“Ông khiến tôi hoàn toàn choáng váng với những gì mình trình diễn, chia sẻ niềm đam mê và niềm vui sâu sắc trong việc tái định hình cách tôi hiểu về âm nhạc. Niềm hứng khởi của ông trong việc kết nối âm nhạc và con người, ở bất cứ đâu, vào bất cứ lúc nào, đã truyền cảm hứng và lan tỏa ảnh hưởng tới nhiều thế hệ người nghe cũng như những nhà sáng tạo âm nhạc.” – Sakurako Fisher
Nhạc trưởng, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ piano, nhà giáo dục Michael Tilson Thomas, người có 25 năm giữ chức giám đốc âm nhạc của San Francisco Symphony, trở thành hình mẫu về tinh thần sáng tạo tập thể, sự táo bạo trong nghệ thuật và tính gắn kết cộng đồng. Trong suốt cuộc đời mình, Thomas thể hiện tài năng âm nhạc toàn diện. Ông là một nghệ sĩ piano xuất sắc, đặc biệt trong những năm đầu sự nghiệp với những tác phẩm đương đại. Thomas cũng là tác giả của một danh mục nhỏ nhưng ấn tượng và đa dạng về phong cách gồm các bản nhạc thính phòng và ca khúc cho giọng hát và dàn nhạc. Và Thomas cũng chính là người thay thế xứng đáng cho Leonard Bernstein trong việc truyền bá âm nhạc cổ điển tới đông đảo tầng lớp công chúng thông qua các chương trình truyền hình, video và trang web giáo dục trực tuyến. Bản thân Bernstein cũng rất ngợi khen người từng là học trò của mình: “Tôi không tùy tiện dùng từ thiên tài, nhưng tôi lại dùng từ đó để miêu tả Michael. Cậu ấy làm tôi nhớ đến chính mình ở độ tuổi đó, chỉ khác là cậu ấy biết nhiều hơn tôi. Không chỉ về âm nhạc, mà còn cả những lĩnh vực khác như chức năng của bộ não, khoa học thần kinh, vật lý, sinh hoá”. Còn về nghệ thuật chỉ huy dàn nhạc, Time đã ca ngợi Thomas vào năm 1990: “Trong những nhạc trưởng người Mỹ, không ai tài năng và táo bạo hơn ông. Nhìn ra bình diện thế giới, ông nằm trong số những người xuất sắc nhất”.
Michael Tilson Thomas, hay thường được bạn bè và người thân gọi là MTT, sinh ngày 21/12/1944 tại Los Angeles trong một gia đình Do Thái nhập cư từ Ukraine. Michael là đứa con duy nhất của ông Ted và bà Roberta. Ông Ted, với tên khai sinh Theodore Hertzl Thomashefsky, là một nhà quản lý sân khấu Broadway, sau chuyển sang sản xuất phim điện ảnh và truyền hình. Bà Roberta là người phụ trách nghiên cứu cho hãng phim Columbia Pictures, sau đó dạy tiếng Anh và nghiên cứu xã hội. Ông bà nội Michael là Boris và Bessie, những ngôi sao của sân khấu kịch Yiddish (ngôn ngữ Do Thái) ở New York, vốn phát triển mạnh vào đầu thế kỷ 20 ở khu Lower East Side của Manhattan. Thomas nhớ lại rằng cha mình là một “người phóng khoáng” đã dạy ông cảm nhận “sự kỳ diệu” của âm nhạc. Còn mẹ là trụ cột gia đình. Nổi tiếng là một thần đồng, được đặt ngồi trước phím đàn piano từ năm ba tuổi, năm tuổi, Michael đã có thể chơi tất cả những gì mà cậu nghe được. Thời tiểu học, cuộc sống cá nhân của cậu khá khép kín vì Michael muốn bầu bạn với các bản nhạc hơn. Bên cạnh piano, gia đình cũng cho cậu theo học cả oboe. Tại trường phổ thông, Michael chơi oboe trong dàn nhạc của trường và cậu quen với Joshua Robison, chơi cello, ít hơn cậu một tuổi. Thomas nhớ lại lúc đầu họ “không phải là bạn thân”. Nhưng họ đã thân thiết với nhau nhờ âm nhạc. Sau này họ đã trở thành những người bạn đời và ở với nhau trong suốt 50 năm cho đến khi Robison qua đời. Khi Michael 13 tuổi, giáo viên âm nhạc của cậu bị ốm. Khi được hỏi ai sẽ là người giữ nhịp cho dàn nhạc, Michael ngay lập tức trả lời: “Cháu có thể”. Ngay từ thời điểm đó, Michael đã hiếm khi nghi ngờ bản thân.
Thomas theo học piano với John Crown cũng như sáng tác và chỉ huy dưới sự hướng dẫn của Ingolf Dahl tại Đại học Nam California. Dahl là một người đa tài, nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, nhà phê bình, một hình mẫu rất phù hợp cho tính đa năng của Thomas. Trong thời gian này, chàng trai trẻ có cơ hội tiếp xúc với những nhà soạn nhạc như Igor Stravinsky, Karlheinz Stockhausen, Aaron Copland và Pierre Boulez cũng như tham gia chơi piano trong các buổi công diễn đầu tiên tác phẩm của họ cho một chuỗi chương trình Monday Evening Concerts của Los Angeles Philharmonic. Ngoài ra, Thomas còn có nhiều lần đệm piano cho các buổi giảng dạy của Jascha Heifetz và Gregor Piatigorsky tại trường. Năm 1968, khi đang là sinh viên được Tanglewood Music Center trao học bổng, Thomas gặp Bernstein, người cố vấn và đồng nghiệp suốt đời của anh. Thomas cũng giành được giải thưởng Koussevitzky danh giá dành cho sinh viên nhạc trưởng xuất sắc nhất. Giới âm nhạc cổ điển Mỹ xôn xao bàn tán rằng một Bernstein tiếp theo đã xuất hiện và sự so sánh này thường xuyên được nhắc lại trong suốt sự nghiệp Thomas. Năm 1969, Thomas trở thành trợ lý nhạc trưởng cho William Steinberg tại Boston Symphony Orchestra. Chỉ ít lâu sau, anh đã có buổi biểu diễn chính thức của mình cùng dàn nhạc vào ngày 10/10/1969 (trước đó là những chương trình tại Tanglewood). Chương trình gồm các tác phẩm của Joseph Haydn, Charles Ives, Stravinsky và Claude Debussy. Michael Steinberg đã đánh giá trên Boston Globe: “Tôi xin phép không đưa ra dự đoán trước, mà chỉ đơn giản nói rằng hiện tại anh ấy là một trong những nhạc trưởng tài năng và thú vị nhất trong nghề”. Sức khoẻ của Steinberg trong giai đoạn này không được tốt nên Thomas đã được chỉ huy một số lượng buổi hoà nhạc nhiều bất thường đối với một trợ lý nhạc trưởng. Sau một chương trình như vậy tại Lincoln Center, New York vào ngày 22/10/1969 với các tác phẩm Concerto cho violin, cello và dàn nhạc của Robert Starer và Till Eulenspiegels lustige Streiche (Richard Strauss), nhà phê bình danh tiếng Harold C. Schonberg đã ca ngợi: “Một chàng trai trẻ cao gầy, anh bước ra sân khấu với phong thái đầy tự tin và uy quyền, và cho thấy sự tự tin ấy không hề đặt nhầm chỗ. Anh ấy tiếp cận thứ âm nhạc này một cách rất tự nhiên, điều hoàn toàn có thể mong đợi ở một cựu học viên Tanglewood Music Center và học trò của Pierre Boulez”. Còn The Times thì táo bạo hơn: “Đó là kịch bản Hollywood tương tự đã đưa Bernstein lên đỉnh cao danh vọng với New York Philharmonic một phần tư thế kỷ trước. Cả hai đều gốc Do Thái Nga, là nghệ sĩ piano, những người biểu diễn phóng khoáng và là người đồng tính, dù không ai trong số họ công khai vào thời điểm đó”. Thomas cũng chính là người thay thế Bernstein trong Young People’s Concerts, loạt chương trình giới thiệu âm nhạc cổ điển cho giới trẻ. Sau khi Steinberg chia tay Boston Symphony Orchestra vào năm 1972, Bernstein đã thúc giục dàn nhạc bổ nhiệm Thomas nhưng vấp phải sự phản đối quyết liệt từ các nhạc công với lý do anh còn quá trẻ. Anh chỉ trở thành nhạc trưởng khách mời chính, vị trí mà Thomas nắm giữ cho đến năm 1974.
Trước đó, năm 1971, Thomas đảm nhiệm công việc giám đốc âm nhạc của Buffalo Philharmonic Orchestra, New York. Đó là một dàn nhạc kém danh tiếng hơn nhưng cởi mở với mọi thứ, từ nhạc cổ điển cho đến pop, rock, sẵn sàng tham gia vào nhiều dự án táo bạo, rất phù hợp với Thomas khi đó. Thomas đã dồn hết tâm huyết của mình vào Buffalo Philharmonic Orchestra cũng như biểu diễn cùng một số dàn nhạc khác như Berlin Radio Symphony Orchestra, Cleveland Orchestra, Israel Philharmonic hay New York Philharmonic. Tuy nhiên, vào thời điểm này, Thomas mang trong mình một tính cách nổi loạn, giống như đa phần những người trẻ tuổi Mỹ khác. Nhiều nhạc công của Buffalo Philharmonic Orchestra nhận định ông thô lỗ, thiếu kiên nhẫn và không ổn định. Tháng 3/1978, Thomas bị bắt tại sân bay quốc tế Kennedy, New York, sau khi trở về từ London với cáo buộc mang theo một số lượng nhỏ cocaine. May mắn, ông không bị truy tố. Mặc dù vậy, hành động này cũng khiến hình ảnh của Thomas bị hoen ố phần nào. Ông thú nhận: “Mọi người nhận ra rằng tôi không phải là hình mẫu của một chàng trai Do Thái ngoan ngoãn. Sự việc đó đã đẩy tôi từ một thần đồng thành kẻ liều lĩnh. Nó gây tổn thương, và có lẽ tôi đã mất đi một số cơ hội mà đáng ra tôi có thể có được, nhưng những tổn thương ấy lại quan trọng và mang tính dẫn dắt đối với một nghệ sĩ”. Thomas chia tay Buffalo Philharmonic Orchestra vào năm 1979 và nhiều năm sau đó, trở thành “người lãng du” tại nhiều dàn nhạc ở châu Âu và Mỹ, trong đó có quãng thời gian từ 1981-1985 là nhạc trưởng khách mời chính tại Los Angeles Philharmonic.
Năm 1987, cùng với doanh nhân Ted Arison, Thomas là đồng sáng lập New World Symphony, một học viện âm nhạc tại Miami dành cho các nhạc công trẻ, hướng dẫn họ cách thức chuẩn bị cho sự nghiệp chuyên nghiệp trong nhạc cổ điển. Từ khi thành lập, hơn một nghìn nghệ sĩ đã tham gia các chương trình của New World Symphony, nhiều người trong số họ đã trở thành nhạc công chuyên nghiệp tại các dàn nhạc hàng đầu trên nước Mỹ. Đây là một ví dụ điển hình về sự hiệu quả trong giáo dục âm nhạc và được ca ngợi vì sử dụng công nghệ một cách sáng tạo. Mỗi học viên có thời gian đào tạo trong ba năm, trình diễn khoảng 70 chương trình hàng năm với nhiều nhạc trưởng khác nhau và tham gia biểu diễn hoà tấu thính phòng. Nói về công việc này của mình, Thomas cho biết học viện có thể là “bệ phóng cho cuộc đời của mỗi người” và giãi bày: “Sứ mệnh cá nhân của tôi là để họ luôn giữ được câu hỏi: “Điều này có ý nghĩa gì?”. Tôi đang cố gắng truyền tải thông điệp lớn hơn về bản chất thực sự của âm nhạc”. Thomas đảm nhận cương vị giám đốc nghệ thuật của New World Symphony cho đến năm 2021, cho thấy sự tận tâm của mình trong việc đào tạo nên các thế hệ nghệ sĩ trẻ.
Tháng 9/1988, Thomas tiến một bước dài trong sự nghiệp khi được London Symphony Orchestra bổ nhiệm làm nhạc trưởng chính. Sự xuất hiện của ông đã mang đến một thời kỳ phục hưng cho dàn nhạc. Phong cách lãnh đạo của Thomas là dốc toàn bộ tâm sức cho dàn nhạc và các nhạc công, xây dựng mối quan hệ âm nhạc bền vững suốt đời. Về mặt nghệ thuật, ông là một nhà sáng tạo đầy cảm hứng, tạo dựng các chuỗi hoà nhạc theo chủ đề nhằm cuốn hút trí tưởng tượng của khán giả tinh tế tại London. Kỹ năng giao tiếp của Thomas là rất tuyệt vời. Dù nói chuyện với nhà báo, những người trẻ tuổi, khán giả am hiểu âm nhạc hay chính các nhạc công của dàn nhạc, ông đều biết chính xác cách thức để truyền tải điều mình muốn nói một cách trọn vẹn. Chuỗi hoà nhạc “Khám phá” của ông, trong đó Thomas giải thích một tác phẩm lớn cho khán giả trong nửa đầu và trình diễn bản nhạc đó trong nửa sau đã nhanh chóng được đài BBC đón nhận và phát sóng định kỳ. Kathryn McDowell, giám đốc điều hành của London Symphony Orchestra đã ca ngợi Thomas: “Trong mọi lĩnh vực hoạt động âm nhạc, ông đều đổi mới, ham học hỏi, tò mò và giàu trí tưởng tượng. Là nhà soạn nhạc cũng như một nhạc trưởng, ông hiểu rõ quá trình sáng tạo và luôn ủng hộ công việc của các nghệ sĩ đồng nghiệp khi họ phát triển những ý tưởng mới. Ông có khả năng phi thường trong việc mô tả âm nhạc theo cách mà người bình thường có thể hiểu được và là người tiên phong trong các hình thức trình diễn hoà nhạc khác nhau”.
Sau nhiều năm phiêu bạt, cuối cùng vào năm 1995, Thomas cũng có được bến đỗ cuối cùng trong sự nghiệp chỉ huy của mình. Sau 25 năm, ông mới nắm giữ một chức vụ toàn thời gian tại một dàn nhạc. Thomas được San Francisco Symphony bổ nhiệm làm giám đốc âm nhạc, thay thế cho Herbert Blomstedt. Thomas đã đảm nhiệm cương vị này trong 25 năm, trở thành vị giám đốc âm nhạc lâu năm nhất của San Francisco Symphony trong lịch sử. Đây là thời kỳ hoàng kim của những thành tựu âm nhạc tại San Francisco, trong đó tài năng đa dạng của ông với tư cách là nhạc trưởng, nghệ sĩ piano, nhà soạn nhạc và nhà giáo dục đã giúp tạo nên một bầu không khí sôi động xung quanh Davies Hall, phòng hoà nhạc của dàn nhạc, ngay cả đối với những người ít hoặc không quan tâm đến nhạc cổ điển. Ngay từ đầu, Thomas đã đặt mục tiêu biến San Francisco Symphony thành trung tâm của sự đổi mới, cân bằng với những màn trình diễn mới mẻ, sống động của các tác phẩm kinh điển. Ông đã tạo dấu ấn trong chương trình đầu tiên bằng cách chỉ huy buổi ra mắt tác phẩm mới được đặt hàng của nhà soạn nhạc Mỹ Lou Harrison. Trong mùa diễn đầu tiên, Thomas luôn đưa một bản nhạc của nhà soạn nhạc đồng hương nào đó vào mỗi chương trình của mình. Những dự án đầy tham vọng và tinh thần thử nghiệm đã định hình thời gian ông ở San Francisco. Ông đã thúc đẩy nền âm nhạc đương đại bằng cách thiết lập mối quan hệ với các nhà soạn nhạc đương thời, trong đó có John Adams, Meredith Monk, Steve Reich và Charles Wuorinen. Ông đã khởi xướng liên hoan American Mavericks, thu hút sự chú ý, và mang đến lượng khán giả trẻ tuổi đông đảo, cho các nhà soạn nhạc tiên phong, gai góc như Ives, Carl Ruggles, John Cage và Henry Brant. Thomas giải thích sự lựa chọn của mình: “Lý tưởng nhất, tôi muốn mỗi buổi hoà nhạc có ba yếu tố: một điều gì đó thú vị, một điều gì đó mang tính thử thách, và một điều gì đó khẳng định giá trị. Tôi dự định xây dựng mối liên hệ với khán giả để củng cố vị thế của âm nhạc mới, những màn trình diễn mới của âm nhạc cũ”.
Sự đa dạng về sở thích âm nhạc và trí tuệ của Thomas được hình thành từ quá trình trưởng thành trong một nền văn hóa Los Angeles cởi mở với nhạc cổ điển, chủ nghĩa hiện đại, jazz, rhythm & blues, pop và Hollywood. Thomas lớn lên với niềm tin rằng âm nhạc bao gồm nhiều truyền thống khác nhau, và không có cái nào là quan trọng nhất: “Đó là khía cạnh mà những người trong giới nhạc cổ điển thấy khó hiểu. Họ không hiểu làm thế nào tôi có thể cùng lúc trình diễn một chùm tác phẩm Mahler, khảo sát âm nhạc tiên phong của Mỹ, chơi nhạc thính phòng với các thành viên của Vienna Philharmonic và đồng thời sáng tác một tác phẩm rock ‘n’ roll lớn. Nhưng đối với tôi, tất cả đều là một thể thống nhất”. Sau những năm tháng tuổi trẻ tự mãn, kiêu ngạo và khó tính, từ khi gắn bó với New World Symphony, London Symphony Orchestra và San Francisco Symphony, phong cách chỉ huy của Thomas đã trở nên chín chắn và điềm đạm hơn nhiều. Ông bỏ qua cái tôi cá nhân và hướng đến tập thể nhiều hơn: “Cuộc đời tôi thay đổi khi cuối cùng tôi chấp nhận rằng tôi không phải là người trình diễn, mà là các nhạc công. Mục đích của tôi là giúp họ định hình, ưu tiên và quyết định, để tại buổi hoà nhạc họ có thể tự nhiên và tham gia hết mình. Các nhạc sĩ càng có năng khiếu nghệ thuật, bạn càng có thể tập trung vào những điều lớn lao hơn, không phải những chi tiết nhỏ nhặt”. Thomas miêu tả mỗi buổi biểu diễn như một sự trao đổi ý tưởng linh hoạt. Ông nói: “Có một số nhạc trưởng thích thiết lập một khuôn mẫu chính xác trong buổi diễn tập về âm thanh mà buổi biểu diễn sẽ mang lại. Sau đó, buổi hoà nhạc được đánh giá dựa trên mức độ tái hiện tốt như thế nào. Tôi không làm việc theo cách đó. Tôi cảm thấy rằng nếu một nghệ sĩ độc tấu làm điều gì đó hơi khác một chút, tôi phải làm cho sự khác biệt đó có ý nghĩa, vì vậy sự kiện tiếp theo cũng cần phải khác đi một chút”. Nhiều nhạc trưởng diễn giải tác phẩm cho dàn nhạc và một vài nhạc trưởng vĩ đại đến và cùng dàn nhạc diễn giải tác phẩm. Rõ ràng, Thomas là đại diện tiêu biểu cho nhóm thứ hai.
Thomas giải thích cách tiếp cận của mình với tác phẩm âm nhạc cổ điển cũng giống như việc tham quan một công viên: “Tôi biết rõ bản đồ nhưng việc đi trên đường mòn luôn là một trải nghiệm mới, và người bạn đồng hành sẽ thay đổi hoàn toàn trải nghiệm đó”. Ông tỏ ra am hiểu về mọi thứ, như Edward Seckerson đã nhận xét trên Viva Voce: “Ông được coi là chuyên gia về âm nhạc Nga, chuyên gia về âm nhạc Mỹ, người tiên phong cho âm nhạc của Ives và Ruggles, nhà vô địch về Gershwin, người gìn giữ di sản của Bernstein; ông là một người am hiểu Mahler bẩm sinh, một người tận tuỵ với văn hoá Pháp và là một nhà hoạt động nhiệt thành cho sự nghiệp của âm nhạc đương đại”. Trong sự nghiệp đồ sộ của mình, Thomas tỏ ra đặc biệt gắn bó với Gustav Mahler. Năm 2001, cùng San Francisco Symphony, ông đã thu âm trọn bộ các bản giao hưởng cũng như một số bài hát của Mahler cho SFS Media, hãng thu âm của riêng dàn nhạc (dàn nhạc đầu tiên tại Mỹ thực hiện việc này). Ông vẫn luôn trung thành với thẩm mỹ của sự ngẫu hứng, tự do và khám phá. Ngay cả những bản nhạc quen thuộc nhất, các màn trình diễn của ông có thể thay đổi tinh tế từ đêm này sang đêm khác, và thay đổi rất nhiều từ năm này sang năm khác. Ông luôn cởi mở, và khuyến khích các cộng sự âm nhạc của mình cũng vậy, với những nguồn cảm hứng bất chợt. Thomas cho biết: “Nhạc cổ điển vốn dĩ chứa đựng nhiều điều thú vị, hấp dẫn và khơi gợi sự tò mò mà bạn sẽ cảm nhận được ngay từ lần nghe đầu tiên. Nhưng về bản chất, nó ẩn chứa rất nhiều bí mật hay những góc nhìn khác, mà chỉ khi nghe đi nghe lại nhiều lần bạn mới nhận ra… Tôi hạnh phúc nhất khi cảm thấy âm nhạc đạt đến một đẳng cấp mà không ai thực sự chắc chắn ai là người tạo ra nó. Nó dường như diễn ra một cách tuyệt vời, kỳ diệu, chứ không phải là kết quả của việc ai đó nói: “Hãy làm theo tôi””. Thomas giã từ vị trí của mình tại San Francisco Symphony và được phong làm nhạc trưởng danh dự vào năm 2020. Trong nhiệm kỳ của mình, Thomas đã nâng tầm San Francisco Symphony trở thành một trong những dàn nhạc tốt nhất nước Mỹ. Đánh giá về tầm ảnh hưởng của Thomas, Priscilla Geeslin, chủ tịch của San Francisco Symphony cho biết: “Khi Michael Tilson Thomas được bổ nhiệm làm Giám đốc Âm nhạc của Dàn nhạc Giao hưởng San Francisco, tôi nhớ cảm giác vô cùng phấn khích, như thể một điều phi thường vừa được khởi động cho tất cả chúng ta. Những gì xảy ra sau đó thậm chí còn vượt xa cả sự phấn khích ban đầu. Trên bục chỉ huy, ông mang đến sự xuất sắc, lòng tò mò và giọng điệu độc đáo đã định hình lại dàn nhạc. Ngoài bục chỉ huy, ông thể hiện sự ấm áp, hóm hỉnh và tấm lòng rộng lượng, khiến việc được làm bạn với ông là một món quà bất ngờ. Ông không chỉ dẫn dắt San Francisco Symphony mà còn trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của chính San Francisco, mở rộng ý nghĩa của dàn nhạc trong một thành phố như của chúng ta. Tầm ảnh hưởng của ông vượt xa khỏi phòng hoà nhạc, chạm đến đời sống của thành phố theo những cách vừa hữu hình vừa sâu sắc. Và ngay cả sau khi từ chức giám đốc âm nhạc, ông chưa bao giờ thực sự rời đi. Ông vẫn là một phần không thể thiếu của San Francisco Symphony về mặt nghệ thuật, trí tuệ và là một người dẫn dắt, tiếp tục định hình và truyền cảm hứng cho tổ chức mà ông đã giúp định nghĩa. Nói một cách đơn giản, chúng tôi thực sự rất may mắn khi có ông”.
Năm 2021, Thomas bị chẩn đoán mắc ung thư não ác tính. Bất chấp bệnh tật, ông vẫn sáng tác và chỉ huy, một minh chứng cho sự gắn bó và tận tâm của Thomas đối với âm nhạc. Ngày 26/4/2025, Thomas lần cuối cùng xuất hiện trước khán giả trong một chương trình kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của ông cùng San Francisco Symphony với các tác phẩm A Young Person’s Guide to the Orchestra (Benjamin Britten) và Roman Festivals (Ottorino Respighi). Thomas qua đời tại nhà riêng ở Los Angeles vào ngày 22/4/2026 ở tuổi 81 sau năm năm chiến đấu với bệnh tật. Lời chia buồn và tiếc thương đã được gửi đến Thomas từ khắp nơi trên thế giới cho thấy ông được yêu quý như thế nào. Thomas đã có một sự nghiệp thành công và trọn vẹn đúng như những gì ông đã nói trước khi nghỉ hưu: “Coda là một thuật ngữ âm nhạc ở cuối tác phẩm, đưa toàn bộ bản nhạc đến hồi kết. Độ dài của coda có thể rất khác nhau. Coda cuộc đời tôi thì hào phóng và phong phú”.
Cobeo





