“Sau cái chết bi thảm của Leonard Warren trên sân khấu Metropolitan Opera vào năm 1960, Merrill gần như trở thành baritone chính của nước Mỹ và có lẽ là giọng trữ tình hay nhất kể từ Giuseppe de Luca.” – John Steane

Trong 30 năm, Robert Merrill là baritone hàng đầu tại Metropolitan Opera, biểu diễn gần 800 đêm với 21 vai khác nhau. Sở hữu giọng hát mượt mà, ấm áp, sang trọng, Merrill đã dễ dàng chiếm được cảm tình của khán giả và trở thành một trong những ca sĩ opera nổi tiếng nhất tại Mỹ. Dù rằng thường bị chê là thiếu óc tưởng tượng, các vai diễn của ông thường không mang những màu sắc đa dạng mà chúng thường tương tự nhau. Nhưng chính vẻ tuyệt đẹp trong giọng hát của Merrill đã cứu rỗi tất cả, chỉ cần ông cất tiếng hát, mọi thứ khác dường như biến mất, chỉ còn lại một âm thanh huyền ảo, rực rỡ và lắng đọng. Cùng với những cái tên như Leonard Warren, Richard Tucker, Beverly Sills, Merrill đã góp phần vào những đại diện tiêu biểu cho cuộc di cư ngoạn mục của những người Do Thái đổ vào Mỹ đầu thế kỷ 20 và trở thành niềm tự hào cho đất nước này.

Robert Merrill sinh ngày 4/6/1917 tại khu Williamsburg, Brooklyn với tên khai sinh là Moishe Miller. Cha cậu, ông Abraham là một thợ may và mẹ, Lillian là những người Do Thái nhập cư từ Pultusk, một thành phố gần Warsaw. Họ gốc của họ là Milstein nhưng đã đổi sang Miller khi tới Mỹ. Đương thời, bà Lillian nói rằng mình từng có một sự nghiệp ca hát opera tại Ba Lan nhưng sau đó đã bị gia đình ngăn cản. Tuy nhiên, sau này, trong nhật ký của mình, Merrill đã phủ nhận sự thật này. Cậu bé Robert có một tuổi thơ không quá hạnh phúc. Cậu bị thừa cân và nói lắp, ngoại trừ khi cậu hát. Bà Lillian đã khuyến khích con trai mình theo học thanh nhạc và chính là người đã uốn nắn Robert kể từ khi cậu có âm sắc của một soprano khi chưa vỡ giọng cho đến khi định hình thành baritone.

Thần tượng ban đầu của Merrill là Bing Cosby, ca sĩ, diễn viên điện ảnh nổi tiếng lúc bấy giờ. Tuy nhiên mọi thứ đã hoàn toàn thay đổi vào một hôm, chàng trai trẻ lúc đó đang làm những công việc vặt vãnh tại khu may mặc Manhattan, tình cờ có mặt trong một buổi tập của Metropolitan Opera, ở rất gần đó. Soprano Lucrezia Bori và Lawrence Tibbett đang hát La traviata (Giuseppe Verdi) và như chính Merrill cho biết, anh đã “kinh hoàng” và sau đó, dưới sự động viên của mẹ, anh đã quyết tâm theo đuổi con đường trở thành ca sĩ opera chuyên nghiệp. Merrill đã theo học với Samuel Margolis, giảng viên thanh nhạc nổi tiếng tại New York, người đồng ý dạy anh miễn phí. Để trang trải cuộc sống, Merrill hát tại các quán bar, đám cưới và các khách sạn tại khu Catskill, New York cũng như là một vận động viên bóng chày bán chuyên nghiệp, niềm đam mê suốt đời khác của anh. Năm 1941, anh tham gia cuộc thi Metropolitan Opera Auditions of the Air do Metropolitan Opera tổ chức hàng năm nhằm tìm kiếm những giọng ca trẻ triển vọng nhưng đã thất bại. Tiếp tục với công việc hát tại khách sạn, anh đã thu hút sự chú ý của Moe Gale, một tuyển trạch viên, ông đã giới thiệu Merrill tới làm việc tại Radio City Music Hall cùng NBC Symphony Orchestra, dàn nhạc do Arturo Toscanini lãnh đạo. Năm 1944, anh, lúc này đã chính thức lấy nghệ danh Robert Merrill lần đầu tiên hát trong opera (Aida, Verdi) tại Newark, New Jersey.

Năm 1945, Merrill tiếp tục tham dự Metropolitan Opera Auditions of the Air và lần này đã giành giải nhất, chia sẻ cùng tenor Thomas Hayward, điều này đã thay đổi hoàn toàn hướng đi trong sự nghiệp và cuộc đời của anh. Ngay lập tức Merrill đã có màn ra mắt tại đây vào ngày 15/12/1945 với Germont (La traviata), một trong những vai diễn quan trọng nhất của anh và là nhân vật mà Merrill hoá thân nhiều nhất trong sự nghiệp của mình, bên cạnh Licia Albanese và Tucker. Merrill trở thành một trong những ca sĩ trẻ nhất từng hát Germont tại Metropolitan Opera, khi mới 28 tuổi. Màn trình diễn ấn tượng đến nỗi Toscanini đã mời Merrill tiếp tục vào vai Germont trong bản thu âm La traviata của mình vào năm 1946. Mặc dù đã giành được sự tán thưởng từ phía khán giả và một hợp đồng dài hạn từ Metropolitan Opera nhưng Merrill theo đuổi sự nghiệp một cách thận trọng, bắt đầu với những vai diễn nhẹ nhàng như Renato (Un ballo in maschera, Verdi), Marcelo (La bohème, Giacomo Puccini) hay Enrico (Lucia di Lammermoor, Gaetano Donizetti) và sau này mới chuyển sang những thử thách phức tạp hơn như Figaro (Il barbiere di Sivilgia, Gioacchino Rosini) hay trong các opera thời kỳ sau của Verdi như di Luna (Il trovatore), Iago (Otello) hay Rigoletto (Rigoletto). Trên thực tế, trong 15 năm đầu tiên tại Metropolitan Opera, cái bóng của Warren có phần che khuất Merrill. Và chỉ khi sau khi Warren qua đời một cách bi thảm ngay trên sân khấu nhà hát vào năm 1960, Merrill mới thực sự trở thành giọng baritone người Mỹ số một tại Metropolitan Opera. So với vẻ đẹp mượt mà, thanh lịch của Merrill, giọng hát của Warren có một cái gì đó rực lửa và đam mê hơn, dù không hoàn hảo bằng.

Giọng hát của Merrill ngày càng trở nên quyến rũ hơn. Cùng với đó là sự nổi tiếng và giàu có. Như Merrill nhớ lại: “Tôi đã có thể mua một ngôi nhà trên Long Island và chuyển bản thân và bố mẹ đến, sau khi chúng tôi đốt hết đồ đạc cũ ở Brooklyn”. Năm 1951, RCA Victor thu âm các duet trong opera với sự góp mặt của Merrill và Jussi Bjorling. Đây được coi là một trong những đĩa nhạc tuyệt vời nhất trong lịch sử thu âm, đặc biệt trong trích đoạn “Au fond du temple saint” (Les pêcheurs de perles, Georges Bizet). Cũng trong năm này, ông vào vai Escamillo trong bản thu âm Carmen (Bizet) của Fritz Reiner bên cạnh Risë Stevens (Carmen), Jan Peerce (Don José) và Albanese (Micaëla). Đây cũng được coi là một bản thu âm mẫu mực. Escamillo cũng là một trong những vai diễn xuất sắc nhất của Merrill, dấu ấn đậm nét của ông tại Metropolitan Opera với hơn 70 buổi biểu diễn. Ông cũng góp mặt trong một bản thu âm Carmen được đánh giá rất cao khác là của Herbert von Karajan với RCA Victor cùng dàn ca sĩ Leontyne Price, Franco Corelli và Mirella Freni.

Cũng như nhiều ca sĩ opera Mỹ khác lúc bấy giờ, Merrill cũng rẽ ngang sang lĩnh vực điện ảnh. Năm 1950, ông ký hợp đồng với hãng Paramout để thực hiện bộ phim hài ca nhạc Aaron Slick from Punkin Crick. Bộ phim này đã đặt Merrill vào tình thế nguy hiểm. Lịch quay phim trùng với chuyến lưu diễn vào mùa xuân năm 1951 của Metropolitan Opera. Merrill đã xin phép tổng giám đốc Rudolf Bing để không tham gia chuyến lưu diễn này nhưng bị từ chối. Ông vẫn quyết định tham gia bộ phim dẫn tới sự tức giận của vị tổng giám đốc đầy quyền lực. Bing buộc tội Merrill vi phạm hợp đồng và đã sa thải ông. Bộ phim là một thất bại, rất nhiều khán giả trên toàn nước Mỹ đã yêu cầu hoàn lại tiền vé. Merrill đã chính thức đưa ra lời xin lỗi công khai với Bing và quay trở lại làm việc cùng nhà hát vào mùa xuân năm 1952 và dành phần lớn thời gian trong sự nghiệp còn lại của mình tại đây. Cũng trong năm này, ông kết hôn với soprano Roberta Peters, đồng nghiệp tại Metropolitan Opera trong sự ngạc nhiên của tất cả mọi người. Họ chỉ sống với nhau trong 10 tuần lễ và chia tay trong thân thiện. Peters thú nhận rằng mình chỉ yêu giọng hát chứ không phải con người Merrill. Merrill tái hôn vào năm 1954.

Daniel Ferro, giảng viên thanh nhạc tại Julliard School, đã so sánh kỹ thuật trong giọng hát của Merrill giống như cách chuyển số tự động của một chiếc xe hơi sang trọng. Một Rolls-Royce của thế giới baritone. Ông nhận xét rằng nó không hề có sự thay đổi giữa các âm vực trong giọng hát, hoàn hảo trên toàn bộ cữ âm, một sự tiến triển hoàn hảo, ổn định. Merrill luôn tạo ra được những đường legato mượt mà, nhất quán trong toàn bộ âm sắc và hát những nốt Son, Son thăng cao như thể nó đang ở khu trung âm của ông ấy vậy! Giọng hát ấm áp, khoẻ khoắn, có thể vang tới mọi ngóc ngách của nhà hát. Nhưng chính trong những điểm mạnh nhất này lại xuất hiện nhược điểm trong giọng hát của Merrill. Đó được chỉ ra rằng là sự thiếu tưởng tượng, một sự nhạt nhoà về cá tính và đơn điệu về cảm xúc. John Steane, nhà phê bình người Anh công nhận Merrill là “giọng nam trung chính của nước Mỹ” nhưng cũng đánh giá: “Các bản thu âm của ông không được đóng dấu với kiểu cá nhân đọng lại ngay lập tức trong trí nhớ của người nghe; chúng chỉ đơn giản là tác phẩm của một ca sĩ opera rất giỏi và là nguồn vui không bao giờ cạn cho đôi tai”. Ông ưa thích cách tiếp cận truyền thống, thiếu sự tô điểm trong những màn trình diễn của mình, không có những nốt nhạc mang tính trang trí. Nghe Merrill hát, chúng ta cảm nhận được một sự an toàn cao độ nhưng lại thiếu đi sự đột phá mang tính bùng nổ để có thể tạo ra cảm giác phấn khích tột cùng.

Thập niên 60, Merrill là baritone người Mỹ sáng chói nhất tại Metropolitan Opera, hát tất cả những vai diễn quan trọng nhất dành cho giọng nam trung (ngoại trừ opera của Richard Wagner), vai trò mà ông nắm giữ trong khoảng 10 năm cho tới khi xuất hiện Sherrill Milnes. Merrill gắn bó chặt chẽ với Metropolitan Opera và hiếm khi biểu diễn tại châu Âu. Lần đầu tiên ông hát tại đây vào năm 1961 trong Germont với La Fenice, Venice. Ông chưa từng xuất hiện tại La Scala hay Vienna State Opera. Buổi biểu diễn duy nhất của Merrill tại Covent Garden diễn ra vào ngày 14/10/1967 và cũng trong Germont. Dù vô cùng nổi tiếng nhưng Merrill vẫn rất khiêm tốn. Trong buổi trả lời phỏng vấn New York Times nhân dịp buổi biểu diễn thứ 500 của ông tại Metropolitan Opera vào ngày 5/3/1973, Merrill tâm sự: “Thật kỳ lạ nhưng tôi cảm thấy như mình chỉ mới bắt đầu, rằng tôi chỉ là một anh lính mới. Tôi chưa bao giờ coi việc hát ở Met là điều đương nhiên. Tại ngôi nhà xưa cũ này, bất cứ khi nào tôi bước vào, tôi lại có cảm giác kỳ diệu – tôi, một cậu nhóc đến từ Brooklyn, đang làm gì ở đây vậy?”. Merrill cũng giải thích cho việc mình gắn bó với sân khấu opera: “Về giọng hát, không có lý do gì khiến bạn không thể hát trong 30 hoặc 40 năm. Tôi sẽ tiếp tục miễn là tôi thích nó, miễn là tôi còn hứng thú”.

Tuy nhiên, Merrill chỉ gắn bó với sân khấu thêm 3 năm nữa, buổi biểu diễn opera cuối cùng của ông diễn ra vào ngày 29/5/1976 trong Renato (Un ballo in maschera), mặc dù giọng hát của ông vẫn còn rất khoẻ khoắn và cuốn hút. Peter G. Davis đã đánh giá trong The American Opera Singer: “Có vẻ như ông ấy đã cảm thấy nhàm chán với số lượng hạn chế các vai diễn mà mình được giao, nhưng ông không có nỗ lực nghiêm túc để mở rộng tầm nhìn nghệ thuật của mình”. Mặc dù vậy, Merrill vẫn hát trong các chương trình hoà nhạc và đặc biệt, luôn biểu diễn quốc ca Mỹ tại sân vận động Yankee và Giants trong các trận đấu bòng chày khai mạc mùa giải, niềm vui khác của ông, công việc mà Merrill đã thực hiện từ năm 1969. Ngày 22/10/1983, Merrill biểu diễn lần cuối cùng trên sân khấu Metropolitan Opera nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nhà hát. Cùng với Anna Moffo, ông đã hát ca khúc Sweethearts trong bộ phim Maytime.

Merrill qua đời ngày 23/10/2004 tại nhà riêng ở New Rochelle, New York khi 87 tuổi trong lúc đang xem trận đấu bóng chày giữa Boston Red Sox và St. Louis Cardinals thuộc giải 2004 World Series vì nguyên nhân tự nhiên. Ông được chôn cất tại nghĩa trang Sharon Gardens, Valhalla, New York trong khu vực dành riêng cho người Do Thái. Bia mộ ông chạm khắc một bức màn sân khấu đang được mở ra, cạnh đó có đề dòng chữ: “Giống như một vì sao trên thiên đàng đang bùng cháy, ông đã tưới tắm cho gia đình và thế giới với tình yêu, niềm vui và vẻ đẹp. Xin hãy làm lại một lần nữa!”. Peter G. Davis đã tổng kết về sự nghiệp của Merrill trên The New Grove Dictionary of American Music: “Mặc dù thỉnh thoảng ông xuất hiện ở châu Âu và Nam Mỹ, nhưng ông thích đặt trọng tâm sự nghiệp của mình tại Metropolitan Opera, nơi ông đã hát tất cả các vai baritone chính của các vở opera Ý và Pháp. Về khả năng thanh nhạc, bảo đảm về kỹ thuật và tuổi thọ của giọng hát, ôg ấy là người không ai sánh bằng trong số các giọng bartione cùng thế hệ tại Metropolitan Opera”.

Kennedy Center Honors là một giải thưởng hàng năm dành để vinh danh những con người có đóng góp quan trọng trong nghệ thuật cho nước Mỹ, được tổ chức lần đầu từ năm 1978, mỗi năm chỉ vinh danh 5 cá nhân hoặc tổ chức. Hằng năm, khi danh sách những người trúng giải được công bố, các phóng viên theo dõi mảng nghệ thuật của các tờ báo hàng đầu luôn nhận được rất nhiều thư phàn nàn từ phía độc giả, về danh sách những người không được vinh danh. Trong số này, cho đến khi Merrill qua đời, cái tên của ông luôn được nhắc đến nhiều nhất. Kennedy Center Honors không trao giải cho những người đã mất. Vì vậy, họ đã bỏ lỡ một nhân vật vĩ đại và vô cùng xứng đáng.

Ngọc Tú tổng hợp

Nguồn:
nytimes.com
theguardian.com
washingtonpost.com