Thông tin chung

Tác giả: Johannes Brahms.
Tác phẩm: Tứ tấu piano số 1 giọng Son thứ, Op. 25
Thời gian sáng tác: Từ 1856-1861.
Công diễn lần đầu: Năm 1861 tại Hamburg.
Độ dài: Khoảng 40 phút.
Đề tặng: Tác phẩm được đề tặng cho nam tước Reinhard von Dalwigk.
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Allegro (Son thứ)
Chương II – Intermezzo: Allegro ma non troppo – Trio: Animato (Đô thứ – Đô trưởng)
Chương III – Andante con moto (Mi giáng trưởng)
Chương IV – Rondo alla Zingarese: Presto (Son thứ)

Hoàn cảnh sáng tác

Ngay trước khi bước sang tuổi 30, Brahms đã chuyển đến sinh sống tại Vienna, trung tâm âm nhạc của châu Âu, cũng giống như Beethoven vào những năm 1790. Brahms ý thức sâu sắc về việc kế thừa nhà soạn nhạc thần tượng của mình, ông đã nói: “Bạn không biết cảm giác thế nào khi nghe phía sau mình bước chân của một người khổng lồ như Beethoven!” Chính vì vậy, Brahms luôn né tránh các bản giao hưởng và tứ tấu đàn dây cho đến khi ngoài 40 tuổi, những thể loại mà Beethoven là người thống trị. Trong giai đoạn tuổi 30 của mình, Brahms đã tổng hợp được đầy đủ những ảnh hưởng từ Bach, BeethovenSchubert vào một loạt những tác phẩm thính phòng xuất sắc, nhưng thường được sáng tác cho những kết hợp nhằm tránh đi sự so sánh với những mô hình nổi trội trước đó, mà trong đó Tứ tấu piano số 1 là một ví dụ nổi bật.

Tác phẩm này được Brahms sáng tác trong một khoảng thời gian khá lâu. Nó được bắt đầu từ năm 1856, nhưng sau đó chỉ được ông hoàn thiện vào năm 1861 ở Hamburg. Là người rất kính trọng và tin tưởng Clara Schumann, Brahms luôn gửi bản thảo của mình cho bà để xin ý kiến. Và trong buổi biểu diễn lần đầu tiên tác phẩm này, Clara đã đảm nhiệm phần piano dù rằng bà tỏ ra không thích sự mở rộng quá mức ở chương I cũng như cách mà Brahms xử lý một số nguyên tắc âm nhạc một cách khác thường. Tuy nhiên, về tổng thể Clara khá hài lòng với tác phẩm, đặc biệt là chương II. Bản tứ tấu piano này có một quy mô rộng lớn, một kiến trúc âm nhạc khá phức tạp, rất gần với một bản giao hưởng. Chương cuối, là một thứ âm nhạc gypsy đặc trưng, không lẫn vào đâu được của Brahms.

Phân tích tác phẩm

Chương I

Chương I chậm rãi, khá u ám là một trong những chương nhạc có cấu trúc sonata phức tạp nhất mà Brahms đã từng viết. Cũng giống như chương I bản Giao hưởng số 5 của Beethoven, cũng từ 4 nốt nhạc, Brahms đã xây dựng nên chương nhạc này. 4 nốt nhạc, được piano trình bày ở các quãng 8, tiếp theo là 4 nốt tương tự nhưng được lộn ngược. Có đến 4 chủ đề được giới thiệu trong phần trình bày này. Ngoài chủ đề đầu tiên ở chủ âm, chủ đề thứ hai ở giọng Si giáng trưởng cho tất cả các nhạc cụ. Chủ đề thứ ba ở giọng Rê thứ được cello độc tấu. Chủ đề thứ tư ở giọng Rê trưởng. Trong phần phát triển, toàn bộ các chủ đề trên đều được đề cập đến và mở rộng chúng theo những cách khác nhau. Phần tái hiện, bất ngờ khi Brahms bắt đầu không với chủ đề đầu tiên mà với chủ đề thứ hai ở giọng Son trưởng, dù chỉ trong một khoảng thời gian ngắn trước khi trở về giọng Son thứ. Phần coda ngắn gọn nhưng ngọt ngào mở đầu dành riêng cho đàn dây và sau đó căng thẳng, bừng cháy trong niềm đam mê và rồi thoát ra một cách lặng lẽ.

Chương II

Chương II là có cấu trúc 3 đoạn đơn giản đóng vai trò như một scherzo. Chủ đề một nhẹ nhàng với dàn dây chơi tắt tiếng và piano thì thầm đầy biểu cảm (dolce e espressivo). Các nốt móc đơn được lặp lại liên tục tạo ra hiệu ứng của một perpetuum mobile, nhịp độ vừa phải, dịu dàng, biểu cảm, khiến không khí trở nên nhẹ nhõm. Nhiều nhà phê bình cho rằng đây là một cách bày tỏ kín đáo tình cảm của Brahms dành cho Clara. Ở đây, Brahms đã sử dụng motif 5 nốt nhạc mà Schumann đã từng sử dụng trước đó Đô-Si-La-Son-La (CBAGA, thay B thành L và G thành R, ta có tên CLARA).

Chương III

Chương III là chương chậm cũng ở dạng 3 đoạn được mở đầu với một chủ đề trữ tình đầy du dương đẹp mê đắm ở giọng Mi giáng trưởng. Đàn dây chơi những giai điệu rộng rãi trên nền đệm piano ở âm vực thấp. Sự căng thẳng dần dần tăng lên, nhịp điệu dần chuyển sang một hành khúc ở giọng Đô trưởng cuối cùng xây dựng thành một cao trào lớn.

Chương IV

Cách đặt tên cho chương IV của Brahms đã khiến chương nhạc này còn được gọi là Gyspy Rondo. Âm nhạc mang đặc trưng phong cách của Brahms mà ông ảnh hưởng từ nghệ sĩ violin người Hungary Ede Reményi trong những chuyến lưu diễn cùng nhau trước đó. Đây chính là chương nhạc bảo đảm cho sự thành công và nổi tiếng của bản tứ tấu piano. Tiếng piano được Brahms mô phỏng theo tiếng cimbalom, một nhạc cụ thường được chơi tại các nước trung và tây Âu như Hungary hay Romania. Nghệ sĩ violin người Hungary Joseph Joachim vừa hoàn thành một bản concerto violin mang “phong cách Hungary” sau khi nghe tác phẩm này của Brahms đã tuyên bố “thua ngay trên sân nhà mình”. Chương nhạc quyến rũ, say đắm là một trong những điều tuyệt vời nhất mà Brahms từng sáng tác.

Toàn bộ tác phẩm dường như liên tục muốn cố gắng vượt ra ngoài hình hài của mình, hướng tới một phạm vi biểu đạt rộng lớn hơn về màu sắc, sự giao thoa và kết cấu của một dàn nhạc. Những khuynh hướng này đã được Arnold Schoenberg cảm nhận được đầy đủ. Năm 1937, Schoenberg đã có một phiên bản chuyển soạn bản tứ tấu piano này dành cho dàn nhạc.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
abc.net
hyperion-records.co.uk
friendsofmusicconcerts.org

Bình luận Facebook