“Khi hát, tôi quyết định dựa vào chính mình. Nếu tôi có khuyết điểm, đó sẽ là của riêng tôi chứ không phải do một giáo viên nào mang đến.” – Amelita Galli-Curci
“Giọng soprano coloratura vĩ đại nhất thế giới”, đó là những gì chính xác để miêu tả về Amelita Galli-Curci, người không có đối thủ trong lĩnh vực của riêng mình vào thời kỳ của bà. Là cái tên không thể thiếu trong kỷ nguyên vàng đầu thế kỷ 20, giai đoạn mà các giọng hát bắt đầu được ghi âm lại, giúp người nghe có thể thưởng thức họ ở bất kỳ đâu mà không phải đến nhà hát, Compton Mackenzie, người sáng lập tạp chí Gramophone đã thốt lên rằng ông chấp nhận tuổi già vì có được nhiều đĩa nhạc của Galli-Curci như của Enrico Caruso. Galli-Curci, người sở hữu giọng hát được Chúa ban tặng, đã hầu như hoàn toàn tự học. Là một ca sĩ Ý nhưng giống như nhiều ngôi sao đồng hương, bà trở nên rất nổi tiếng tại Mỹ. Áp lực trong cuộc sống, sự nghiệp cũng như những chấn thương ở vòm họng đã khiến bà giã từ sân khấu opera và không bao giờ có thể trở lại thời kỳ vàng son được nữa. Nhưng với số lượng đĩa còn lại, nhiều hơn bất kỳ nghệ sĩ nào cũng thời kỳ, cho thấy sức hút nổi bật của Galli-Curci khi bà ở thời kỳ đỉnh cao của tài năng và danh vọng. Qua chúng, ngày nay chúng ta vẫn có thể cảm nhận được một trình độ kỹ thuật thanh nhạc tuyệt vời, giọng hát căng tràn sức sống với tâm hồn nhạy cảm của một ca sĩ vĩ đại.
Amelita Galli sinh ra tại Milan vào ngày 18/11/1882 với người cha Enrico là một doanh nhân thành đạt và mẹ, bà Enrichetta, người có nguồn gốc Tây Ban Nha. Ông bà ngoại của Amelita từng là một nhạc trưởng và soprano nổi tiếng. Mẹ chính là thầy dạy piano của Amelita, nhạc cụ mà cô bé bắt đầu học khi lên năm tuổi. Bảy tuổi, Amelita lần đầu thưởng thức một vở opera với Les Huguenots (Giacomo Meyerbeer) nhưng sau này cô thú nhận rằng mình hứng thú với các màn múa ballet trong đó hơn. Khi về nhà, cô bé đã bắt tất cả những con búp bê của mình khiêu vũ. Những năm tháng tuổi thơ của Amelita thật hạnh phúc. Amelita được hưởng một nền giáo dục ưu việt, 16 tuổi, cô đã có thể nói thành thạo tiếng Tây Ban Nha, Đức, Pháp và Anh. Amelita, anh trai Giuseppe và cậu em út Enrico đều được theo học tại Nhạc viện Milan. Sau khi tốt nghiệp, Amelita đã trở thành giáo viên dạy piano và nghệ sĩ biểu diễn.
Năm 1905, một sự kiện xảy ra đã làm thay đổi Amelita mãi mãi. Nhà soạn nhạc Pietro Mascagni, một người bạn của gia đình đã nghe cô chơi đàn và hát một số trích đoạn trong I puritani (Vincenzo Bellini). Ông đã đưa ra lời khuyên: “Cô có một âm sắc độc đáo và đây là món quà hiếm có. Tôi vẫn sẽ nhận ra giọng hát của cô cho dù là 20 năm sau đi nữa và đó là thứ mà những người khác sẽ cho đi bất kỳ thứ gì để có thể sở hữu. Hãy nhớ rằng có nhiều nghệ sĩ piano tài năng, nhưng không phải ca sĩ”. Amelita đã hứa với Mascagni rằng mình sẽ cố gắng và cô đã thực hiện đúng như vậy. Cũng trong năm này, công việc kinh doanh của Enrico gặp khó khăn khiến ông cùng hai người con trai phải đến Argentina nhằm tìm kiếm cơ hội (thật đáng tiếc khi Amelita không còn được gặp lại người cha của mình). Ở nhà chỉ còn lại hai mẹ con. Bà Enrichetta không đồng ý việc con gái mình trở thành ca sĩ cũng như việc không đủ tiền mời giáo viên đã khiến Amelita hoàn toàn tự học bằng cách tập các bài luyện thanh của Manuel Garcia nổi tiếng. Bà ngoại cô cũng hướng dẫn cháu gái mình nên tập trung vào những phần dành cho giọng soprano nhẹ nhàng, phù hợp với chất giọng. Tuy nhiên, bà đã mất chỉ sau một năm kể từ khi Amelita nuôi dưỡng tham vọng trở thành ca sĩ opera. Sau này, khi đã trở nên nổi tiếng, Galli-Curci tuyên bố mình thành thạo các hợp âm rải, các nốt rung láy, ngân vang ở âm khu cao nhờ bắt chước cách hát của chim sơn ca. Thiên nhiên đã tạo nền tảng cho giọng hát độc đáo của Amelita, nhưng sự tập luyện mới hình thành và phát triển nó. Cô lắng nghe tất cả những soprano nổi tiếng nhất có mặt tại Milan và cố gắng vượt trội họ về âm vực cũng như sự nhanh nhẹn trong giọng hát. Công việc của một nghệ sĩ piano cũng trợ giúp cô rất nhiều trong các bài tập thanh nhạc.
Cuối cùng cơ hội cũng đến với Amelita, trong mùa thu năm 1906, cô được mời đến biểu diễn tại một chương trình hoà nhạc. Một khán giả đã giới thiệu cô với người bạn là quản lý cho một công ty opera và đang tìm kiếm những tài năng trẻ. Ngay sau đó, Amelita đã nhận được lời mời biểu diễn 10 đêm trong Gilda (Rigoletto, Giuseppe Verdi). Trong buổi ra mắt vào ngày 26/12/1906, Amelita đã hoàn toàn chinh phục khán giả Trani, miền nam nước Ý. Giọng soprano vô danh đã đặt được nền móng vững chắc cho sự nghiệp danh tiếng của mình. Khán giả trong đêm diễn có chàng trai trẻ 18 tuổi Luigi Curci. Tình cảm nảy nở giữa hai người và họ kết hôn với nhau vào năm 1908. Kể từ đó, cô chính thức trở thành Amelita Galli-Curci. Chỉ trong vòng hai năm ngắn ngủi, cái tên Galli-Curci đã rất nổi tiếng và cô đã được mời biểu diễn tại Rome với vai Bettina trong lần ra mắt tại đây vở opera Don Procopio (Georges Bizet). Cách diễn giải quyến rũ với chất giọng màu sắc rực rỡ, nhanh nhẹn của cô đã mang đến một luồng gió mới trong bối cảnh nước Ý lúc này đang tràn ngập những giọng soprano kịch tính, thiên về những vở opera verismo. Cô nhanh chóng có được những chuyến lưu diễn nước ngoài tại châu Âu, Nga và Nam Mỹ. Ở trong nước, tên tuổi của Galli-Curci đồng nghĩa với thành công. Khán giả opera Ý vốn nổi tiếng khó tính, họ không ngần ngại dành cho các màn trình diễn dở tệ, cho dù đó là nghệ sĩ hàng đầu đi chăng nữa, những tiếng la ó, lăng mạ và thậm chí ném cà chua, củ cải vào ca sĩ. Nhưng với Galli-Curci, cô được tắm tưới trong những bó hoa tươi thắm. Năm 1909, tờ báo Il Foro Romagnolo của Ravenna đã nhận xét: “Galli-Curci là một ca sĩ xứng đáng với danh xưng diva, bởi vì cô ấy luôn gợi nhắc đến những bậc thầy của thời kỳ khác”. Galli-Curci có niềm kiêu hãnh của riêng mình. Khi tổng giám đốc Vittorio Mingardi của La Scala danh tiếng nói rằng cô không đủ trình độ để hát Amelia (La sonnambula, Bellini) tại đây mà chỉ được giao một vai nhỏ, Galli-Curci đã không ngần ngại trả lời: “Mingardi thân mến, đừng quên điều này, tôi sẽ không bao giờ đặt chân đến nhà hát này nữa”. Và cô đã giữ lời.
Sự điềm tĩnh trên sân khấu và nhạy cảm với những đặc tính nhân vật của Galli-Curci đã khiến khán giả say mê. Bất kể đó là những tính cách nào thì họ đều được Galli-Curci truyền tải mới một sự chân thực và gần gũi nhất. Để tạo nên sự khác biệt, cô đã sáng tạo nên những cadenza của riêng mình. Le Messena, tác giả cuốn tiểu sử về Galli-Curci cho biết mục tiêu tối thượng của cô là để nhận được sự tán thành của khán giả: “Mục đích của cô không phải để đo lường nghệ thuật về mặt tiền bạc, mà là về sự nổi tiếng. Cô muốn làm hài lòng, muốn mọi người thưởng thức giọng hát của cô và để đạt được điều này, cô đã phải hát để tạo đươc sự lôi cuốn”. Galli-Curci có vóc dáng mảnh mai, hấp dẫn, được miêu tả sở hữu vẻ ngoài xinh đẹp như những người phụ nữ trong tranh của Modigliani hoặc Botticelli với khuôn mặt hình trái xoan, đôi mắt hình quả hạnh và chiếc mũi cao, gọn ghẽ. Chiếc cổ cô thon dài với đôi vai thoai thoải. Vóc dáng nhỏ bé nhưng thể hiện một vẻ đẹp của sự kiên cường và rạng ngời. Dù rằng chủ yếu Galli-Curci hát về những sự bất hạnh và tuyệt vọng nhưng đôi mắt lấp lánh của cô luôn tràn đầy năng lượng và khát vọng sống.
Năm 1915, trong một chuyến biểu diễn tại Tây Ban Nha, Galli-Curci bị một cơn sốt phát ban và phải nằm liệt giường trong sáu tuần. Khi bị ốm và không thể đứng được, cô đã ngồi trên một chiếc xe lăn và biểu diễn Rosina (Il barbiere di Siviglia, Gioachino Rosssini) và chinh phục khán giả Teatro Real, Madrid. El Mundo đã tường thuật: “Cô ấy đã hát ‘Una voce poca fa” với sự hoàn hảo và phân câu những đoạn khó điêu luyện đến nỗi tiếng vỗ tay lại nổ ra ở cuối và kéo dài liên tục trong năm phút, làm gián đoạn vở opera. Từ đó trở đi sự nhiệt tình không ngừng tăng lên”. Trong chuyến lưu diễn tại Argentina, ban đầu Galli-Curci chỉ được giao những vai phụ nhưng khi soprano chính người Cu Ba Esperanza Clascenti bị ốm, Galli-Curci đã thay thế với thành công hơn cả sự mong đợi. Có đêm diễn trong Rigoletto, cô đã phải hát lại aria “Caro nome che il mio cor” ba lần để làm thoả mãn khán giả. Trong tháng 6 và 8/1915, Galli-Curci đã hát hai đêm trong Lucia di Lammermoor (Gaetano Donizetti) tại Teatro Colon, Buenos Aires bên cạnh Caruso. Đó là lần duy nhất họ diễn opera cùng nhau, mặc dù sau này hai người từng nhiều lần xuất hiện trong các chương trình hoà nhạc và thu âm. Kết thúc chuyến lưu diễn tại Trung và Nam Mỹ, Galli-Curci tới New York với dự định từ đó trở về Ý. Tuy nhiên, cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất đang diễn ra khiến dự định này phải trì hoãn lại và một chân trời mở ra trong sự nghiệp của Galli-Curci.
Tại New York, Galli-Curci được gặp gỡ Cleofonte Campanini, giám đốc của Opera Chicago và ông đã đưa ra lời mời hai đêm diễn trong Rigoletto với mức thù lao 300 USD mỗi buổi. Còn Calvin G. Childs, chủ tịch của Victor Talking Machine Company đã ngay lập tức mời bà ký hợp đồng thu âm với những điều khoản trong hợp đồng tương đương với Caruso. Galli-Curci đã ra mắt rực rỡ tại Opera Chicago trong đêm 18/11/1916 (đúng sinh nhật lần thứ 34 của bà) và nhanh chóng được mời ký hợp đồng đến cuối mùa diễn, thù lao sau đó cũng được điều chỉnh thành 1.000 USD mỗi chương trình. Edward C. Moore say sưa trên Chicago Daily Journal: “Đã có những ca sĩ với giọng hát thuần khiết và trong trẻo. Galli-Curci ít nhiều còn thuần khiết và trong trẻo hơn. Có những ca sĩ với sự sự khéo léo và linh hoạt vượt trội, Galli-Curci thì khéo léo và linh hoạt hơn một chút. Đã có những ca sĩ nỗ lực thành công trong việc miêu tả hình ảnh cho nhân vật của họ. Galli-Curci gánh hầu như toàn bộ sức nặng trong việc miêu tả nhân vật. Rất ít ca sĩ opera có thể làm được tất cả những điều này cùng một lúc. Galli-Curci đã làm tất cả và còn hơn thế nữa”. Cho mãi đến những năm về sau, Moore vẫn luôn bị tiếng hát của Galli-Curci chinh phục: “Cô thường xuyên gặp vấn đề với những nốt rung láy và thỉnh thoảng cô hát dưới cao độ. Chưa bao giờ trong cuộc đời cô có thể đạt tới vị trí của Luisa Tetrazzini về sự gây choáng ngợp và thoải mái trong giọng hát. Nhưng vẻ đẹp tinh tế, màu kem nhung, chất lượng mê hoặc trong giọng hát của cô khiến công chúng lẫn khán giả đều phải ngã mũ thán phục”. Đĩa đơn “Caro nome” của bà nhanh chóng bán được 10.000 bản ngay sau lần phát hành đầu tiên, điều chưa từng có vào thời điểm đó. Galli-Curci đã chinh phục khán giả Mỹ với tốc độ và sức mạnh của một cơn bão!
Tháng 3/1919, Charles L. Wagner, người quản lý của bà đã đàm phán lại hợp đồng với Opera Chicago. Qua đó, Galli-Curci sẽ nhận được 2.000 USD cho một đêm diễn tại Chicago, 2.500 USD tại New York và 3.000 USD tại những địa điểm khác. Điều khoản này đã giúp Galli-Curci vượt qua Caruso, người chưa bao giờ được quá 2.500 USD cho một đêm diễn. Màn ra mắt của Galli-Curci tại New York, trong Dinorah (Dinorah, Meyerbeer) diễn ra vào ngày 28/1/1918 tại nhà hát Opera Lexington đã khiến bà nhận tới 61 lượt gọi ra chào khi vở opera kết thúc, đó là những lời tri ân mà khán giả dành cho những đường legato mượt mà và nốt staccato linh hoạt của Galli-Curci. Năm 1920, cô ly hôn với Luigi vì ông không chịu đến Mỹ và kết hôn với nghệ sĩ piano Homer Samuels, người thường đệm đàn cho bà, vào năm 1921. Giulio Gatti-Casazza, Tổng giám đốc của Metropolitan Opera đã mời bà cộng tác cùng nhà hát và Galli-Curci đã có buổi ra mắt đầu tiên tại đây vào đêm mở màn mùa diễn 1921-1922 vào ngày 14/11/1921 trong Violetta (La Traviata, Verdi) bên cạnh Beniamino Gigli và Giuseppe de Luca. Henry Finck, nhà phê bình của New York Evening Post đã rất phấn khích với những màn trình diễn điêu luyện của Galli-Curci: “Galli-Curci thường hát lạc điệu khiến mọi người lo âu nhưng những nốt staccato trên đỉnh Eiffel thì có cao độ hoàn hảo. Đó là danh thiếp của bà và là thứ giúp bà kiếm được thu nhập ngang ngửa Caruso”. Bà đã ký một hợp đồng dài hạn với Metropolitan Opera và trở thành ngôi sao hiếm hoi duy trì cùng lúc hai hợp đồng tại hai nhà hát lúc bấy giờ.
Galli-Curci rời Chicago Opera vào ngày 4/1/1924, sau khi Giorgio Polacco, người quản lý của nhà hát từ chối để bà được chọn vở opera mà mình sẽ hát. Kể từ đó, sự nghiệp của bà chủ yếu tập trung tại Metropolitan Opera trong các vai diễn dành cho giọng soprano coloratura như Lucia, Violetta, Gilda, Rosina, Juliette (Roméo et Juliette, Jules Massenet) và nữ hoàng (Le coq d’or, Nikolai Rimsky-Korsakov). Galli-Curci cũng tổ chức các chuyến lưu diễn tại Anh và Úc. Tại bất cứ nơi nào bà cũng thu hút được một số lượng khán giả đông đảo với sự cuồng nhiệt hiếm có. Galli-Curci không phải là một giọng kịch tính. Âm sắc của bà quá nhẹ và thiếu sự kịch tính để vào những vai diễn nặng hơn như Aida (Aida, Verdi), Norma (Norma, Bellini) hoặc các vai chính trong opera của Giacomo Puccini như Tosca hay Turandot. Nhà phê bình James Gibbons Huneker đã miêu tả bà một cách hài hước: “Thú vị như soda. Bà thật ngọt ngào, nhẹ nhàng và gợi lên một sự quyến rũ nhất định”. Sự xuất sắc của bà trong vai những cô gái nhẹ nhàng và quyến rũ ấn tượng đến nỗi không nhiều người muốn Galli-Curci xuất hiện với tính cách dữ dội như Turandot hay Lady Macbeth (Macbeth, Verdi). Năm 1928, Galli-Curci chuyển đến sinh sống tại một điền trang tại Highmount, New York mà bà gọi là “Sul monte” – trên núi. Tuy nhiên, không phải ai cũng hài lòng với sự thiếu đa dạng trong phong cách của Galli-Curci. Nellie Melba, người hiếm khi có thái độ thân thiện với những soprano khác đã dè bỉu: “Người phụ nữ đó hát toàn bị thấp hoặc cao hơn cao độ. Cô ấy chưa bao giờ có thể hát”. Không vừa, Galli-Curci đáp trả: “Khi bà ấy hát xong “Lo hear the gentle lark” (Kìa, hãy lắng nghe chim sơn ca dịu dàng hót), bạn sẽ nghĩ rằng mình vừa nghe một con gà tây”.
Galli-Curci bắt đầu gặp những khó khăn với giọng hát của mình. Lần cảnh báo đầu tiên diễn ra vào tháng 1/1928 Charleston, Tây Virginia khi bệnh viêm thanh quản buộc bà phải huỷ bỏ một buổi hoà nhạc. Công chúng vẫn đối xử tử tế với bà, bất chấp việc giọng hát chỉ được phát ra từ sườn núi, thay vì đỉnh núi. Không hề dễ dàng để từ bỏ những gì mình đã vất vả bao năm trời để hoàn thiện, chưa kể đó là nguồn cung cấp danh tiếng và lợi nhuận cho mình, Galli-Curci cố gắng thực hiện một chuyến lưu diễn tại vùng Viễn Đông trong bốn tháng năm 1929. Sự hoan nghênh của khán giả tại đây đã thắp lên niềm tin cho bà. Tuy nhiên, Galli-Curci đã dần dần phải từ bỏ những màn khoe giọng màu sắc cao chót vót với những nốt Mi, Pha cao để chuyển hướng sang những vai trữ tình nhẹ nhàng và có âm vực thấp hơn. Bà thậm chí còn nói về việc từ bỏ opera, chê bai chúng có tính cách giả tạo và cổ hủ. Nếu Galli-Curci nghi ngờ opera, thì Gatti-Casazza lại nghi ngờ chính bà. Buổi biểu diễn cuối cùng của bà tại Metropolitan Opera đã diễn ra vào ngày 24/1/1930 trong Rosina, khép lại một mối quan hệ kéo dài 10 năm trong khoảng 100 đêm diễn.
Trước đó, Galli-Curci đã gặp thất bại trong đầu tư chứng khoán và bà đã lên kế hoạch cho một chuyến lưu diễn tại châu Âu vào năm 1930 để giành lại những gì đã mất. Tuy nhiên, đó lại là một thất bại. Bà muốn hát những gì “mới lạ” nhưng khán giả khăng khăng muốn chứng kiến Galli-Curci trong những Rosina, Gilda, Violetta quen thuộc với các nốt nhạc cao chót vót và màn trình diễn đậm màu sắc kỹ thuật, những điều đã làm nên tên tuổi Galli-Curci. Căn bệnh viêm thanh quản đã khiến việc thể hiện chúng là vô cùng khó khăn. Những nhà phê bình tại Prague và Budapest đã chê bai tài năng được đánh giá quá cao của bà: “Một nghệ sĩ violin vĩ đại, rất vĩ đại chơi trên một xác đàn với những sợi dây liên tục bị võng xuống”. Galli-Curci kiên quyết không thừa nhận thất bại, đã phản đòn: “Chỉ có thể thưởng thức món goulash (thịt hầm) với ớt bột chứ không phải rượu sâm panh của Pháp”. Thể hiện những nốt nhạc coloratura giống như nhào lộn trên sợi dây thép. Công chúng chờ đợi các nốt cao và mong muốn người ca sĩ thể hiện trình độ kỹ thuật của mình. Và khi thất bại, cái họ gánh chịu sẽ là sự chê bai và dè bỉu. Galli-Curci lui về Sul monte để làm vườn, chơi gôn và đọc sách trong một mùa hè. Cảm thấy hồi phục và tin rằng mình đã đi đúng hướng, bà bắt đầu lại các chuyến lưu diễn. Tuy nhiên, buổi hoà nhạc tại Savoy, San Diego vào ngày 26/3/1934 đã cho thấy bà đã ở trong giai đoạn hoàng hôn của sự nghiệp. Tất cả các bài hát trong chương trình đã phải dịch giọng xuống cho phù hợp với cữ âm hiện tại của Galli-Curci. Ngày 10/8/1935, Galli-Curci phải thực hiện một cuộc phẫu thuật để loại bỏ khối bướu cổ nặng 650 gram chèn ép lên khí quản của bà, nó tồn tại từ 15 năm trước, khiến thanh quản khó lưu thông không khí. Dù giọng hát và hơi thở đã được cải thiện nhưng bà vẫn thiếu tự tin. Giống như một ngọn lửa sắp tắt, giọng hát của bà ngày càng ảm đạm và mờ nhạt dần.
Buổi biểu diễn cuối cùng của Galli-Curci diễn ra vào ngày 24/11/1936 tại Opera Chicago trong Mimì (La Bohème, Puccini) nhưng hoàn toàn là một thất bại. Bà trải qua phần đời còn lại trong lặng lẽ nhưng hạnh phúc bên người chồng thứ hai. Bà cũng dạy thanh nhạc nhằm duy trì tình yêu của mình với ca hát. Và khi Samuels qua đời, Galli-Curci chủ yếu sống tại Rancho Santa Fe, San Diego, luyện tập yoga, làm bạn với piano, sách, hội họa và những kỷ niệm của mình. Phương châm sống của bà là: đơn giản, chân thanh và thanh thản. Bà qua đời ở La Jolla vào ngày 26/11/1963, thọ 81 tuổi vì căn bệnh khí phế thũng. Thi hài của bà được hỏa táng và tro được đặt tại Cypress View Mausoleum, San Diego. Phần lớn tài sản của Galli-Curci được dùng cho việc đào tạo các tài năng âm nhạc trẻ. Harold C. Schonberg đã tri ân Galli-Curci trên New York Times sau khi nhận được tin bà qua đời: “Bà là một trong những giọng màu sắc bóng bẩy nhất từng xuất hiện trước công chúng”.
Sở hữu một kỹ thuật thanh nhạc thượng thừa, âm vực rộng hơn hai quãng tám, có thể lên đến f5 nhưng điều khiến Galli-Curci có thể duy trì được tên tuổi của mình ở đỉnh cao trong nhiều năm tháng đến từ việc bà đào sâu tư duy trong từng vai diễn, khiến mỗi buổi biểu diễn của bà tạo nên sự khác biệt so với những soprano danh tiếng khác, với những đoạn nhạc kéo dài mơ màng tưởng chừng như không bao giờ kết thúc. Galli-Curci có một cách đặc biệt để khiến “giọng hát mình nghe như tiếng rì rào của một con suối ở xa” như nhà phê bình John Steane đã nhận xét. Đó là giọng hát của một thiên thần, của một con chim sơn ca đang trút tâm hồn mình với sự ngây ngất từ một thế giới nội tâm đa dạng, phong phú, sâu sắc đến thế giới bên ngoài đang khao khát được thưởng thức một vẻ đẹp hiếm có.
Cobeo






