được đánh dấu bằng những ngày u ám. Một trong những nghệ sĩ của chúng tôi ốm rất nặng. Chúng tôi đã phải chiến đấu giành giật sự sống cho anh trong suốt 36 giờ!…
Việc dàn dựng tác phẩm đã gần hoàn tất, và vì thiếu mất nghệ sĩ này trong vài tuần nên người ta đã dừng các buổi diễn tập mùa hè và sẽ tiếp tục vào cuối tháng 9. Tất cả các nghệ sĩ của chúng tôi khi ấy sẽ lại tập hợp trong tình trạng sức khỏe tốt để tổng duyệt vào tháng 10 và ra mắt vở vào cuối tháng đó.
Kế hoạch trên đã được thực hiện với độ chính xác hiếm có trong giới sân khấu. Buổi công diễn lần đầu rơi vào ngày 31 tháng 10 năm 1906.
Catulle Mendès, người thường nghiêm khắc với tôi trong những bài phê bình trên báo chí, đã trở thành cộng sự nhiệt tình nhất của tôi, và một điều đáng lưu ý là anh vui vẻ đánh giá cao sự tôn trọng của tôi khi ngâm ngợi những vần thơ tuyệt đẹp của anh.
Trong quá trình chúng tôi làm việc chung cũng như khi tập luyện cùng các nghệ sĩ sân khấu, điều tôi yêu thích ở anh là sự tận tâm và những cơn bùng nổ cảm xúc, cũng như lòng quý trọng mà anh dành cho tôi.
Các buổi biểu diễn nối tiếp nhau tới mười lần mỗi tháng, một sự kiện độc đáo đối với một tác phẩm mới trong biên niên sử của nhà hát, và điều này cứ thế tiếp tục cho đến buổi diễn thứ sáu mươi.
Liên quan đến chuyện này, người ta đã hỏi Perséphone của chúng tôi, Lucy Arbell, xem cô đã hát tác phẩm này bao nhiêu lần và chắc chắn là câu trả lời của cô không chính xác. Rõ ràng là cô đã trả lời: Sáu mươi lần. – Không! người đối thoại với cô kêu lên; cô đã hát một trăm hai mươi lần, vì cô luôn hát lại khúc aria những bông hồng!
Chính nhờ các giám đốc mới, Messager và Broussan, mà tôi mới có được buổi diễn thứ sáu mươi này, cho đến ngày nay đây có vẻ là buổi diễn cuối cùng của một tác phẩm có bình minh rực rỡ biết bao.
…
Thật khác biệt biết bao, tôi xin nhắc lại, giữa cách dàn dựng tác phẩm của tôi trong một số năm và cách nó được dàn dựng vào thời điểm tôi mới ra mắt!
Các tác phẩm đầu tiên của tôi được dàn dựng ở các tỉnh với bối cảnh sân khấu cũ kỹ, và tôi đã phải nghe trợ lý đạo diễn nói những lời kiểu thế này: “Để dựng màn đầu, chúng tôi tìm thấy một phông cảnh cũ của Người được sủng ái [La Favourite]; để dựng màn thứ hai, chúng tôi có hai khung cảnh của Rigoletto…vv…”
Tôi vẫn nhớ một vị đạo diễn có thiện chí, người mà một ngày trước buổi công diễn lần đầu biết rằng tôi thiếu giọng nam cao, đã đề xuất với tôi một ca sĩ nhưng cảnh báo: “Người nghệ sĩ này thuộc vai, nhưng tôi phải nói với anh rằng anh ta luôn xẹp vào màn thứ ba!”
Cũng ở nhà hát này tôi nhớ là có một giọng nam trầm tự phụ đến kỳ lạ, và anh biểu lộ ra theo cách còn kỳ lạ hơn: “Giọng của tôi thấp đến mức người ta không thể tìm thấy nốt tương ứng trên đàn piano!”
Chao ôi! tất cả những người bạn nghệ sĩ này đều là những nghệ sĩ kiên cường và dũng cảm. Họ đã giúp đỡ tôi và đã có những năm tháng thành công của mình.
Nhưng các con thân yêu ơi, cha nhận thấy mình đang kề cà với các con về những kỷ niệm thuở xưa này. Cha phải kể với các con về tác phẩm mới sắp được diễn tập ở Monte-Carlo, ý cha là vở Thérèse.
Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch




