PHILADELPHIA ORCHESTRA

Nổi tiếng với âm thanh đặc trưng, được yêu mến nhờ khả năng nhạy bén trong việc chạm tới trái tim và trí tưởng tượng của khán giả, và được ngưỡng mộ vì một di sản vô song với nhiều “lần đầu tiên” trong hoạt động biểu diễn âm nhạc, Philadelphia Orchestra vẫn luôn là một trong những dàn nhạc hàng đầu thế giới. Trong khi vẫn hoàn toàn tận tâm với âm nhạc cổ điển và các tiết mục truyền thống, dàn nhạc cũng không ngừng phát triển những chương trình hấp dẫn, phù hợp với khán giả đương đại. Philadelphia Orchestra hướng tới tương lai, đồng thời được truyền cảm hứng từ truyền thống thành tựu phong phú. Dàn nhạc không chỉ mong muốn duy trì chất lượng nghệ thuật ở mức cao nhất, mà còn nỗ lực thách thức, và vượt qua chính chuẩn mực đó bằng cách tạo nên những trải nghiệm âm nhạc mạnh mẽ cho khán giả trên toàn thế giới. Philadelphia Orchestra cũng là thành viên của nhóm “Big Five”, nhóm năm dàn nhạc giao hưởng của Mỹ mà trong lịch sử đã dẫn đầu về “sự xuất sắc âm nhạc, trình độ nghệ sĩ biểu diễn, tổng số tuần hợp đồng trong năm, mức lương cơ bản hàng tuần, các bảo đảm về việc thu âm và chế độ nghỉ phép có lương, cùng với New York Philharmonic, Boston Symphony Orchestra, Chicago Symphony Orchestra và Cleveland Orchestra.

Philadelphia không có dàn nhạc giao hưởng riêng cho đến cuối thế kỷ 19, mặc dù có lịch sử lâu dài về các buổi biểu diễn âm nhạc được tài trợ tại các địa điểm như Musical Fund Hall (khai trương năm 1824) và Academy of Music (1857). Bước đi đầu tiên trong việc thành lập một dàn nhạc giao hưởng có trụ sở tại Philadelphia diễn ra vào năm 1893 khi nhạc trưởng Gustav Hinrichs, chỉ huy hợp xướng Henry Gordon Thunder và nhà soạn nhạc William Gilchrist đã thành lập Philadelphia Symphony Society (Hiệp hội giao hưởng Philadelphia) với mục đích tổ chức ba buổi hoà nhạc mỗi năm tại Academy of Music. Năm 1899, họ đã thuê nhạc trưởng người Đức Fritz Scheel để chỉ huy không chỉ ba mà còn thêm hai chương trình nữa vào mùa xuân năm 1900 với các nhạc công được tuyển chọn trên khắp Philadelphia. Thành công của các buổi hoà nhạc này đã đặt nền móng cho việc thành lập Philadelphia Orchestra. Một ủy ban điều hành do Henry Whelen Jr., nhà bảo trợ âm nhạc và nghệ thuật nổi tiếng ở Philadelphia, đứng đầu, đã công bố kế hoạch thành lập Philadelphia Orchestra với mùa diễn đầu tiên trong năm 1900-1901 gồm sáu buổi hoà nhạc. Trong khi dự kiến trang trải chi phí thông qua tiền bán vé, ủy ban cũng tìm cách gây quỹ bảo lãnh trị giá 10.000 USD và đã vượt mục tiêu đó 5.000 USD. Dưới sự chỉ huy của Scheel, buổi biểu diễn đầu tiên của dàn nhạc đã diễn ra tại Academy of Music (nơi cũng trở thành ngôi nhà của dàn nhạc trong suốt nhiều năm sau đó) vào ngày 16/11/1900. Chương trình gồm có Spring Overture của Karl Goldmark, Giao hưởng số 5 của Ludwig van Beethoven, Concerto piano số 1 của Pyotr Ilyich Tchaikovsky (nghệ sĩ độc tấu là Ossip Gabrilowitsch), Invitation to the Dance của Carl Maria von Weber và trích đoạn “Einzug der Götter in Walhall” từ Das Rheingold (Richard Wagner).

Thành công của mùa diễn đầu tiên đã thúc đẩy các nhà bảo trợ thành lập Philadelphia Orchestra Association vào ngày 17/5/1901, bao gồm hội đồng quản trị và ban điều hành. Scheel trở thành giám đốc âm nhạc và nhạc trưởng chính thức đầu tiên của dàn nhạc. Scheel nhận ra ngay rằng dàn nhạc không thể duy trì hoạt động chỉ bằng các buổi hoà nhạc tại địa phương. Trong năm đầu tiên, các nhạc công chỉ đi lưu diễn trong khu vực lân cận ở Pennsylvania và New Jersey, nhưng trong mùa thứ hai, bất chấp khoản thâm hụt lớn, dàn nhạc đã cố gắng xoay sở để đi lưu diễn đến New York, Baltimore và Washington. Sau mùa diễn đầu tiên, ông đã sa thải một nửa số nhạc công và thay thế họ bằng các nhạc công đến từ châu Âu. Trong những năm đầu mới thành lập này, Philadelphia đã đón chào Richard Strauss làm nhạc trưởng khách mời với một chương trình gồm các tác phẩm của ông vào năm 1904. Năm 1906, Arthur Rubinstein ra mắt khán giả Mỹ với Philadelphia Orchestra. Nhiệm kỳ của Scheel đã trải qua những thách thức ban đầu, khó khăn tài chính và thành công của dàn nhạc, và di sản của ông đã đặt nền móng cho những người kế nhiệm. Scheel đã tìm kiếm và tuyển dụng những nghệ sĩ giỏi nhất, mời các nghệ sĩ nổi tiếng và trình diễn nhiều tác phẩm của các bậc thầy âm nhạc châu Âu vĩ đại cũng như các nhà soạn nhạc ít được biết đến hơn. Scheel cũng nổi tiếng với việc thường mặc trang phục quân đội khi chỉ huy dàn nhạc. Cái chết của ông vào ngày 13/3/1907 vì viêm phổi, xuất phát từ việc suy nhược thần kinh, được coi là một mất mát lớn đối với dàn nhạc nói riêng và thành phố Philadelphia nói chung. Trong thời gian Scheel điều trị bệnh, nghệ sĩ violin, nhạc trưởng người Ý Leandro Campanari đã thay thế ông.

Nhạc trưởng người Đức gốc Bohemia Karl Pohlig trở thành giám đốc âm nhạc thứ hai của Philadelphia Orchestra sau khi Scheel qua đời. Pohlig từng có thời gian theo học piano với Franz Liszt và là trợ lý cho Gustav Mahler tại Vienna Court Opera (nay là Vienna State Opera). Ông cũng chính là nhạc trưởng chỉ huy buổi ra mắt phiên bản hoàn chỉnh bản Giao hưởng số 6 của Anton Bruckner (trước đó tác phẩm chỉ được biểu diễn từng phần nhỏ hoặc theo phiên bản chỉnh sửa của Mahler). Pohlig đã mở rộng biên chế của Philadelphia Orchestra từ 65 lên 80 nhạc công. Trong nhiệm kỳ của mình, đáng chú ý nhất là việc Pohlig đã mời Sergei Rachmaninov chỉ huy và biểu diễn cùng dàn nhạc trong lần ra mắt đầu tiên của nhà soạn nhạc trên đất Mĩ vào năm 1909, mở ra một sự cộng tác lâu dài và tốt đẹp suốt những năm sau đó. Pohlig cũng cố gắng mở rộng danh mục biểu diễn của dàn nhạc nhưng những tác phẩm mới này ít được khán giả đón nhận. Pohlig chỉ cộng tác với dàn nhạc đến năm 1912 sau khi việc ông ngoại tình với thư ký người Thuỵ Điển Ella Janssen bị phanh phui. Philadelphia Orchestra đã sa thải ông. Pohlig đã kiện dàn nhạc vì hợp đồng của ông vẫn còn hiệu lực một năm nữa. Sau đó Philadelphia Orchestra đã phải bồi thường ông 12.000 USD (tương đương một năm tiền lương).

Leopold Stokowski trở thành giám đốc âm nhạc thứ ba của Philadelphia Orchestra và có buổi biểu diễn đầu tiên cùng dàn nhạc vào ngày 11/10/1912. Dưới sự dẫn dắt của Stokowski, Philadelphia Orchestra đã đạt được những thành công vang dội và chính thức trở thành một trong những dàn nhạc xuất sắc nhất của nước Mĩ. Ở chiều ngược lại, Stokowski cũng giành được nhiều thành tựu và đạt được sự công nhận lớn nhất về mặt nghệ thuật. Trước khi Stokowski xuất hiện, Philadelphia Orchestra được xây dựng dựa theo những tiêu chuẩn châu Âu, điều tương tự với các dàn nhạc hàng đầu của nước Mĩ lúc bấy giờ. Stokowski mang đến một luồng không khí cởi mở và thoải mái hơn. Là người ủng hộ nhiệt tình cho âm nhạc đương đại, ông không ngại ngần mở rộng danh mục biểu diễn của dàn nhạc, đưa vào đó nhiều tác phẩm lần đầu tiên được giới thiệu tại Mĩ. Stokowski cũng là người tiên phong trong việc điều chuyển chỗ ngồi của các nhạc công trong dàn nhạc, đưa họ về những vị trí mà chúng ta thấy quen thuộc trong các phòng hoà nhạc ngày nay. Đó là sắp xếp để bè violin 1 và violin 2 ngồi cạnh nhau, ở phía bên trái của bục chỉ huy, tiếp đó là viola và cello. Bè double bass được đẩy ra phía sau. Áp đặt những tiêu chuẩn biểu diễn riêng của mình, Stokowski đã sa thải 32 nhạc công ngay năm đầu tiên và trong thập kỷ tiếp theo tập trung vào việc thay thế các nhạc công bằng những chuyên gia giỏi nhất. Dưới sự chỉ huy của Stokowski, Philadelphia Orchestra nổi tiếng về sự phong phú, mạnh mẽ, điêu luyện và hoà quyện, đặc biệt là ở bè dây. Stokowski chính là người áp dụng kỹ thuật free bowing (ở đó, mỗi nhạc công tự quyết định cách kéo vĩ, thay vì tất cả cùng chơi đồng bộ như thông thường, nhằm tạo ra một âm thanh đầy đặn và tự nhiên hơn. Kỹ thuật này cũng dễ dẫn đến việc bị lạc nhịp. Free bowing luôn được Stokowski áp dụng tại bất cứ dàn nhạc nào nhưng nó cũng chấm dứt tại Philadelphia Orchestra sau khi Eugene Ormandy lên thay thế ông). Stokowski chính là tác giả của “Philadelphia Sound” huyền thoại. Nền tảng của nó là một thứ âm thanh có tông màu sang trọng, ấn tượng và sự chú ý chính xác đến màu sắc.

Một trong những dấu ấn đậm nét nhất mà Stokowski tạo lập cùng Philadelphia Orchestra là việc biểu diễn lần đầu tại Mĩ bản Giao hưởng số 8 của Mahler vào ngày 2/3/1916. Đây là một tác phẩm vô cùng đồ sộ với việc yêu cầu ba dàn hợp xướng (lên tới 950 ca sĩ), một dàn nhạc lớn với 150 nhạc công và tám ca sĩ lĩnh xướng. Chương trình thành công đến nỗi ban giám đốc của Philadelphia Orchestra Association đã ca ngợi là đánh dấu: “một kỷ nguyên trong lịch sử âm nhạc của Philadelphia mà không sự kiện nào khác có thể so sánh được”. Hai chuyến tàu đã chở toàn bộ 1.200 người tham gia vào dự án này từ Philadelphia đến New York cho buổi hoà nhạc vào ngày 9/4/1916 tại Metropolitan Opera. Những chương trình như vậy đã góp phần tạo nên danh tiếng lớn lao cho cả Stokowski và Philadelphia Orchestra trên phạm vi toàn nước Mĩ. Ngày 24/10/1917 là một sự kiện lịch sử khác đã xảy ra với Philadelphia Orchestra và Stokowski khi họ thực hiện bản thu âm đầu tiên của mình trong tổng số gần 500 bản với RCA Victor trong các Vũ khúc Hungary số 5 và 6 của Johannes Brahms. Di sản của Stokowski cũng bao gồm các buổi hoà nhạc dành cho trẻ em từ 12 tuổi trở xuống, bắt đầu từ năm 1921. Sau đó, từ năm 1933, chương trình này phát triển thành một loạt các buổi hoà nhạc dành cho thanh thiếu niên và gặt hái được rất nhiều thành công.

Năm 1930, một số thành viên của Philadelphia Orchestra tham gia vào các buổi hoà nhạc mùa hè ngoài trời tại thung lũng Robin Hood, một khu rừng nhỏ trong công viên Fairmount, Philadelphia. Ngày nay các buổi hoà nhạc này đã trở thành một nét truyền thống tại Philadelphia. Năm 1931, kết hợp với Bell System, Philadelphia Orchestra và Stokowski đã thí nghiệm ghi âm stereo và trở thành dàn nhạc đầu tiên thu âm trên đĩa nhựa, do RCA phát hành. Năm 1936, dàn nhạc thực hiện chuyến lưu diễn chính thức đầu tiên của mình vòng quanh nước Mỹ và Canada với 33 buổi hoà nhạc tại 27 thành phố trong 35 ngày. Stokowski cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc thuyết phục Mary Louise Curtis Bok thành lập Curtis Institute of Music. Ngoài việc tham gia giảng dạy tại đây, Stokowski cũng thiết lập một mối quan hệ bền chặt giữa dàn nhạc và trường học bằng việc tuyển dụng các giáo viên và sinh viên ưu tú trở thành thành viên của Philadelphia Orchestra. Đầu năm 1936, Stokowski tuyên bố sẽ không còn là giám đốc âm nhạc của Philadelphia Orchestra sau một số mâu thuẫn với dàn nhạc. Ormandy được bổ nhiệm làm đồng nhạc trưởng. Stokowski chính thức chia tay dàn nhạc vào năm 1938. Mặc dù vậy, vào năm 1939, cùng Philadelphia Orchestra, Stokowski đã hợp tác với Walt Disney trong việc tạo ra bộ phim hoạt hình Fantasia. Ông đã chỉ huy nhiều bản nhạc trong tác phẩm này và có cảnh bắt tay nổi tiếng với chú chuột Mickey. Fantasia đã góp phần đáng kể trong việc truyền bá nhạc cổ điển tới khán giả Mĩ, đặc biệt là các em nhỏ, thông qua sự kết hợp tuyệt vời giữa âm nhạc với những thước phim minh hoạ sống động và ngộ nghĩnh.

Ormandy chính thức trở thành giám đốc âm nhạc duy nhất của Philadelphia từ năm 1938 và đảm nhận cương vị này trong 44 năm, trở thành sự kết hợp gắn bó và chặt chẽ nhất trong lịch sử âm nhạc cổ điển Mĩ giữa một nhạc trưởng và dàn nhạc. Lần đầu chỉ huy Philadelphia Orchestra vào năm 1931 khi thay thế cho Arturo Toscanini, Ormandy đã kế thừa và nâng tầm “Philadelphia Sound” bằng cách thêm vào đó sự trau chuốt và chính xác. Dưới nhiệm kỳ của ông, dàn nhạc đã mua được những nhạc cụ dây tốt nhất từ các nhà sản xuất như Stradivari và Guarneri. Những cây đàn này, kết hợp với tài năng xuất chúng của các nhạc công, đã củng cố thêm danh tiếng của Philadelphia Orchestra là một trong những dàn nhạc xuất sắc nhất trên thế giới. Trong nhiệm kỳ của mình, nối tiếp truyền thống của Stokowski, Ormandy đã cùng dàn nhạc thực hiện việc công diễn ra mắt nhiều tác phẩm ưu tú của những nhà soạn nhạc nổi tiếng như: Concerto piano số 3 của Béla Bartók (1946) với nghệ sĩ độc tấu là György Sándor hay tổ khúc âm nhạc dành cho ballet “Medea” của Samuel Barber (1947). Theo một thống kê, chỉ tính riêng với Philadelphia Orchestra, Ormandy đã thực hiện 585 đĩa nhạc, chủ yếu là với Columbia records. Danh mục biểu diễn của Ormandy và Philadelphia Orchestra tập trung chủ yếu vào thời kỳ cuối Lãng mạn và đầu thế kỷ 20. Ông tiếp tục duy trì mối quan hệ tốt đẹp với Rachmaninov. Tác phẩm Symphonic Dances được nhà soạn nhạc sáng tác năm 1940 đã dành tặng cho Ormandy và dàn nhạc. Năm 1948, Philadelphia Orchestra trở thành dàn nhạc đầu tiên xuất hiện trên đài truyền hình quốc gia khi được hãng CBS phát sóng.

Nhạc trưởng Kenneth Woods nhận xét về âm thanh của Philadelphia Orchestra dưới sự chỉ huy của Ormandy: “Philadelphia Orchestra của Ormandy là đối thủ thực sự duy nhất với Berlin Philharmonic của Karajan về vẻ đẹp âm thanh trong thập niên 50-70 nhưng cũng là một dàn nhạc chặt chẽ và linh hoạt hơn”. Ormandy được ghi nhận vì đã tổ chức nhiều chuyến lưu diễn cùng dàn nhạc, góp phần củng cố và nâng cao danh tiếng cho Philadelphia Orchestra trên trường quốc tế. Ta có thể kể đến chuyến lưu diễn tại Anh năm 1949, chuyến lưu diễn đầu tiên của dàn nhạc tại châu Âu lục địa vào năm 1955 với 28 buổi hoà nhạc tại 11 quốc gia (trong đó có lần ghé thăm Jean Sibelius tại nhà riêng). Năm 1973, Philadelphia Orchestra là dàn nhạc đầu tiên của Mĩ thực hiện chuyến lưu diễn đến Trung Quốc.

Năm 1963, Philadelphia Orchestra trở thành dàn nhạc Mĩ đầu tiên ký hợp đồng và trả lương cho nhạc công đầy đủ 52 tuần trong năm. Trước đó, họ chỉ nhận được lương theo mùa biểu diễn. Sự thay đổi này này thu hút những tài năng hàng đầu, nhưng cũng đồng nghĩa với việc phải tìm thêm nhiều buổi hoà nhạc và địa điểm biểu diễn để lấp đầy lịch trình của các nhạc công. Ngân sách lớn hơn đòi hỏi đội ngũ nhân viên đông hơn – bao gồm các chuyên viên tiếp thị, gây quỹ, quản trị viên để đảm bảo ban quản lý tuân thủ các quy định làm việc phức tạp. Tất nhiên, các nhạc công là người hưởng lợi nhiều nhất. Theo như hội đồng quản trị ca ngợi, đây là dấu chấm hết cho các cuộc tranh chấp lao động. Tuy nhiên, thật mỉa mai, từ tháng 9-11/1966, một cuộc đình công do các nhạc công Philadelphia Orchestra đã kéo dài 58 ngày với những vấn đề liên quan đến lương, thưởng và điều kiện làm việc. Cũng trong năm 1966 này, dàn nhạc bắt đầu chuyến lưu diễn định kỳ thường niên của mình tại Saratoga Performing Arts Center, Saratoga Springs, New York (thường trong ba tuần của tháng Tám). Từ năm 1976, những buổi hoà nhạc ngoài trời định kỳ của Philadelphia Orchestra được chuyển đến một địa điểm mới tại Robin Hood Dell West (nay đổi tên thành Highmark Mann), Fairmount Park, rất gần địa điểm cũ. Ormandy giã từ cương vị của mình vào năm 1980 nhưng vẫn cộng tác với dàn nhạc với tư cách nhạc trưởng danh dự. Buổi biểu diễn cuối cùng của ông với Philadelphia Orchestra diễn ra vào ngày 10/1/1984 tại Carnegie Hall.

Riccardo Muti được lựa chọn để thay thế Ormandy. Lúc này Muti đang là là nhạc trưởng chính của Philharmonia Orchestra và cộng tác lần đầu với Philadelphia Orchestra vào năm 1975. Điều đầu tiên mà Muti thực hiện cùng dàn nhạc là tuyên bố loại bỏ “Philadelphia Sound”, vốn được hai người tiền bối Stokowski và Ormandy xây dựng và là thương hiệu của dàn nhạc. Muti yêu cầu Philadelphia Orchestra phải biểu diễn các tác phẩm sao cho trung thành với ý đồ của nhà soạn nhạc nhất và “Philadelphia Sound” trở thành một lớp vỏ bóng bẩy che phủ nên cần bị loại bỏ. Điều này ban đầu đã gây ra rất nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, với tài năng của mình, Muti đã dập tắt những lời chỉ trích khi những buổi biểu diễn cũng như các bản ghi âm của ông và Philadelphia Orchestra trong các tác phẩm của Tchaikovsky, Brahms và các nhà soạn nhạc Lãng mạn khác đã nhận được những lời tán thưởng từ phía những nhà phê bình và công chúng. Là một người có khuynh hướng cách tân, Muti đã cùng dàn nhạc mở rộng hơn nữa kịch mục của mình. Philadelphia Orchestra trong giai đoạn này đã biểu diễn rất nhiều các tác phẩm âm nhạc của những nhạc sĩ đương thời như William Bolcom hay Luciano Berio. Thậm chí vào năm 1989 Muti còn mời nhạc sĩ người Mĩ Bernard Rands làm nhà soạn nhạc thường trực (composer-in-residence) cho dàn nhạc.

Là một người Ý – quê hương của nghệ thuật opera, trong suốt những năm tháng gắn bó với Philadelphia Orchestra, Muti luôn đưa các tác phẩm này vào chương trình biểu diễn định kỳ của dàn nhạc, bắt đầu từ năm 1983 với Macbeth của Giuseppe Verdi. Trong những năm tháng tiếp theo là hàng loạt các vở opera của Richard Wagner, Verdi, Giacomo Puccini và Ruggero Leoncavallo. Năm 1986, dưới sự chỉ huy của Muti, Philadelphia Orchestra kỉ niệm 50 năm ngày thực hiện chuyến lưu diễn xuyên lục địa đầu tiên của mình bằng một chuyến đi vòng quanh nước Mĩ. Năm 1988, Philadelphia Orchestra dưới sự chỉ huy của Muti đã trở thành dàn nhạc đầu tiên của Mĩ ghi âm trọn bộ chín bản giao hưởng của Ludwig van Beethoven trên CD (cùng hãng ghi âm EMI Classics). Tháng 4/1991, Muti và Philadelphia Orchestra thực hiện buổi hoà nhạc đầu tiên mang tên Martin Luther King, đến nay đã trở thành những chương trình thường niên có tính chất định kỳ. Từ năm 1986, Muti còn đảm nhận cương vị giám đốc âm nhạc của La Scala. Rõ ràng việc phụ trách một dàn nhạc và một nhà hát opera nằm ở hai bên bờ đại dương đã phần nào làm suy giảm sự tập trung của ông dành cho Philadelphia Orchestra. Và ngay từ năm 1990, Philadelphia Orchestra đã thông báo rằng nhạc trưởng chính tiếp theo của dàn nhạc sẽ là Wolfgang Sawallisch. 1991-1992 là mùa diễn cuối cùng của Muti trên cương vị giám đốc âm nhạc của Philadelphia Orchestra. Sau khi chia tay dàn nhạc, Muti rất ít khi xuất hiện trở lại với tư cách nhạc trưởng khách mời.

Việc Philadelphia Orchestra lựa chọn Sawallisch là một quyết định đáng ngạc nhiên và gây nhiều tranh cãi. Thay thế Muti, trẻ tuổi và hiện đại bằng một nhạc trưởng vốn nổi tiếng là bảo thủ với truyền thống Đức-Áo dường như là việc đi ngược lại xu thế quốc tế hoá tất yếu của dàn nhạc. Đó là chưa kể đến việc cộng đồng người Do Thái phản đối do Sawallisch từng có thời gian phục vụ cho quân đội Đức trong Thế chiến thứ hai. Trước những nghi ngờ đó, Sawallisch khéo léo trả lời: “Tại châu Âu, những nhà soạn nhạc Mĩ không được biết đến nhiều. Tôi không biết tại sao nhưng đó là sự thật, ngoại trừ Samuel Barber, Aaron Copland, Leonard Bernstein và George Gershwin. Tôi chắc chắn rằng đất nước rộng lớn của các bạn có rất nhiều nhà soạn nhạc giỏi và tôi muốn được tìm hiểu các tác phẩm âm nhạc của họ”. Trên thực tế, Sawallisch đã có những nỗ lực rất lớn trong việc biểu diễn các tác phẩm âm nhạc đương đại Mĩ với ít nhất 15 buổi ra mắt đầu tiên trên phạm vi toàn thế giới. Thậm chí trong mùa diễn 1999-2000, ông đã dành toàn bộ cho các tác phẩm được sáng tác trong thế kỷ 20. Sawallisch cũng nhanh chóng tiếp thu những ý tưởng mới, phát sóng các buổi hoà nhạc trực tuyến ngay từ những ngày đầu của internet. Bên cạnh đó, ông cũng làm hồi sinh “Philadelphia Sound”.

Một sự kiện xảy ra vào tháng 2/1994 đã khiến Sawallisch chiếm trọn cảm tình của khán giả Philadelphia. Một cơn bão tuyết lớn ập đến khiến nhiều nhạc công, thành viên dàn hợp xướng và khán giả không thể đến được phòng hoà nhạc. Chỉ có các ca sĩ khách mời lưu trú tại khách sạn gần đó là có mặt. Sawallisch quyết định mở rộng cửa phòng hoà nhạc đón tiếp bất cứ vị khách nào. Ông ngồi vào piano và đệm cho các ca sĩ hát trong suốt chương trình gồm các trích đoạn trong opera của Wagner: màn I (Die Walküre) và màn II (Tannhäuser). Đó là một kỷ niệm không thể nào quên với bất cứ ai có mặt trong chương trình hôm đó. Tiếp nối truyền thống tốt đẹp có từ thời Stokowski, từ năm 1994, dàn nhạc thực hiện một dự án mang tên “Sound All Around” với mục đích phổ cập âm nhạc cổ điển đến những em nhỏ chỉ 3-5 tuổi.

Ngày 15/9/1996, các nhạc công của Philadelphia Orchestra đã nhất trí bác bỏ nhiều đề xuất của hội đồng quản trị và đình công lần thứ hai. Xung đột xảy ra do những bất đồng liên quan đến chế độ tiền lương, chăm sóc sức khỏe, phúc lợi. Thu nhập của các nhạc công giảm 2.440 USD so với năm trước và sẽ còn giảm tiếp 2.100 USD trong năm tới. Bảo hiểm y tế của các thành viên dàn nhạc cũng bị loại bỏ. Nguyên nhân dẫn đến tình hình tài chính thâm hụt bắt nguồn từ việc mất nhà tài trợ cho các chương trình phát thanh quốc gia, hợp đồng thu âm với EMI Classics hết hạn vào tháng 8/1996. Khi còn hợp đồng thu âm, các nhạc công được đảm bảo một khoản tiền tối thiểu trên mức lương của họ thông qua phí phát sóng và thu âm. Họ ngại rằng việc mất hợp đồng không chỉ làm giảm sự chú ý của truyền thông dành cho dàn nhạc, mà còn ngăn cản Philadelphia Orchestra thu hút những nghệ sĩ biểu diễn hàng đầu và làm giảm danh tiếng của họ như một trong những dàn nhạc xuất sắc nhất thế giới. Cùng với đó là sự chậm trễ trong việc đưa phòng hoà nhạc mới của dàn nhạc vào hoạt động. Sawallisch đã đứng ra kêu gọi: “Tôi rất mong muốn được trình diễn âm nhạc cùng các nghệ sĩ tuyệt vời của chúng ta cho mùa diễn mới, và tôi chân thành kêu gọi cả ban quản lý và các thành viên dàn nhạc làm mọi điều có thể để đạt được thỏa thuận cùng có lợi, nhờ đó các buổi hòa nhạc của chúng ta có thể được biểu diễn theo đúng lịch trình”. Cuối cùng một thoả thuận đã đạt được vào ngày 18/11/1996 với những nhượng bộ từ phía hội đồng quản trị về tiền lương, thưởng và chế độ hưu trí, chấm dứt 64 ngày đình công.

Đỉnh cao của sự kết hợp giữa Philadelphia Orchestra và Sawallisch là mùa diễn 1997-1998 khi dàn nhạc có được sự cộng tác của rất nhiều nghệ sĩ hàng đầu như Reneé Fleming, Sarah Chang, Frank Peter Zimmermann, Yefim Bronfman và Yo-Yo Ma. Tháng 2/1998, cùng với những nghệ sĩ này, họ đã thực hiện chuyến lưu diễn tại Ý. Trong mùa diễn 1999-2000 nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày thành lập dàn nhạc, Philadelphia Orchestra đã cho phát hành bộ 12 đĩa CD “Philadelphia Orchestra Centennial Collection: Historic Broadcasts and Recordings 1917-1998” và cùng với Temple University Press cho xuất bản cuốn sách khổ lớn về lịch sử dàn nhạc: “Philadelphia Orchestra – A Century of Music”; bên cạnh đó là rất nhiều buổi hoà nhạc tại hầu hết những thành phố lớn tại Bắc Mĩ, Nhật Bản và châu Âu. Tháng 5/1999, Philadelphia Orchestra trở thành dàn nhạc Mĩ đầu tiên có chuyến biểu diễn tại Việt Nam.

Thay đổi quan trọng của Philadelphia Orchestra trong nhiệm kỳ của Sawallisch là việc chuyển địa điểm biểu diễn mới tại Kimmel Center for the Performing Arts, một dự án đã được khởi động từ năm 1986. Trung tâm biểu diễn này được Philadelphia Orchestra và Ensemble Arts quản lý. Từ năm 2016 có thêm Miller Theater. Kimmel Center for the Performing Arts có hai phòng hoà nhạc chính: nhà hát Perelman với 650 ghế và hội trường Maria Anderson (trước đây là hội trường Verizon) rộng lớn với 2.500 chỗ. Về mặt âm học, nghệ sĩ cello của dàn nhạc William Stokking ca ngợi: “Nó giống như một cây đàn Stradivarius”. Buổi biểu diễn chính thức đầu tiên của Philadelphia Orchestra tại hội trường Verizon diễn ra vào ngày 15/12/2001 dưới sự chỉ huy của Sawallisch trong các tác phẩm Color Wheel (Aaron Jay Kernis), Daphnis et Chloé (Maurice Ravel) và Triple concerto của Beethoven (các nghệ sĩ độc tấu là Itzhak Perlman, Yo-Yo Ma và Emanuel Ax). Sawallisch chia tay dàn nhạc sau mùa diễn 2002-2003 và trở thành nhạc trưởng danh dự của Philadelphia Orchestra. Ông đã góp phần định hình lại dàn nhạc bằng cách thay thế hơn một phần ba số nhạc công.

Người thay thế cho Sawallisch cũng là một nghệ sĩ piano, nhạc trưởng người Đức: Christoph Eschenbach, bắt đầu từ tháng 9/2003. Việc bổ nhiệm Eschenbach đã gây ra nhiều tranh luận do ông trước đó có khá ít lần làm việc với Philadelphia Orchestra, cùng những lo ngại ban đầu về sự ăn ý giữa nhạc trưởng với các nhạc công. Trong nhiệm kỳ của Eschenbach, dàn nhạc đã ký được hợp đồng thu âm mới (với Ondine) sau gần một thập kỷ, tuyển thêm chín nhạc công (trong đó có bốn vị trí trưởng bè), và tăng cường các hoạt động gây quỹ. Ông cũng cố gắng làm cho nhạc cổ điển trở nên dễ tiếp cận hơn nữa, bằng cách khởi xướng một sáng kiến mang tên “Vén bức màn vô hình”, nơi ông trực tiếp gặp gỡ các sinh viên âm nhạc và thành viên cộng đồng để giúp họ cảm thấy bớt e ngại trước nhạc cổ điển. Dấu ấn lớn nhất của Eschenbach với Philadelphia Orchestra là việc biểu diễn toàn bộ các bản giao hưởng của Mahler trong tháng 2-3/2004. Xu hướng thường xuyên sử dụng tempo nhanh của Eschenbach cũng gây ra những phản ứng trái chiều. Tháng 10/2006, hai bên thống nhất thông báo nhiệm kỳ của Eschenbach với dàn nhạc sẽ kết thúc sau mùa diễn 2007-2008. Sau đó, Eschenbach còn thỉnh thoảng tham gia biểu diễn với dàn nhạc với tư cách nhạc trưởng khách mời. Trước đó, ngày 21/6/2006, dàn nhạc là đơn vị đầu tiên tạo ra cửa hàng trực tuyến ngay trên trang web của mình để bán các bản thu âm, cho phép người nghe tải xuống. Để mở rộng hơn nữa việc phân phối này, Dàn nhạc đã hợp tác với Independent Online Distribution Alliance (Liên minh phân phối trực tuyến độc lập), đưa các bản thu âm trực tiếp của mình lên các dịch vụ âm nhạc kỹ thuật số phổ biến như iTunes và Amazon, cũng như nhiều dịch vụ khác.

Kể từ khi Eschenbach rời đi, Philadelphia Orchestra không có giám đốc âm nhạc trong bốn mùa diễn sau đó. Tuy nhiên, từ tháng 2/2007, Charles Dutoit đã được bổ nhiệm làm nhạc trưởng chính và cố vấn âm nhạc trong bốn năm. Trước đó, Dutoit làm giám đốc âm nhạc mùa hè cho Philadelphia Orchestra từ năm 1990-1999 tại Highmark Mann và là giám đốc nghệ thuật và nhạc trưởng chính trong lễ hội mùa hè của dàn nhạc tại Saratoga Springs. Động thái này được thực hiện để tạo ra một “cầu nối nghệ thuật” trong khi dàn nhạc tìm kiếm giám đốc âm nhạc thứ tám của mình. Một quy trình mới được khởi động, và các nhạc công có tiếng nói lớn hơn trong việc quyết định ai sẽ trở thành giám đốc âm nhạc của họ. Ngày 16/4/2011 là một trong những thời điểm đen tối nhất của dàn nhạc. Họ đã phải nộp đơn xin bảo hộ phá sản theo điều Chương 11 của Bộ luật Phá sản Mĩ lên toà án và trở thành dàn nhạc lớn đầu tiên tại Mĩ thực hiện điều này. Đây là một hành động nhằm tổ chức lại dàn nhạc, vẫn tiếp tục biểu diễn trong điều kiện chưa thể thanh toán các khoản nợ và đặt dưới sự kiểm soát của toà án. Khoản thâm hụt của Philadelphia Orchestra lên đến 14,5 triệu USD do doanh thu bán vé giảm, tiền quyên góp giảm, thu nhập từ quỹ tài trợ bị hao hụt, nghĩa vụ lương hưu, các thỏa thuận hợp đồng và chi phí hoạt động tăng cao. Mọi vấn đề cuối cùng đã được giải quyết và ngày 30/7/2012, Philadelphia Orchestra chính thức thoát khỏi sự bảo hộ phá sản.

Yannick Nézet-Séguin, người có lần đầu cộng tác cùng dàn nhạc vào tháng 12/2008 đã trở thành giám đốc âm nhạc thứ tám của dàn nhạc vào năm 2012. Dutoit trở thành nhạc trưởng danh dự. Hợp đồng ban đầu của Nézet-Séguin với Philadelphia Orchestra ban đầu kéo dài năm năm nhưng sau đó liên tục được gia hạn, hiện tại có hiệu lực đến hết mùa diễn 2029-2030 và chức danh của ông cũng được thay đổi thành giám đốc âm nhạc và nghệ thuật. Nézet-Séguin đã góp phần hồi sinh Philadelphia Orchestra bao gồm cả việc thu âm các tác phẩm của những nhà soạn nhạc thường bị bỏ qua. Điển hình là các bản giao hưởng số 1 và 3 của Florence Price. Các nhà phê bình ca ngợi Nézet-Séguin, cho rằng Philadelphia Orchestra đã dưới sự lãnh đạo của ông đã bắt đầu tìm lại được ánh hào quang trước kia của mình.

Với rất nhiều màn trình diễn mang tính biểu tượng và những thành tựu “đầu tiên” đáng chú ý, Philadelphia Orchestra hoàn toàn có thể tự hào với những thành tựu đã đạt được. Tuy nhiên, dàn nhạc vẫn tiếp tục khẳng định tầm quan trọng và sức sống của mình trong thế giới âm nhạc cổ điển. Dưới sự dẫn dắt của Nézet-Séguin, bên cạnh các tác phẩm kinh điển, Philadelphia Orchestra luôn ủng hộ các sáng tác đương đại, phản ánh thế giới ngày nay, và tiếp tục góp phần định hình thế giới âm nhạc cổ điển đa dạng, nhiều màu sắc và mang tầm thời đại.

Cobeo