“Hans Hotter là một ca sĩ xuất sắc, được trời phú cho một giọng hát vang rền độc đáo, thanh thoát và có thể dễ dàng nhận biết. Khi còn là ca sĩ trẻ, tôi đã có hai bản thu âm Winterreise, một của Dietrich Fischer-Dieskau và cái khác của Hans Hotter. Sau chủ nghĩa trí tuệ đầy màu sắc và mãnh liệt của Fischer-Dieskau, có vẻ xa ngoài tầm với, cách hát của Hotter có một sự trực tiếp, một nỗi buồn dịu dàng khiến tôi xúc động sâu sắc và định hình rất nhiều cách tôi muốn hát… Ông ấy là một người khổng lồ trong giới ca sĩ. Chúng ta khó có thể tìm được ai tương tự” – Robert Lloyd

Đối với những khán giả say mê opera của Richard Wagner, có lẽ chỉ có một Wotan trong Der Ring des Nibelungen – và đó chính là Hans Hotter. Giọng bass-baritone người Đức đã có đến hơn 100 vai diễn trong toàn bộ sự nghiệp, nhưng với ông, Wotan, đặc biệt là trong Die Walküre, vẫn là độc nhất vô nhị. Mọi khía cạnh trong nghệ thuật của Hotter, uy quyền, sự hiện diện cao quý, khả năng ứng biến xuất sắc, nắm bắt vững vàng tâm lý nhân vật, giọng hát mạnh mẽ, biểu cảm, vang rền – đều góp phần tạo nên chân dung của một trong những giọng bass tuyệt vời nhất thế kỷ 20. Bất chấp tiếng hát to khoẻ của mình, Hotter có thể điều chỉnh âm lượng của mình xuống một âm sắc nhẹ nhàng và mượt mà như nhung trong một mezza di voce hoàn hảo, đặc biệt tinh tế, trầm lắng và đáng nhớ nhất khi Wotan gửi lời chào tạm biệt cuối cùng trong Die Walküre tới Brünnhilde yêu quý của mình. Trên tất cả, sức mạnh tự nhiên, bẩm sinh của ông phù hợp với quyền lực tối thượng của một vị thần. Mặc dù gây được tiếng vang lớn với tư cách một ca sĩ opera, nhưng từ sâu thẳm trong tâm hồn mình, Hotter luôn cảm thấy yêu thích những ca khúc thính phòng hơn. Trong lieder, Hotter cũng thể hiện được sự tinh tế tuyệt vời, đặc biệt là màn trình diễn Winterreise của Franz Schubert, là một trải nghiệm đầy cảm xúc mà không ai nghe qua có thể quên được.

Hans Hotter sinh ngày 19/1/1909 tại Offenbach am Main gần Frankfurt trong một gia đình có nguồn gốc ở xứ Bavaria. Người cha là kiến trúc sư của Hans đã qua đời khi cậu mới lên 7 tuổi và người mẹ đã quyết định cùng hai cậu con trai của mình quay trở Munich. Người anh trai của Hans sau này trở thành một vị linh mục Công giáo. Hans luôn coi Munich là quê hương của mình. Cậu yêu thích bóng đá và những hoạt động ngoài trời. Âm nhạc luôn là một phần không thể thiếu trong cuộc sống thời thơ ấu của Hans, nhưng đó là âm nhạc dân gian Đức. Cha Hans khi còn sống chơi đàn lute và khuyến khích hai cậu con trai hát cùng mình. Sau khi tốt nghiệp trung học, Hans đã từng theo học triết học tại đại học Ludwig Maximilians ở Munich. Tuy nhiên, cuối cùng cậu lại muốn theo đuổi âm nhạc, nhưng không phải với tư cách ca sĩ mà là một nhạc trưởng. Cậu đã theo học organ tại University of Music and Performing Arts Munich nhưng sau đó nhận thấy rằng thanh nhạc cũng là một yêu cầu bắt buộc để trở thành nhạc trưởng nên đã đăng ký vào học lớp của Matthäus Römer, giọng tenor người Đức. Chính Römer là người đã khuyến khích Hans trở thành ca sĩ chuyên nghiệp và luôn được Hotter đánh giá là người có ảnh hưởng lớn nhất trong sự nghiệp của mình. Hans đã lựa chọn ca hát, một phần vì niềm tin của Römer dành cho cậu và một phần vì nó sẽ giúp cậu kiếm sống, làm giảm bớt gánh nặng tài chính cho người mẹ góa bụa của mình. Trước đó, cậu từng chơi organ và chỉ huy hợp xướng tại một nhà thờ địa phương.

Năm 1930, ở tuổi 21, Hotter có được vai diễn đầu tiên với Speaker trong Die Zauberflöte (Wolfgang Amadeus Mozart) tại nhà hát ở Troppau (nay là Opava), Czech. Sau đó anh làm việc một năm ở Breslau (nay là Wrocław), Ba Lan và hai năm ở Prague. Thời gian này Hotter cũng có thời gian theo học với giọng baritone nổi tiếng Rudolf Bockelmann. Năm 1934, Hotter tham gia thử giọng tại Hamburg State Opera với các trích đoạn của Alfio (Cavalleria rusticana, Pietro Masagni) và Tonio (Pagliacci, Ruggero Leoncavallo). Anh đã được nhận và có được vai diễn đầu tiên của mình tại đây trong Don Pizzaro (Fidelio, Ludwig van Beethoven). Tại Hamburg, Hotter hát chủ yếu trong những vở opera của Ý và Pháp, trong đó có những vai dành cho baritone như Macbeth (Macbeth), Amonasro (Aida) của Giuseppe Verdi. Scarpia (Tosca, Giacomo Puccini), Escamillo (Carmen, Georges Bizet) hay Mephistopheles (Faust, Charles Gounod) cũng là những vai diễn thường xuyên của Hotter trong giai đoạn này. Anh cũng hát các vai chính trong Giulio Cesare (George Frideric Handel) và Boris Godunov (Modest Mussogrsky), thể hiện rõ năng lực của mình trong việc hoá thân vào các vị vua đầy quyền lực. Tại Hamburg, anh đã gặp nữ diễn viên Helga Fischer, và họ kết hôn vào năm 1936. Helga đã từ bỏ sự nghiệp của mình để toàn tâm toàn ý chăm lo cho cuộc sống và sự nghiệp của Hotter.

Với một kho vai diễn phong phú và vẻ ngoài điển trai (anh cao khoảng 1m93) và sự duyên dáng, hài hước trong tính cách đã khiến Hotter trở thành một trong những ca sĩ trẻ được mến mộ nhất. Anh đã có được một lượng lớn những người hâm mộ cuồng nhiệt. Nhưng quan trọng hơn, chất lượng giọng hát và khả năng âm nhạc của Hotter đã thu hút được sự chú ý của giới phê bình và các nhạc trưởng. Một người trong số đó là Clemens Krauss, lúc này đang là giám đốc âm nhạc của Vienna State Opera. Krauss tỏ ra khá hứng thú với Hotter nhưng khuyên anh nên tích luỹ thêm kinh nghiệm sân khấu: “Tôi sẽ liên hệ với cậu khi thời điểm đến”. Kinh nghiệm sân khấu là điều cần thiết, vì thời điểm đó, khả năng diễn xuất không tương xứng với tài năng thanh nhạc của anh. Hotter nhớ lại: “Tôi bị tật nguyền với đôi tay và đôi chân dài lòng thòng của mình. Tôi trông giống như đang đi cà kheo vậy”. Năm 1937, Krauss, lúc này mới chuyển đến Munich, đã giữ lời. Hotter đã hát tại Bavarian State Opera trong Wanderer (Siegfried), vai diễn đầu tiên của anh trong các vở opera của Wagner, mà sau này trở thành một phần không thể tách rời trong sự nghiệp. Ngày 3/6/1939, chỉ vài tháng trước khi thế chiến thứ hai bùng nổ, Hotter có màn ra mắt tại Vienna State Opera, một trong những nhà hát yêu thích của anh, trong Jochanaan (Salome, Richard Strauss) dưới sự chỉ huy của Hans Knappertsbusch.

Tại Munich, chính Krauss là người đã tạo ra sự hợp tác thú vị giữa Hotter và Richard Strauss. Hotter đều rất trân trọng tài năng của họ. Con gái Gabrielle của ông sau này sẽ kết hôn với một người cháu trai của Strauss. Strauss đã dành tặng bài hát Erschaffen und beleben cho Hotter. Ông chính là người hát trong buổi ra mắt 3 vở opera của Strauss: Commandant (Friedenstag, 24/7/1938), Olivier (Capriccio, 28/12/1942) đều tại Munich và Jupiter (Die Liebe der Danae, 16/8/1944) tại Salzburg. Tất cả đều dưới sự chỉ huy của Krauss. Trên thực tế buổi biểu diễn Die Liebe der Danae chưa phải buổi biểu diễn chính thức mà chỉ là một buổi tổng duyệt trong trang phục sân khấu trước khi ra mắt thực sự sau đó. Tuy nhiên sau âm mưu ám sát Hitler vào ngày 20/7/1944, Joseph Goebbels đã tuyên bố chiến tranh toàn diện và huỷ bỏ toàn bộ các sự kiện nghệ thuật. Trong thế chiến thứ hai, vì là một ca sĩ nổi tiếng, Hotter được miễn nghĩa vụ quân sự. Hotter đã tính đến chuyện di cư nhưng lo lắng về những hậu quả có thể xảy ra đối với gia đình mình, ông vẫn ở lại Đức trong suốt những năm tháng sau đó. Mặc dù tiếp tục biểu diễn, ông không bao giờ tham gia đảng Quốc xã và từ chối xuất hiện tại lễ hội Bayreuth năm 1940, khi đó do Winifred Wagner, một người sùng bái Hitler, điều hành. Sau này, Hotter từng bị thẩm vấn trong một phiên điều trần về việc Hitler lưu giữ một số đĩa nhạc của ông, Hotter chỉ trả lời đơn giản rằng Giáo hoàng cũng lưu giữ những đĩa nhạc như vậy.

Sau khi thế chiến thứ hai kết thúc, chính nghệ sĩ và vận động viên thể thao trở thành những đại sứ đầu tiên nối lại quan hệ với các nước thù địch cũ. Và Hotter chính là một trong những vị đại sứ nhiệt tình nhất. Năm 1947, trong chuyến lưu diễn của Vienna State Opera tại Covent Garden, Hotter đã hát hai vai trong opera của Mozart: Don Giovanni (Don Giovanni) và Almaviva (Le nozze di Figaro). Ngày 21/1/1948, Hotter lần đầu tiên cộng tác với Covent Garden trong vai Sachs (Die meistersinger von Nürnberg, Wagner). Và sau đó là hai màn hoá thân tuyệt vời trong Wotan (Die Walküre, 3/3/1948) bên cạnh Kirsten Flagstad mà ông rất ngưỡng mộ và Siegfried vào ngày 11/11/1948. Tất cả những vai diễn này đều được Hotter hát bằng tiếng Anh trong bối cảnh sự thù địch giữa hai bên vẫn còn rất căng thẳng.

Ngày 9/11/1950, Hotter có lần đầu tiên hát tại Metropolitan Opera trong Holländer (Der fliegende Holländer, Wagner) bên cạnh Astrid Varnay dưới sự chỉ huy của Fritz Reiner và ngay lập tức giành được những lời khen ngợi. Robert Sabin đã bình luận trên Musical America: “Hans Hotter, giọng bass-baritone người Đức là một nghệ sĩ tuyệt vời, có giọng hát cực kỳ mạnh mẽ và kịch tính ở mức cao nhất. Ông là một người đàn ông có tầm vóc tráng kiện cả về thể chất lẫn tinh thần… Khi ánh đèn sân khấu đổ dồn vào ông khi lần đầu xuất hiện, ông đã gợi tôi nhớ về Feodor Chaliapin. Hotter có cùng một sức hút và quyền lực để tạo ra bản chất cảm xúc của một vai diễn trước khi ông ấy chuyển động hoặc thốt ra một nốt nhạc. Giọng của ông tuyệt vời, mạnh mẽ trong toàn bộ âm vực, giàu âm bội và được tạo ra với nhiều màu sắc và sự linh hoạt, mang đến cho nó khả năng kịch tính vô tận”. Tuy nhiên, Metropolitan Opera lại không phải mảnh đất lành đối với Hotter. Đây là nhà hát danh tiếng ít chào đón sự xuất hiện của ông nhất. Rudolf Bing, tổng giám đốc của nhà hát có những quan điểm khác biệt. Bing cho rằng Hotter phù hợp với những vai diễn nhỏ hơn. Điều này dẫn đến việc Hotter chỉ có tổng cộng khoảng 40 đêm diễn trong 4 năm gắn bó với Metropolitan Opera, chủ yếu trong các vở opera của Wagner và Richard Strauss. Phần lớn sự nghiệp tại Mỹ của ông diễn ra ở San Francisco và Chicago.

Sau chiến tranh, Hotter là nhân vật chủ chốt trong việc khôi phục lại những vở opera của Wagner tại liên hoan Bayreuth. Ở đó đã tiếp nối những năm tháng Wagner vĩ đại của ông. Từ năm 1952, ông bắt đầu 14 năm gắn bó với liên hoan, được đặt dưới sự chỉ đạo tài năng mang tính cách mạng của Wieland Wagner, con trai của Winifred. Tại đây, Hotter đã hát tất cả những vai diễn Wagner yêu thích nhất của mình như Wotan, Holländer, Sachs, Kurwenal (Tristan und Isolde) hay Amfortas (Parsifal). Trong những năm về sau, chất giọng bass-baritone của ông trở nên tối và trầm hơn, Hotter đã tìm đến với những vai như Gurnemanz và Titurel (Parsifal) hay Pogner (Die meistersinger von Nürnberg). Trong những năm 1950, Hotter cũng thường xuyên xuất hiện tại La Scala trong những vở opera của Wagner. Với Hotter, opera là bộ môn nghệ thuật yêu thích và đưa ông đến với thành công nhưng nó không hoàn mỹ. Hotter vẫn luôn tự hào về những màn biểu diễn lieder của mình: “Trong trái tim mình, tôi là một ca sĩ thính phòng. Nhưng đó là nghệ thuật hơn là một thành công cá nhân, ngay cả khi bạn không thể tách rời cả hai”. Hotter hát khá nhiều các cantata của Johann Sebastian Bach nhưng nổi bật trong các lied của Schubert, đặc biệt bản thu âm Winterreise cùng Gerald Moore vào năm 1955 cho EMI luôn được đánh giá rất cao, mang một không khí chân thực, gần gũi hơn phong cách hàn lâm của Dietrich Fischer-Dieskau. Sự nổi tiếng của Hotter trong Winterreise cũng không khác gì với Wotan. Trong một chuyến lưu diễn tại Nhật Bản, ông đã hát Winterreise 8 lần trong vòng 3 tuần lễ. Ông luôn thể hiện ý nghĩa và cảm xúc của lời hát mà không bao giờ hy sinh giai điệu.

Tuy nhiên, bắt đầu từ những năm 1950, giọng hát của Hotter đã có những dấu hiệu suy giảm, thiếu ổn định, đặc biệt khi ông hát với âm lượng lớn nhất, nguyên nhân xuất phát từ căn bệnh hen suyễn của ông. Bên cạnh đó, ông còn bị viêm mũi dị ứng cấp tính, điều luôn hành hạ Hotter trong những chương trình biểu diễn mùa hè, ví dụ như liên hoan Bayreuth. Bất chấp tất cả những điều đó, ông vẫn là Wotan tuyệt vời trong bản thu âm huyền thoại trọn bộ Der Ring des Nibelungen của Georg Solti cùng Vienna Philharmonic (1958-1965). Wotan của ông, được hát và diễn xuất một cách tuyệt vời là sự pha trộn giữa niềm kiêu hãnh của con người, sự tức giận, sự dịu dàng và nỗi thống khổ thần thánh, đã trở thành thước đo để đánh giá tất cả những người khác cho vai diễn này. Mặc dù sự nổi tiếng của Hotter gắn liền với những vở opera Đức nhưng ông cũng được biết đến với những vai diễn trong opera Ý như Falstaff (Falstaff) hay Grand Inquisitor (Don Carlo) của Verdi. Ngoài ra ông cũng từng biểu diễn và thu âm những vai diễn có ngôn ngữ khác nhưng hát bằng tiếng Đức. Khi sự nghiệp ca hát bắt đầu có dấu hiệu xuống dốc, Hotter chuyển sang làm đạo diễn opera, trong đó có cả trọn bộ Der Ring des Nibelungen cùng Solti tại Covent Garden (1961-1964). Tuy nhiên, phong cách bảo thủ của ông không thể tiếp tục duy trì ở một châu Âu cấp tiến hơn. Xuất phát điểm của Hotter luôn là thể hiện ý định của nhà soạn nhạc và kịch bản gốc nên các sản phẩm của ông không bao giờ nhận được chú ý của những người thích sự giật gân hơn.

Mặc dù vào cuối những năm 1960, Hotter đã giảm dần số buổi biểu diễn của mình nhưng ông vẫn tích cực học những vai diễn mới. Năm 1967, ông hát Schigolch (Lulu, Alban Berg) tại Munich. Năm 1970, Hotter thu âm một trong những nhân vật nổi bật của mình là Moses (Moses und Aron, Arnold Schoenberg). Vai diễn mới cuối cùng của ông là Schoolmaster (Der Besuch der alten Dame, Gottfried von Einem) được hát tại Vienna vào năm 1971. Hotter chia tay với Wotan thân yêu trong một buổi biểu diễn màn III Die Walküre tại Paris Opéra vào năm 1972. Sự gắn bó gần 40 năm của Hotter với Vienna State Opera chấm dứt vào ngày 10/12/1978 với Grand Inquisitor, một thành tựu đáng tự hào mà ông đã hát hơn 400 lần trong sự nghiệp, chỉ ít hơn Wotan. Hotter bắt đầu sự nghiệp dạy học của mình vào năm 1977, ban đầu là những buổi dạy tư, sau đó là tại University of Music and Performing Arts Vienna. Câu nói mà Hotter thường đề cập với những sinh viên của mình, tổng hợp khéo léo cả sự hài hước và khiêm tốn ở ông: “Hãy nhớ rằng điều quan trọng là phải cố gắng để không trở nên nhàm chán”. Ở tuổi 80, Hotter vẫn gây kinh ngạc cho khán giả khi vào vai người kể chuyện trong cantata Gurre-Lieder của Schoenberg. Mặc dù chưa một lần ông tuyên bố chia tay sân khấu nhưng lần xuất hiện cuối cùng của Hotter trên sân khấu opera diễn ra vào tháng 2/2001 khi ông đã 92 tuổi trong vở operetta Der Opernball của Richard Heuberger tại Prinzregententheater, Munich.

Trong một lần trả lời phỏng vấn của The Times vào năm 1987, nhìn lại chặng đường ca hát hơn 50 năm của mình, Hotter thú nhận có một vài sự hối tiếc. Đó là chưa bao giờ hát Baron Ochs (Der rosenkavalier, Richard Strauss), không được cộng tác cùng Maria Callas và Arturo Toscanini đồng thời ông ước giá như mình đã hát nhiều hơn những vở opera của Ý bằng ngôn ngữ gốc. Sau khi bị các biến chứng liên quan đến bệnh tiểu đường, Hotter đã qua đời trong giấc ngủ tại nhà riêng ở Grünwald, gần Munich vào ngày 6/12/2003, chỉ vài tuần trước sinh nhật lần thứ 95. “Wotan vĩ đại nhất, cao quý nhất trong tất cả”, như Martin Bernheimer của Los Angeles Times tôn vinh đã vĩnh viễn chia tay cuộc đời này. Hotter được chôn cất tại nghĩa trang Waldfriedhof Solln, Munich. Theo ý nguyện của gia đình, đám tang chỉ có mặt những người thân yêu nhất của ông. Mặc dù đã có những trục trặc nhất định trong giọng hát của ông nhưng về tổng thể, Hotter luôn mang đến những phẩm chất của một người nghệ sĩ hoàn hảo, cẩn trọng và nổi bật lên với sự kịch tính và đầy uy quyền. Đúng như những gì mà nhà phê bình âm nhạc Ernest Newman đã từng nhận xét, Hotter chắc chắn là: “Người đàn ông duy nhất trên thế giới có thể thực sự bước lên sân khấu và thuyết phục bạn rằng anh ấy là Chúa”.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
nytimes.com
theguardian.com
independent.co.uk