Thông tin chung

Tác giả: Sergei Rachmaninov.
Tác phẩm: Concerto piano số 3 giọng Rê thứ, Op. 30
Thời gian sáng tác: Mùa hè năm 1909.
Công diễn lần đầu: Tại New York vào ngày 28/11/1909 với tác giả chơi piano dưới sự chỉ huy của Walter Damrosch và New York Symphony Society.
Độ dài: Khoảng hơn 40 phút.
Đề tặng: Tác phẩm được đề tặng cho nghệ sĩ piano Josef Hofmann (1876-1957).
Cấu trúc tác phẩm: gồm 3 chương
Chương I – Allegro ma non tanto (Rê thứ)
Chương II – Intermezzo: Adagio (Rê thứ – Pha thăng thứ – Rê giáng trưởng – Si giáng thứ – Pha thăng thứ – Rê thứ)
Chương III – Finale: Alla breve (Rê thứ – Mi giáng trưởng – Rê thứ – Rê trưởng)
Thành phần dàn nhạc: Piano độc tấu, 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet (giọng Si giáng và La), 2 bassoon, 4 horn (giọng Pha), 2 trumpet (giọng Si giáng), 3 trombone, tuba, timpani, bass drum, snare drum, cymbals và dàn dây.

Hoàn cảnh sáng tác

Sau một mùa diễn bận rộn tại châu Âu, Rachmaninov cùng vợ và hai cô con gái đã trở về điền trang tại Ivanovka vào mùa hè năm 1909. Cách xa sự nhộn nhịp của Moscow hơn 400 km, ngôi nhà tại vùng nông thôn này là nguồn cảm hứng và sự đổi mới trong nhiều năm của nhà soạn nhạc. Trong một bức thư, Rachmaninov từng miêu tả khung cảnh tự nhiên nơi đây có thể kích thích trí tưởng tượng của ông: “Tôi đi dạo một quãng đường dài trong vùng. Ánh mắt tôi bắt gặp những tia sáng chói chang trên những tán lá tươi mới sau cơn mưa rào; tai tôi nghe thấy tiếng xào xạc của khu rừng. Hoặc tôi quan sát những mảng màu xanh xám phía chân trời sau khi mặt trời lặn, và chúng xuất hiện: tất cả âm thanh cùng vang lên. Không phải một chút ở đây, một chút ở đó. Tất cả”.
Không lâu sau, chính tại nơi đây, một trong những kiệt tác của Rachmaninov đã ra đời theo đúng phong cách như vậy. Tất cả âm thanh cùng vang lên tạo nên Concerto piano số 3 của ông. Nhiều năm sau, Rachmaninov nhớ lại cách ông đã sáng tác giai điệu phôi thai của tác phẩm: “Nó chỉ đơn giản là “tự viết ra”!… Nếu tôi có bất kỳ kế hoạch nào để sáng tác chủ đề này, tôi chỉ nghĩ đến âm thanh. Tôi muốn “hát” giai điệu trên piano, như một ca sĩ sẽ hát nó”. Vào cuối mùa hè năm 1909, chủ đề đơn giản này đã phát triển thành một người khổng lồ trong số các concerto piano.

Rachmaninov sáng tác Concerto piano số 3 với mục đích đưa nó vào chương trình của mình trong chuyến lưu diễn tại Mỹ vào cuối năm 1909. Vào thời điểm đó, xe hơi là một sản phẩm mang ý nghĩa biểu tượng cho sự giàu có và địa vị xã hội. Rachmaninov mong muốn sau khi trở về Nga từ Mỹ, ông sẽ đưa về một chiếc ô tô để sử dụng tại quê hương mình. Mang trong mình một chút lo lắng vì đây là chuyến lưu diễn tại Mỹ đầu tiên của ông và cũng đã ba năm trời ông chưa sáng tác một tác phẩm mới. Rachmaninov đã tận dụng ưu thế đặc biệt của riêng mình, người sở hữu một đôi bàn tay lớn, có thể dễ dàng chơi một quãng 13 để tạo ra một “đỉnh núi Everest” trong kho tàng các tác phẩm dành cho piano. Đồng thời, với kinh nghiệm ngày càng tăng với tư cách nhà soạn nhạc, Concerto piano số 3 là sự kết hợp tinh xảo giữa piano và dàn nhạc, tạo nên một sự gắn kết và bổ sung cho nhau, biến tác phẩm thành một thử thách đòi hỏi rất nhiều kỹ năng và cảm xúc của nghệ sĩ biểu diễn chứ không đơn thuần chỉ yêu cầu thứ kỹ thuật khô khan và phù phiếm. Rachmaninov đã dành tặng bản Concerto piano số 3 này cho Josef Hofmann, người mà Rachmaninov ngưỡng mộ hơn tất cả các nghệ sĩ piano đương thời khác. Tuy nhiên, vì sở hữu đôi bàn tay nhỏ hơn đáng kể, Hofmann chưa bao giờ trình diễn tác phẩm vốn được dành cho chính mình.

Lịch trình biểu diễn dày đặc đã khiến Rachmaninov không có nhiều thời gian để tập luyện tác phẩm này. Trong chuyến tàu đến Mỹ, ông đã phải tập luyện trên một bàn phím piano giả. Ngày 28/11/1909, Concerto piano số 3 đã được Rachmaninov cùng với nhạc trưởng Walter Damrosch và New York Symphony Society (sau này được sáp nhập vào New York Philharmonic) lần đầu tiên giới thiệu tới khán giả. Tuy nhiên, cả khán giả và nhà phê bình đều không ấn tượng nhiều với nó. Họ cho rằng tác phẩm quá dài, phức tạp và kém hấp dẫn, không tạo ra được sức hút như Concerto piano số 2 của ông. Bản thân Rachmaninov cũng cảm thấy hứng thú hơn với buổi biểu diễn sau đó vào ngày 16/1/1910 tại Carnegie Hall với Gustav Mahler chỉ huy New York Philharmonic. Rachmaninov đã cho biết: “Mahler là nhạc trưởng duy nhất mà tôi cho là xứng đáng được xếp chung đẳng cấp với Nikisch. Ông đã chạm đến trái tim nhà soạn nhạc của tôi ngay lập tức bằng cách cống hiến bản thân cho concerto ngay từ phần đệm, khá là phức tạp, đã được luyện tập đến mức hoàn hảo, mặc dù đã trải qua một buổi dàn dựng dài. Theo Mahler, mọi chi tiết trong tổng phổ đều quan trọng – một thái độ rất không may là hiếm gặp ở các nhạc trưởng”. Tuy nhiên, bất chấp việc Rachmaninov tỏ ra rất hào hứng với tác phẩm này: “Tôi thích bản số 3 hơn vì tôi không cảm thấy thoải mái khi chơi bản số 2”, Concerto piano số 3 của ông rất ít được biểu diễn trong nhiều năm sau đó.

Mọi thứ chỉ thực sự thay đổi khi có sự xuất hiện của Vladimir Horowitz. Horowitz đã biểu diễn tác phẩm này nhiều lần trong những năm 1920, trước khi gặp gỡ với Rachmaninov. Horowitz nhớ lại: “Ngay trước khi ra mắt [tại Mỹ], tôi đã lần đầu tiên gặp Rachmaninov. Fritz Kreisler đã kể cho ông ấy nghe rằng tôi đã chơi bản số 3 trên khắp châu Âu. Tôi đã gặp Rachmaninov theo đề nghị của ông ấy tại tầng hầm của toà nhà Steinway, New York. Ông ấy đã chơi trên đàn piano thứ hai để đệm cho tôi. Tôi coi đó là thành công thực sự của mình trước khi ra mắt tại Carnegie Hall. Tôi sẽ không bao giờ quên điều đó – rằng ông ấy, vị thần âm nhạc của tuổi trẻ tôi, đã làm việc với tôi, một người trẻ tuổi vô danh (ít nhất là tại Mỹ). Tôi biết và yêu ông thông qua âm nhạc của ông và giờ đây ông ngồi ngay bên cạnh tôi. Và chúng tôi đã trở thành bạn của nhau từ giây phút đó”. Trên thực tế, Rachmaninov đã đề nghị Horowitz chơi phiên bản đã được ông cắt giảm đi một số chỗ với mục đích để tác phẩm dễ dàng tiếp cận và phổ biến hơn với công chúng. Bản thu âm đầu tiên Concerto piano số 3 mà Horowitz thực hiện cùng với London Symphony Orchestra dưới sự chỉ huy của Albert Coates năm 1930 cũng như của chính Rachmaninov và Philadelphia Orchestra năm 1939 đều sử dụng phiên bản được rút gọn này.

Phân tích

Chương I

Sau hai ô nhịp nhấp nhô gợn sóng giới thiệu của dàn nhạc, chương I tác phẩm bắt đầu với chủ đề đáng chú ý “tự nó viết ra”, một giai điệu đầy ám ảnh ở giọng Rê thứ được piano giới thiệu trên những quãng tám không trang trí. Bè viola chiếm lấy giai điệu khi piano chơi chồng chất những hợp âm rải, phát triển thành một đoạn chuyển tiếp đầy điệu luyện rồi tan biến đi. Xuyên suốt bản concerto, Rachmaninov định hình những ý tưởng âm nhạc của mình thành những làn sóng dâng lên rồi rút đi, vây xung quanh những khoảnh khắc cao trào, tạo thành những sự kịch tính. Một chủ đề tương phản, ấm áp hơn nổi lên như một cuộc đối thoại yên tĩnh giữa piano và dàn dây. Ban đầu, nó mang tính hành khúc nhưng rồi nhanh chóng trở nên trữ tình và nồng nàn hơn. Và rồi chủ đề này cũng biến mất, nhường chỗ cho chủ đầu tiên trở lại trong thoáng chốc, piano bắt đầu xây dựng đến một cao trào đầy đau đớn. Âm nhạc mờ ảo rút lui khỏi khoảnh khắc căng thẳng này, dẫn đến phần cadenza. Hiệu quả của phần cadenza này dường như được tăng lên gấp bội khi trình bày lại các ý tưởng chính của chương nhạc, xây dựng thành một phiên bản hợp âm hoành tráng của chủ đề chính. Sau phần âm nhạc mạnh mẽ, kèn gỗ đánh dấu phần giữa của cadenza bằng những đoạn thơ mộng của chủ đề chính. Sau đó piano một mình tiếp tục với phần tái hiện đầy biểu cảm của chủ đề thứ hai. Dàn nhạc quay trở lại cho lần xuất hiện cuối cùng của chủ đề chính và chương nhạc khép lại trong một coda ngắn gọn, yên tĩnh.

Nhà âm nhạc học Joseph Yasser đã cho rằng chủ đề đầu tiên đến từ một bài thánh ca dùng trong tế lễ Thy Tomb, O Savior, Soldiers Guarding. Tuy nhiên, Rachmaninov đã ngay lập tức bác bỏ giả thuyết này, nhà soạn nhạc khẳng định giai điệu “không được mượn từ bài hát dân gian và cũng không phải từ các nguồn phụng vụ. Nó chỉ đơn giản là tự viết ra”. Rachmaninov đã viết hai phiên bản cadenza trong chương I này. Phiên bản ngắn mang đến một sự chuyển đổi tinh tế hơn các chất liệu âm nhạc trước đó, bắt đầu mềm mại và tăng dần âm lượng khi các motif du dương nổi lên trên bề mặt kết cấu tác phẩm. Phiên bản dài tập trung vào các hợp âm mạnh mẽ fortissimo và nhanh chóng chuyển đổi về piano, tạo nên sự tương phản so với phiên bản đầu tiên. Rachmaninov luôn lựa chọn phiên bản ngắn và điều này dường như đã tạo ra thông lệ cho các nghệ sĩ piano khác trong nửa đầu thế kỷ 20. Chỉ đến khi Van Cliburn lựa chọn phiên bản dài trong đêm chung kết cuộc thi piano quốc tế mang tên Tchaikovsky lần thứ nhất năm 1958, nó mới được lựa chọn để biểu diễn nhiều hơn.

Chương II

Chương II là một khúc Intermezzo được bắt đầu với một chủ đề thở dài trên oboe. Nghệ sĩ độc tấu bước vào với những nốt nhạc bán cung mãnh liệt, trước khi thực hiện phiên bản chủ đề của riêng mình: ban đầu thơ mộng nhưng nhanh chóng trở nên hỗn loạn. Trong một đoạn nhạc gợi cảm, bè violin gợi nhớ lại chủ đề chính của chương I. Âm nhạc tuôn trào hấp dẫn, xây dựng thành một phiên bản mạnh mẽ, xúc động của chủ đề chính. Chúng dần biến mất để chuyển đến một đoạn nhanh, có tính chất hài hước, đùa giỡn được nghệ sĩ độc tấu lướt qua mỏng manh. Phía dưới, kèn gỗ chơi một giai điệu ở điệu waltz bắt nguồn từ chủ đề chính của chương đầu tiên, gợi nhớ đến Pyotr Ilyich Tchaikovsky. Sau đoạn chen, dàn nhạc chơi chủ đề chính của chương nhạc cho đến khi piano trở lại trong một đoạn nhạc điêu luyện.

Chương III

Sau ba hợp âm mạnh mẽ của dàn nhạc, piano bắt đầu trực tiếp vào chủ đề chính hào hùng của chương III, dựa trên nhịp điệu mạnh mẽ trong tiếng trống dồn và những câu kèn lệnh. Một sự chuyển đổi mạnh mẽ từ những nhịp hành khúc sang chủ đề tương phản, trữ tình hơn. Sau đó là một loạt các biến tấu tinh tế dựa trên việc gợi lại nhịp điệu hào hùng của chủ đề chính nhưng chất liệu âm nhạc lại đến từ chủ đề hai trữ tình của chương I. Chủ đề đầu tiên của chương I cũng được hồi tưởng đầy ám ảnh trên violin và cello, ký ức khác về chủ đề hai trong chương I cũng trở lại. Các biến tấu này tiếp tục và rồi biến mất, nhường chỗ cho khoảnh khắc trầm ngâm, suy tư của piano.

Những giai điệu hào hùng bắt đầu chương III xuất hiện trở lại trong dàn nhạc, dẫn đến sự tái hiện các chủ đề chính của chương. Đột nhiên, dàn nhạc dừng lại đột ngột khi đang ở đỉnh cao của chủ đề hai đầy đam mê, bắt đầu một đoạn crescendo căng thẳng. Âm thanh kỳ lạ, giòn tan của bè dây chơi col legno (dùng phần gỗ của vĩ kéo dây đàn) là nền tảng để piano độc tấu thể hiện những phẩm chất kỹ thuật xuất sắc của mình. Cuối cùng, sự căng thẳng cũng tan vỡ với những hợp âm mạnh mẽ. Piano tấu lên một phiên bản cao trào, bay bổng của chủ đề hai đầy đam mê. Bản concerto khép lại đầy phấn khích trong một nhịp điệu quen thuộc của Rachmaninov: dài-ngắn-ngắn-dài mà có thể coi là dấu ấn âm nhạc của Rachmaninov, phù hợp với các âm tiết trong tên của ông. Nó cũng xuất hiện trong bản Concerto piano số 2 và Giao hưởng số 2 của nhà soạn nhạc.

Bản Concerto piano số 3 của Rachmaninov là một ngọn núi thực sự, nó mang trong mình sức mạnh, ý chí và tinh thần của nhà soạn nhạc tài năng và cũng là một trong những nghệ sĩ piano vĩ đại nhất mọi thời đại. Tác phẩm thách thức người chơi không chỉ về khả năng kỹ thuật mà còn về sức bền bỉ và sự chịu đựng. Có lẽ rất ít người đồng tình với Rachmaninov rằng “bản số ba này thoải mái hơn bản số hai”. Để có thể biểu diễn thành công tác phẩm, nghệ sĩ độc tấu phải có khả năng khiến cây đàn piano hát lên được những cảm xúc sâu sắc, tạo nên sự oai nghiêm sấm sét, đồng thời phải tỉnh táo, linh hoạt, nhạy bén và biết cách hoà quyện, đồng hành và lắng nghe.

Cobeo