Thông tin chung

Tác giả: Edvard Grieg.
Thời gian sáng tác: Bắt đầu từ tháng 6/1868 và hoàn thành vào đầu năm 1869. Grieg đã nhiều lần sửa chữa tác phẩm này vào các năm 1872, 1890, 1892 và 1895.
Công diễn lần đầu: Ngày 3/4/1869 với Edmund Neupert độc tấu dưới sự chỉ huy của Holger Simon Paulli và Orchestra of the Royal Theatre tại Copenhagen.
Độ dài: Khoảng 30 phút.
Tác phẩm có 3 chương:
Chương I – Allegro molto moderato (La thứ)
Chương II – Adagio (Rê giáng trưởng)
Chương III – Allegro moderato molto e marcato – Quasi presto – Andante maestoso (La thứ – Pha trưởng – La thứ – La trưởng)
Thành phần dàn nhạc: Piano độc tấu, 2 flute (flute 2 kiêm piccolo), 2 oboe, 2 clarinet, 2 bassoon, 4 horn, 2 trumpet, 3 trombone, timpani và dàn dây.

Hoàn cảnh sáng tác

Grieg không thực sự cảm thấy thoải mái khi viết những tác phẩm âm nhạc có cấu trúc, quy mô lớn. 4 Symphonic dance là lần ông đến gần với quy tắc sáng tác giao hưởng nhất (không tính bản giao hưởng ông sáng tác như một bài tập thời sinh viên khi ông 21 tuổi và tác phẩm này cũng không được đánh số Op). Ông cũng chỉ có 5 sonata (1 cho piano, 1 cho cello và 3 cho violin), 2 tứ tấu đàn dây (bản đầu tiên thời sinh viên bị thất lạc). Do vậy, bản piano concerto cực kỳ nổi tiếng của Grieg là một ngoại lệ, nhưng việc mất nhiều thời gian để sáng tác cũng như sửa chữa tác phẩm cho thấy nhà soạn nhạc gặp khó khăn trong việc có được những tác phẩm có quy mô lớn.
Trong 4 năm từ 1858-1862, Grieg đã theo học tại nhạc viện Leipzig, tại đây ông đã có dịp được nghe Clara Schumann chơi bản piano concerto nổi tiếng của chồng mình và trong suốt nhiều thập kỷ sau đó, ông coi buổi hoà nhạc đó là một trải nghiệm có sự ảnh hưởng sâu sắc tới sự nghiệp của mình. Trở về quê nhà, Grieg có dịp tiếp xúc với Rikard Nordraak (1842-1866) người mà chủ nghĩa dân tộc đã đạt tới sự hoàn hảo qua việc sáng tác quốc ca Na Uy. Chính Nordraak là người đã đưa ra lập luận rằng người Na Uy nên tạo ra một phong cách âm nhạc đặc trưng (theo cách mà Glinka đã làm ở Nga hay Smetana ở Czech). Grieg nhớ lại: “Từ Nordraak tôi lần đầu tiên biết được các bản dân ca Na Uy là gì và học để biết được bản chất của chính mình”.
Bản piano concerto ra đời trong khoảng thời gian đặc biệt hạnh phúc của Grieg, ông kết hôn năm 1867 và tháng 4/1868, con gái ông ra đời. Mùa hè năm 1868, cả gia đình đi nghỉ tại Søllerød, gần Copenhagen, Đan Mạch và tác phẩm được sáng tác tại đây. Buổi ra mắt diễn ra tại Copenhagen vào ngày 3/4/1869 nhìn chung đã được đánh giá tốt đẹp. Có nhà phê bình hài lòng về việc bản piano concerto sử dụng nhiều chất liệu dân ca Na Uy đã nhận xét tác phẩm là: “Toàn bộ Na Uy trong sự đa dạng và thống nhất”.
Đầu năm 1870, Grieg gặp Liszt. Grieg đã giới thiệu bản piano concerto của mình và Liszt đã thử chơi ngay và luôn miệng tán thưởng. Grieg kể lại: “Cuối cùng (Liszt) đã nói một cách kỳ lạ và đầy xúc động: “Tôi nói với anh là hãy tiếp tục. Anh có tất cả những gì cần thiết và đừng để chúng làm anh sợ hãi”. Liszt đề nghị một số thay đổi và Grieg đã đưa chúng vào ấn bản năm 1872. Dù vậy, Grieg vẫn không hài lòng với tác phẩm và còn sửa chữa chúng nhiều lần sau đó. Bất chấp sự hoài nghi của chính nhà soạn nhạc, bản piano concerto đã trở nên rất nổi tiếng và được biểu diễn trên khắp thế giới.

Phân tích tác phẩm

Chương I tác phẩm bỏ qua luôn phần giới thiệu của dàn nhạc: chỉ tiếng timpani dồn vang kích động nghệ sĩ độc tấu bắt đầu phần của mình. Ba quãng tám chóng mặt rơi xuống bắt đầu với một nhóm 3 nốt, xuống một bán cung rồi xuống tiếp một quãng ba trưởng, rất phổ biến trong dân ca Na Uy và đã trở thành “motif của Grieg”. Sau đó, kèn gỗ giới thiệu chủ đề chính mang tính chất dân gian rất rõ, sinh động và có nhịp điệu rõ ràng. Với tiết tấu chậm hơn một chút, bè cello tấu lên chủ đề hai đầy lãng mạn và u buồn. Sau một đoạn phát triển ngắn, phần mở đầu tác phẩm được nhắc lại rồi đột ngột dừng lại, nhường chỗ cho phần cadenza do đích thân Grieg viết.
Chương II chậm rãi có một sự chuyển giọng rất lạ so với chương I, từ La thứ chuyển sang Rê giáng trưởng, được viết ở hình thức 3 đoạn. Dàn dây chơi tắt tiếng mở ra với một chủ đề mệt mỏi, thấm đẫm nỗi buồn và đẹp mê hồn. Đau đớn và đầy khao khát. Phần piano xuất hiện, ngập ngừng trước khi vào giai điệu chính. Có một chút trao đổi giữa dàn nhạc và piano độc tấu, chậm rãi và nhẹ nhàng. Rất ít xung đột và bất ngờ, nhưng không thể nghi ngờ về sự tinh tế và thanh tao của chương nhạc. Có lẽ đây là một trong những bằng chứng tuyệt vời để giải thích tại sao Grieg lại có biệt danh “Chopin của phương Bắc”.
Chương III nối tiếp chương II bằng một đoạn nhạc ngắn giới thiệu chuyển từ Rê giáng trưởng sang La thứ. Phần piano giới thiệu chủ đề chính của chương nhạc theo phong cách halling, một vũ điệu dân ca rất nổi tiếng tại Na Uy. Cung cấp một khoảng thời gian nghỉ ngơi yên tĩnh, flute độc tấu một giai điệu đáng yêu đầy mê hoặc ở tốc độ chậm; rồi motif tươi vui trở lại. Nghệ sĩ độc tấu đã chuyển từ halling ở nhịp 2/4 sang một bản waltz lấp lánh ở nhịp ¾. Nhưng Grieg còn có ý tưởng tuyệt vời hơn để kết thúc tác phẩm: Ông đã đưa trở lại chủ đề hai đầy ám ảnh, nhưng lần này ở giọng La trưởng nguy nga và lộng lẫy.

So sánh với concerto của Schumann

Nhiều người thường so sánh tác phẩm này của Grieg với bản piano concerto của Schumann. Đây đều là 2 piano concerto duy nhất của hai nhà soạn nhạc, cùng được viết ở giọng La thứ. Bên cạnh đó còn có những tương đồng về mặt cấu trúc: đều khởi đầu tác phẩm với những âm lượng mạnh mẽ từ phía dàn nhạc được nối tiếp bằng những chùm nốt hoa mỹ của piano rồi dẫn đến chủ đề chính của chương nhạc trên kèn gỗ… Nhưng trên thực tế, mặc dù bản piano concerto của Grieg có cấu trúc tuân theo truyền thống Đức-Áo nhưng không thể nói âm nhạc của tác phẩm là không nguyên bản và chắc chắn không là bản sao của Schumann thông qua cách sử dụng dân ca Na Uy vô cùng tinh tế và nhuần nhuyễn. Đây là tác phẩm vừa có tính anh hùng ca, vừa có tính tươi mới nhất trong các piano concerto thời kỳ Lãng mạn.
Nguồn:

Bình luận Facebook