Tác giả: Sergei Prokofiev.
Tác phẩm: Giao hưởng số 1 giọng Rê trưởng “Cổ điển”, Op. 25
Thời gian sáng tác: Năm 1916-1917.
Công diễn lần đầu: Ngày 18/4/1918 với tác giả chỉ huy Petrograd State Symphony Orchestra (Saint Petersburg Philharmonic) tại Petrograd.
Độ dài: Khoảng 15 phút.
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Allegro
Chương II – Larghetto
Chương III – Gavotte: Non troppo allegro
Chương IV – Finale: Molto vivace
Thành phần dàn nhạc: 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet, 2 bassoon, 2 horn, 2 trumpet, timpani và dàn dây.

Tháng 2/1917, những người nông dân Nga nổi dậy chống lại chế độ Sa hoàng, lật đổ chế độ quân chủ trong nhiều thế kỷ. Tháng 10/1917, cuộc Cách mạng tháng 10 Nga nổ ra, những người Bolshevik thay thế chính phủ lâm thời, thành lập Liên bang Xô viết và thay đổi nền chính trị thế giới. Trong cục diện hỗn loạn này, Prokofiev, lúc này vẫn đang là sinh viên tại nhạc viện Saint Petersburg, đã sáng tác bản giao hưởng đầu tiên của mình, một tác phẩm hoàn toàn không dẫn chiếu gì tới bối cảnh lịch sử đang xảy ra xung quanh nó.

Prokofiev đã mô tả nguồn gốc bản Giao hưởng số 1 này trong cuốn tự truyện của mình: “Cho đến lúc đó (1917) tôi vẫn luôn sáng tác bên cây piano, nhưng tôi thấy rằng những chất liệu chủ đề thường tốt hơn khi ở xa cây đàn… một tác phẩm như vậy sẽ có màu sắc tự nhiên và trong suốt hơn… Tôi đã hiểu rất nhiều điều về Haydn từ Tcherepnin và nghĩ rằng sẽ bớt khó khăn hơn khi dấn thân vào cuộc hành trình không có piano gian khổ này nếu tôi ở trên nền tảng phong cách quen thuộc. Đối với tôi, nếu Haydn sống trong thời đại của chúng ta, ông ấy sẽ giữ được phong cách riêng của mình đồng thời tiếp thu nhiều điều mới mẻ. Đây là kiểu giao hưởng mà tôi muốn sáng tác: một bản giao hưởng theo phong cách cổ điển”. Tcherepnin là thầy giáo rất nghiêm khắc dạy Prokofiev chỉ huy dàn nhạc và cũng là người được ông đề tặng bản Concerto piano số 1.

Bản giao hưởng “Cổ điển” này có lẽ là bước đột phá sớm nhất vào chủ nghĩa tân cổ điển, hoặc ít nhất là dấu hiệu báo trước cho trào lưu sẽ bùng phát trong thập niên 20 của thế kỷ 20, nhưng chính Prokofiev phủ nhận điều này. Ông chỉ đơn giản coi đây là một sự thử nghiệm. Thật vậy, sau này ông không còn sáng tác một bản nhạc nào có phong cách gần gũi với nó nữa. Ngay sau sinh nhật lần thứ 26, tháng 4/1916, Prokofiev đã tới sống trong một trang trại yên bình ở ngoại ô Petrograd, một nơi có thể “cung cấp thức ăn ngon và lành mạnh” và tại đây, ông tập trung cho bản giao hưởng đầu tiên của mình. Trong thời đại mà các bản giao hưởng thường là những tác phẩm tràn đầy cảm xúc với những kịch tính mãnh liệt, Prokofiev quyết định dấn thân theo thứ âm nhạc phổ biến vào thế kỷ 18. Nó sẽ ngắn gọn và vui tươi, cập nhật các hình thức cổ điển truyền thống với hoà âm, nhịp điệu và màu sắc âm nhạc hiện đại. Xuyên suốt, Prokofiev kết hợp một cách dí dỏm ngôn ngữ âm nhạc táo bạo của riêng mình với những phong cách du dương điển hình từ thời Haydn và Mozart. Tác phẩm rất ngắn gọn, chỉ 15 phút, ngắn hơn cả một bản giao hưởng điển hình của thời kỳ Cổ điển.

Sau phần giới thiệu hoa mỹ, chương I tác phẩm bắt đầu tuân theo các nguyên tắc của thời kỳ Cổ điển. Chủ đề chính đầu tiên tươi sáng, mượt mà ở giọng chính Rê trưởng. Nhưng ngay sau đó, âm nhạc chuyển sang Đô trưởng, một cách chuyển giọng hoàn toàn phi Cổ điển, có lẽ là một thử nghiệm mạo hiểm của Prokofiev. Chủ đề hai trên violin đơn giản hơn với những quãng tám staccato đi kèm với tiếng bassoon hài hước, chuyển sang giọng La trưởng, cách một quãng năm, đúng theo “sách giáo khoa” về thời kỳ Cổ điển. Hai chủ đề trở nên hỗn loạn hơn trong phần phát triển và rồi trở về tâm trạng ban đầu trong phần tái hiện sau đó.

Chương II là một Larghetto thoải mái hơn. Sau 4 ô nhịp giới thiệu, một giai điệu cao, tinh tế rất đáng yêu của violin là chủ đề chính chương nhạc. Một trong những mục tiêu của Prokofiev khi sáng tác bản giao hưởng này là loại trừ những cảm xúc quá mức, điển hình cho phong cách lãng mạn vẫn đang dày đặc xung quanh ông. Với chương nhạc này, ông đã thành công. Âm nhạc là sự giao thoa trữ tình giữa các nhạc cụ với một kết cấu trong suốt như pha lê. Chương nhạc kết thúc với những ô nhịp được nhắc lại của phần mở đầu.

Thay vì một điệu minuet thông thường như Haydn và Mozart từng viết, trong chương III, Prokofiev lựa chọn một điệu nhảy khác của thế kỷ 18 nhưng thường xuất hiện trong âm nhạc Baroque hơn là Gavotte, thường ở nhịp 4/4. Chương nhạc ngắn gọn và quyến rũ. Phần trio là một điệu nhảy đồng quê trên kèn gỗ.

Prokofiev đã lao vào chương IV với một tốc độ ngoạn mục. Prokofiev đã loại bỏ một phần kết ông viết trước đó vì càm thấy “nó chưa đủ đặc sắc cho một bản giao hưởng cổ điển”. Ông giữ lại chủ đề hai và sáng tác một chương kết mới với đầy đủ sự sống động và vui nhộn. Chương nhạc có hình thức sonata ở nhịp 2/2. Prokofiev đã thực hiện phần kết thúc hoàn toàn phù hợp với phong cách cổ điển. Tác phẩm khép lại với những nét nhạc đầy kỹ thuật lấp lánh của flute và oboe trong một tiết tấu nghẹt thở.

Giao hưởng số 1 của Prokofiev trong suốt như một viên kim cương được cắt gọt tinh xảo. Một ngụ ý khác của nhà soạn nhạc khi đặt tên “Cổ điển” cho bản giao hưởng là mong muốn rằng cuối cùng bản nhạc sẽ trở thành một tác phẩm kinh điển. Mong ước của Prokofiev đã trở thành hiện thực. Ngày nay, Giao hưởng số 1 của ông đã trở thành một tác phẩm đầy sức hút và lôi cuốn, vượt qua thử thách của thời gian, thường xuyên được vang lên tại những phòng hoà nhạc danh giá trên toàn thế giới.

Bản giao hưởng đã được hoàn thành vào tháng 9/1917 và đã có lịch diễn vào ngày 4/11. Tuy nhiên, do cuộc Cách mạng tháng 10 Nga nên đã bị dời tới ngày 18/4/1918. Chỉ vài tuần sau buổi biểu diễn, Prokofiev đã có mặt trên tuyến đường sắt xuyên Siberia hướng đến Vladivostok. Từ đó, ông sẽ tới Nhật Bản và tiếp tục đến Mỹ, nơi ông sẽ bắt đầu một chặng đường mới trong sự nghiệp của mình.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
cso.org
nyphil.org
houstonsymphony.org
indianapolissymphony.org