boston symphony orchestra
Boston Symphony Orchestra là một trong những dàn nhạc nổi tiếng và lâu đời nhất nước Mỹ. Boston Symphony Orchestra là thành viên của nhóm Big Five (5 dàn nhạc lớn tại nước Mỹ, cùng với New York Philharmonic, Chicago Symphony Orchestra, Philadelphia OrchestraCleveland Orchestra). Có trụ sở tại thành phố Boston, dàn nhạc được doanh nhân Henry Lee Higginson thành lập vào năm 1881. Higginson đã miêu tả lại kế hoạch của mình: “Tháng 2/1881, tôi lên kế hoạch cho một dự án được hình thành từ 25 trước đó (1856), cụ thể là tổ chức các chương trình hoà nhạc với chất lượng và đặc tính tốt nhất có thể với mức giá khiến bất cứ ai quan tâm đều có thể tiếp cận được – mơ ước của tôi là có thể lôi kéo được một số lượng lớn tầng lớp ít học trong xã hội – tôi muốn có một dàn nhạc và nhạc trưởng bên cạnh bởi vì điều này giúp tô có thể học hỏi và tiến hành với đầy đủ số lượng và chất lượng tiếp cận với các dàn nhạc của Đức”. Và ngày 30/3/1881, Higginson đã công bố trên báo chí tại Boston về kế hoạch thành lập Boston Symphony Orchestra của mình. Trong năm đầu tiên, dàn nhạc chỉ thuê những nhạc công địa phương. Mùa diễn đầu tiên bao gồm một chuỗi 20 buổi hoà nhạc với giá vé trọn mùa là 5 và 10 đô la. Vé riêng của từng chương trình dao động từ 25-75 cent. Các buổi tổng duyệt diễn ra vào buổi chiều cũng được bán với giá 25 cent cho khán giả. Trong những năm đầu tiên, địa điểm biểu diễn của dàn nhạc là Boston Music Hall. Từ năm 1900, trụ sở của dàn nhạc được chuyển sang Symphony Hall, có sức chứa 2.625 chỗ ngồi, được đánh giá là một trong những phòng hoà nhạc có âm thanh tốt nhất trên thế giới.
Buổi biểu diễn đầu tiên của Boston Symphony Orchestra diễn ra vào ngày 22/10/1881 tại Boston Music Hall với nhạc trưởng là giám đốc âm nhạc đầu tiên George Henschel. Chương trình gồm một bản giao hưởng của Haydn và các tác phẩm khác của Beethoven, Gluck, Bruch, SchubertWeber. Henschel là một giọng nam trung, nghệ sĩ piano và nhạc trưởng người Đức. Ông là bạn thân của Brahms. Trong những năm đầu tiên của dàn nhạc, các nhạc công được yêu cầu phải sẵn sàng tử thứ Tư đến thứ Bảy trong suốt mùa diễn và cam kết không chơi cho bất kỳ dàn nhạc nào, nhạc trưởng nào khác ngoại trừ Handel and Haydn Society.
Henschel đảm nhiệm cương vị của mình cho đến năm 1884 và nhường lại vị trí cho nhạc trưởng người Áo Wilhelm Gericke. Higginson lựa chọn Gericke vì đã từng thưởng thức các buổi biểu diễn của ông tại Vienna. Dưới sự chỉ đạo của ông, Boston Symphony Orchestra bắt đầu tuyển dụng nhạc công từ nơi khác, kể cả châu Âu để tăng cường chất lượng cho dàn nhạc. Gericke tập trung vào các tác phẩm âm nhạc cổ điển thuần tuý, loại bỏ những thứ âm nhạc nhẹ nhàng khác mà người tiền nhiệm đã đưa vào. Boston Pops Orchestra được thành lập năm 1885 với nhạc công hầu hết là từ Boston Symphony Orchestra (chỉ trừ những nhạc công bè trưởng) để chơi thứ âm nhạc nhẹ nhàng này. Gericke làm giám đốc âm nhạc của Boston Symphony Orchestra trong hai giai đoạn, từ 1884-1889 và 1898-1906. Dưới nhiệm kỳ của ông, chất lượng dàn nhạc đã được gia tăng đáng kể.
Nhạc trưởng nổi tiếng người Hungary Arthur Nikisch là giám đốc âm nhạc tiếp theo của Boston Symphony Orchestra. Trước khi đến Mỹ, Nikisch đã gây dựng được danh tiếng cho mình như là một trong những tài năng nổi bật nhất và là thông dịch viên vĩ đại với các tác phẩm của Bruckner, Tchaikovsky, Beethoven và Liszt. Nikisch gắn bó với Boston Symphony Orchestra từ năm 1889-1893. Trở về châu Âu, sau một thời gian ngắn làm giám đốc của Nhà hát hoàng gia, Budapest, Nikisch là nhạc trưởng chính tại cả Leipzig Gewandhaus Orchestra và Berlin Philharmonic, 2 trong số những dàn nhạc xuất sắc nhất thế giới.
Emil Paur, nhạc trưởng người Áo trở thành giám đốc âm nhạc tiếp theo của Boston Symphony Orchestra, nối tiếp truyền thống các nhạc trưởng của dàn nhạc đều được đào tạo tại Áo. Nhiệm kỳ của Paur kéo dài tới năm 1898 và sau đó ông chuyển sang làm giám đốc âm nhạc của New York Philharmonic.
Sau một nhiệm kỳ thứ hai của Gericke, năm 1906, Boston Symphony Orchestra bổ nhiệm nhạc trưởng người Đức Karl Muck làm giám đốc âm nhạc tiếp theo. Muck cũng gắn bó với dàn nhạc trong hai giai đoạn, từ 1906-1908 và 1912-1918. Ban đầu, Muck trung thành với những tác phẩm Đức-Áo vốn là thế mạnh của ông nhưng sau đó, để mở rộng danh mục biểu diễn của dàn nhạc cũng như đáp ứng nhu cầu của khán giả, ông đã chỉ huy nhiều tác phẩm của các tác giả Pháp. Không quá hứng thú với âm nhạc đương đại nhưng Muck cũng là người giới thiệu các tác phẩm của Schoenberg, Sibelius và Debussy tới Boston. Khi Mỹ tham gia vào cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1917, Muck đã đề nghị từ chức vì lo sợ nguồn gốc Đức của mình (mặc dù ông mang quốc tịch Thuỵ Sĩ) sẽ gây ra những bất lợi cho dàn nhạc nhưng Higginson đã thuyết phục được ông thay đổi ý kiến. Bên cạnh đó việc Boston Symphony Orchestra từ chối chơi The Star-Spangled Banner (quốc ca Mỹ) trước các buổi hoà nhạc cũng là lý do khiến rất nhiều người chỉ trích Muck, mặc dù trên thực tế đó là quyết định của Higginson và người quản lý dàn nhạc Charles A. Ellis. Nhiệm kỳ của Muck với Boston Symphony Orchestra kết thúc vào ngày 25/3/1918 khi ông bị bắt vì những nghi ngờ liên quan đến nguồn gốc Đức của ông. Ông bị trục xuất khỏi nước Mỹ vào năm 1919. Mặc dù có một kết thúc không tốt đẹp nhưng Muck được ghi nhận là đã biến Boston Symphony Orchestra thành một dàn nhạc điêu luyện.
Xen giữa hai nhiệm kỳ của Muck là sự xuất hiện của nhạc trưởng người Đức Max Fiedler. Ông được Muck giới thiệu và Higginson chấp thuận. Trong nhiệm kỳ 4 năm của mình, Fiedler bị một số chỉ trích, chủ yếu do cách lựa chọn và diễn giải tác phẩm của ông “chỉ nhằm mục đích làm hài lòng công chúng hơn là những người chuyên nghiệp”. Một điểm nhấn trong sự hợp tác giữa Fiedler và Boston Symphony Orchestra là buổi công diễn ra mắt trên phạm vi toàn thế giới bản giao hưởng “Ba Lan” của Paderewski vào ngày 12/2/1909.
Năm 1918, vì nguyên nhân chiến tranh dẫn tới tình trạng tài chính sụt giảm nghiêm trọng, Higginson quyết định chuyển giao dàn nhạc quyền quản lý dàn nhạc và một hội đồng quản trị được thành lập vào ngày 27/4/1918. Nhạc trưởng người Pháp Henri Rabaud được bổ nhiệm làm giám đốc dàn nhạc tiếp theo, phá vỡ truyền thống Đức-Áo của Boston Symphony Orchestra. Mặc dù giữ cương vị này trong một mùa diễn nhưng Rabaud chính là người khởi đầu cho truyền thống Pháp của dàn nhạc được duy trì cho đến tận ngày hôm nay.
Người kế nhiệm là một trong những nhạc trưởng người Pháp xuất sắc nhất vào thời điểm đó Pierre Monteux. Đây là một trong những giai đoạn thoái trào nhất của dàn nhạc. Hơn 30 nhạc công, trong đó có 2 bè trưởng đã nghỉ việc. Nhiều nhạc trưởng, trong đó có Henry Wood, Arturo Toscanini và cả Sergei Rachmaninov đã từ chối đảm nhiệm vị trí này cho đến khi Monteux nhận lời. Và ông đã bắt tay vào việc xây dựng lại dàn nhạc, thử việc rất nhiều nhạc công, kể cả những người không chơi nhạc cổ điển trước đó. Và sau mùa diễn đầu tiên, về cơ bản dàn nhạc đã ổn định trở lại. Đúng với phong cách thường thấy, Monteux là người cổ vũ tích cực cho âm nhạc đương đại. Ông biểu diễn nhiều tác phẩm mới của các nhà soạn nhạc đương đại của Mỹ, Pháp, Anh và tỏ ra rất tự hào về điều này. Dưới triều đại của Monteux, phong cách Pháp của Boston Symphony Orchestra ngày càng được củng cố và đã trở thành một trong những dàn nhạc tinh tế nhất trên thế giới. Tuy nhiên, ông không được gia hạn hợp đồng sau năm 1924. Lời giải thích chính thức đưa ra là dàn nhạc chưa có chính sách duy trì qua năm năm với một nhạc trưởng, một điều rất khó được chấp nhận. Nguyên nhân chính có lẽ thuộc về phạm trù đạo đức khi thời gian này Monteux đang sống với một phụ nữ khác dù chưa li dị người vợ của mình.
Nhạc trưởng người Nga Serge Koussevitzky được bổ nhiệm làm giám đốc âm nhạc tiếp theo của dàn nhạc. Koussevitzky từng theo học chỉ huy với chính Nikisch. Trước khi tới Mỹ, Koussevitzky có một thời gian hoạt động âm nhạc tại Pháp và nhờ đó, đã duy trì được phong cách Pháp đặc trưng của dàn nhạc. Nhiệm kỳ của Koussevitzky kéo dài 25 năm, tới tận năm 1949, biến lời giải thích với Monteux thành trò cười. Koussevitzky đã thực hiện chương trình truyền thanh trực tiếp đầu tiên của dàn nhạc trên sóng đài NBC, thu hút tới hơn một triệu người xem. Đây được coi là khởi đầu cho kỷ nguyên vàng của dàn nhạc. Boston Symphony Orchestra ngày càng khẳng định được mình là một trong những dàn nhạc hàng đầu nước Mỹ. Ngoài việc duy trì phong cách tinh tế, duyên dáng của dàn nhạc, Koussevitzky cũng tiếp tục truyền thống của Monteux khi biểu diễn rất nhiều tác phẩm âm nhạc đương đại. Koussevitzky đã đặt hàng một số nhà soạn nhạc sáng tác các tác phẩm dành riêng cho dàn nhạc như Prokofiev (Giao hưởng số 4), Gershwin (Rhapsody số 2) và Stravinsky (Symphony of Psalms). Năm 1942, ông thành lập một quỹ mang tên mình với mục đích hỗ trợ các nhà soạn nhạc trong việc sáng tác và biểu diễn những tác phẩm mới của mình. Nhiều tác giả đã hưởng lợi từ hoạt động này như Britten (Peter Grimes) Bartók (Concerto cho dàn nhạc), Copland (Giao hưởng số 3) hay Messiaen (Turangalîla-Symphonie).
Ngày 13/8/1936, Koussevitzky đã chỉ huy Boston Symphony Orchestra tại Berkshires trong một chương trình hoà nhạc mùa hè được Gertrude Robinson Smith giới thiệu. Một năm sau, địa điểm được đổi thành Tanglewood. Từ đó đến nay, lễ hội truyền thống Tanglewood Music Center đã kéo dài hơn 80 năm và Koussevitzky đóng vai trò trung tâm trong việc phát triển các chương trình giáo dục và hoà nhạc mùa hè tại đây. Bên cạnh việc tổ chức hoà nhạc. Tanglewood Music Center còn là nơi tuyển chọn các sinh viên ưu tú tới học tập với các thành viên của dàn nhạc cũng như giảng viên khách mời. Phòng hoà nhạc ngoài trời chính của lễ hội được lấy theo tên ông (gọi là Nhà kho Koussevitzky) có sức chứa hơn 5.000 chỗ ngồi được coi là ngôi nhà mùa hè của dàn nhạc. Từ năm 1954, Tanglewood Music Center cũng trao giải thưởng mang tên Koussevitzky cho những sinh viên nhạc trưởng xuất sắc. Những người nổi tiếng từng được trao giải là Seiji Ozawa (1960) – người sau này cũng trở thành giám đốc âm nhạc của Boston Symphony Orchestra và Michael Tilson Thomas (1969). Cùng với dàn nhạc, Koussevitzky đã tiến hành nhiều bản thu âm, hầu hết là với RCA Victor và có chất lượng nghệ thuật rất cao. Sau khi chia tay Boston Symphony Orchestra vào năm 1949, Koussevitzky đã tiến cử Leonard Bernstein là người thay thế nhưng cuối cùng dàn nhạc đã lựa chọn nhạc trưởng người Pháp Charles Munch làm giám đốc âm nhạc tiếp theo.
Sự kiện Munch nắm quyền tại Boston Symphony Orchestra đồng nghĩa với việc dàn nhạc tiếp tục duy trì phong cách Pháp tinh tế, duyên dáng của mình. Trong thời kỳ của mình, Munch được coi là nhạc trưởng xuất sắc với các tác phẩm của Debussy, Ravel và Berlioz. Mặc dù vậy, ông cũng không hề rời xa các tác giả “kinh điển” khác như Bach, Haydn, Mozart, Beethoven, Schubert, Schumann, Brahms và Wagner. Trong 13 năm nắm quyền của mình, Munch đã giới thiệu tới khán giả rất nhiều các tác phẩm mới, ra mắt lần đầu nhiều sáng tác trên phạm vi nước Mỹ cũng như toàn thế giới. Phong cách chỉ huy của Munch được coi là cởi mở và thoải mái hơn một Koussevitzky độc đoán.
Có nhiều điểm nhấn đáng chú ý trong nhiệm kỳ của Munch với Boston Symphony Orchestra. Ông tích cực mời những nhạc trưởng khác tham gia chỉ huy cùng dàn nhạc, cả tại Boston và Tanglewood, trong đó nổi bật là sự trở lại của Monteux sau 25 năm. Dưới sự chỉ huy của Munch, Boston Symphony Orchestra cũng tích cực lưu diễn bên ngoài Boston hơn. Năm 1952, Boston Symphony Orchestra lần đầu tiên xuất ngoại khi biểu diễn tại châu Âu. Họ có chuyến lưu diễn vòng quanh nước Mỹ lần đầu tiên vào năm 1953. Năm 1956, Boston Symphony Orchestra là dàn nhạc Mỹ đầu tiên biểu diễn tại Liên Xô. Năm 1960, là tại các nước Đông Á và Úc. Danh tiếng quốc tế của Boston Symphony Orchestra chính thức được thừa nhận. Ông cũng tiếp tục duy trì truyền thống từ thời Koussevitzky khi thực hiện nhiều bản thu âm (mono và stereo từ tháng 2/1954) cho RCA Victor. Boston Symphony Orchestra cũng bắt đầu thực hiện các chương trình hoà nhạc trên hệ thống truyền hình Mỹ. Một sự kiện đáng nhớ diễn ra trong nhiệm kỳ của Munch xảy ra vào năm 1952 khi ông bổ nhiệm Doriot Anthony Dwyer làm bè trưởng bè flute, lần thứ hai trong lịch sử, một người phụ nữ đảm nhiệm cương vị bè trưởng bộ hơi tại các dàn nhạc lớn của Mỹ (người đầu tiên là Helen Kotas, bè trưởng bè horn tại Chicago Symphony Orchestra).
Nhạc trường người Áo Erich Leinsdorf được bổ nhiệm vào năm 1962. Cùng với Boston Symphony Orchestra, Leinsdorf tiếp tục thực hiện nhiều bản thu âm với RCA Victors. Ngày 22/11/1963, trong một chương trình hoà nhạc, ông đã thông báo với khán giả việc tổng thống John F. Kennedy bị ám sát và ngay sau đã chỉ huy chương Hành khúc tang lễ trong bản giao hưởng số 3 của Beethoven. Nhiệm kỳ của Leinsdorf gây ra nhiều tranh cãi vì ông liên tục có những xung đột với nhạc công và ban quản trị dàn nhạc. Ông chia tay dàn nhạc vào năm 1969 và một dấu son mà ông để lại cho Boston Symphony Orchestra là vào năm 1964, Leinsdorf cho thành lập Boston Symphony Chamber Players, dàn nhạc thính phòng với những nhạc công tài năng nhất của Boston Symphony Orchestra. Cho đến ngày nay, Boston Symphony Chamber Players là mô hình dàn nhạc thính phòng duy nhất được hình thành từ một dàn nhạc giao hưởng.
Nhạc trưởng người Đức William Steinberg được lựa chọn là người thay thế. Nổi tiếng với phong cách đơn giản nhưng đầy biểu cảm, Steinberg đã chiếm được cảm tình của các nhạc công trong dàn nhạc. Cách diễn giải của ông là một hình mẫu của sự kiểm soát chặt chẽ nhưng cũng bộc lộ đầy uy quyền, nổi bật với những tác phẩm của Beethoven, Brahms, Bruckner, Mahler, Strauss và Wagner. Gu âm nhạc của ông khá đặc biệt, đôi khi dẫn đến việc xung khắc với những nghệ sĩ độc tấu trong các bản concerto như đã từng khiến nghệ sĩ violin danh tiếng Nathan Milstein huỷ bỏ buổi biểu diễn với ông. Tuy nhiên, trong thời kỳ ở Boston Symphony Orchestra, sức khoẻ của Steinberg không đảm bảo, ông hay bị đau ốm và chia tay dàn nhạc vào năm 1972. Trước đó, năm 1970, Tanglewood Festival Chorus được thành lập.
Boston Symphony Orchestra đã tiếp cận Colin Davis tuy nhiên, ông vừa mới đảm nhận cương vị giám đốc âm nhạc của Covent Garden nên đã từ chối, Davis chỉ đồng ý trở thành nhạc trưởng khách mời, cương vị ông nắm giữ tới năm 1984. Bernstein tiến cử Michael Tilson Thomas, người từng làm trợ lý dưới thời Steinberg nhưng Thomas không nhận được sự ủng hộ của các nhạc công, ông chỉ trở thành nhạc trưởng khách mời chính từ năm 1972-1974. Cuối cùng người được lựa chọn là nhạc trưởng người Nhật Bản Seiji Ozawa. Nhiệm kỳ của ông bắt đầu từ năm 1973 và kết thúc vào năm 2002, kéo dài 29 năm, nhiều hơn bất cứ một giám đốc âm nhạc nào khác trong lịch sử của Boston Symphony Orchestra.
Từng là nhạc trưởng khách mời của dàn nhạc từ những năm 1960, những năm đầu của Ozawa với Boston Symphony Orchestra diễn ra rất tốt đẹp. Ozawa đã duy trì được truyền thống của dàn nhạc, thực hiện nhiều buổi hoà nhạc và thu âm có chất lượng rất cao. Ông cũng đa dạng hoá dàn nhạc khi ký kết hợp đồng thu âm với nhiều hãng khác nhau như Deustche Grammophon, EMI, Philips thay vì chỉ gắn bó với RCA Victor. Tháng 12/1979, Boston Symphony Orchestra dưới sự chỉ huy của Ozawa đã đi lưu diễn tại Trung Quốc, là dàn nhạc Mỹ đầu tiên thực hiện điều này sau khi bình thường hoá quan hệ. Dàn nhạc đã biểu diễn bản giao hưởng số 9 của Beethoven, lần đầu tiên từ năm 1961, tác phẩm được vang lên tại Bắc Kinh do lệnh cấm âm nhạc phương Tây.
Tuy nhiên, những năm về sau, Ozawa cũng hứng chịu nhiều chỉ trích từ phía những nhà phê bình âm nhạc. Họ cho rằng âm thanh toả sáng đầy dịu dàng và tao nhã được tạo dựng từ thời Monteux và Munch đã bị phá hỏng. Mặc dù vậy, ban quản trị Boston Symphony Orchestra và nhiều người khác, trong đó có André Previn đã bảo vệ Ozawa. Từ năm 1995, Bernard Haitink đã được bổ nhiệm làm nhạc trưởng khách mời chính của dàn nhạc, công việc mà ông thực hiện đến năm 2004. Mâu thuẫn của Ozawa và Boston Symphony Orchestra được tích tụ lại theo thời gian và bùng nổ vào cuối những năm 1990 khi Ozawa can thiệp quá sâu vào công việc tại Tanglewood Music Center. Ông sa thải Richard Ortner, người quản lý lễ hội dẫn đến việc nhiều giảng viên, cũng là những nghệ sĩ nổi tiếng như Leon Fleisher đã từ chức. Năm 1999, Ozawa thông báo sẽ nghỉ việc tại Boston Symphony Orchestra sau khi hết nhiệm kỳ vào năm 2002. Ozawa đã được dàn nhạc trao tặng danh hiệu Nhạc trưởng danh dự.
Năm 2004, James Levine đảm nhận cương vị giám đốc âm nhạc tiếp theo của Boston Symphony Orchestra. Thật đáng ngạc nhiên khi sau hơn 120 năm thành lập, lần đầu tiên trong lịch sử khi có một nhạc trưởng sinh ra tại Mỹ đảm nhận cương vị này. Là một trong những nhân vật nổi bật nhất trong nền âm nhạc cổ điển Mỹ đương đại, ông đồng thời là giám đốc âm nhạc tại Metropolitan Opera. Với sự xuất hiện của ông, Boston Symphony Orchestra được thổi một luồng sinh khí mới. Các nhà phê bình đã công nhận ông đã hồi sinh chất lượng biểu diễn của dàn nhạc cũng như tạo ra một danh đa dạng hơn với nhiều tác phẩm mới. Năm 2006, bso.org, trang web chính thức của dàn nhạc được thành lập. Đây là trang web dành cho dàn nhạc lớn nhất và được truy cập nhiều nhất ở Mỹ. Năm 2009, dàn nhạc ra mắt BSO Classics, hãng thu âm của riêng họ. Điểm nổi bật trong di sản của Levine tại Boston Symphony Orchestra là ông đã thành lập “Quỹ sáng kiến nghệ thuật”, thu hút được hơn 40 triệu đô la với mục đích sử dụng cho các dự án đồ sộ của ông với dàn nhạc. Tuy nhiên, các vấn đề về sức khoẻ liên tiếp xảy ra với Levine. Và vào ngày 1/9/2011, ông tuyên bố từ chức giám đốc âm nhạc tại Boston Symphony Orchestra.
Tháng 3/2011, nhạc trưởng người Latvia Andris Nelsons lần đầu chỉ huy Boston Symphony Orchestra với tư cách người thay thế khẩn cấp cho Levine chỉ huy bản giao hưởng số 9 của Mahler tại Carnegie Hall. Nelsons đã được chính thức bổ nhiệm làm giám đốc âm nhạc tiếp theo cho Boston Symphony Orchestra từ năm 2014. Nelsons được công nhận là một trong những nhạc trưởng tài năng nhất thuộc thế hệ mình. Từ năm 2017, ông còn đảm nhiệm thêm nhiệm vụ là Kapellmeister của Leipzig Gewandhaus Orchestra. Theo thời gian Boston Symphony Orchestra tiếp tục phát huy và mở rộng tầm nhìn của người sáng lập Henry Lee Higginson, qua các buổi biểu diễn hoà nhạc, các dịch vụ giáo dục và sự hiện diện trên internet để đưa nhạc cổ điển ngày càng tiếp cận được với nhiều khán giả hơn nữa.
Ngọc Tú
Nguồn: