Siepi sở hữu một giọng hát đầy đặn, vang, đồng nhất với âm sắc êm dịu. Vóc dáng đẹp trai và quý tộc trên sân khấu cho phép ông hoá thân vào những vai diễn hoàng gia và linh mục một cách tuyệt vời” – Rodolfo Celletti

Trong thập niên 50, 60 của thế kỷ 20, Cesare Siepi là giọng bass được chào đón nhất tại các nhà hát danh tiếng trên khắp thế giới và nổi tiếng nhất với vai Don Giovanni trong vở opera cùng tên của Wolfgang Amadeus Mozart. Giọng của ông đặc trưng với màu âm đẹp tuyệt vời, âm sắc ấm áp, đầy đặn, vang rền, âm vực rộng, đầy sức sống. Siepi có thể tạo ra những nốt nhạc êm dịu, linh hoạt, mượt mà như nhung, điểm đặc biệt khiến ông trở thành một Don Giovanni vĩ đại, độc nhất trên sâu khấu nhưng khi cần, ông cũng có thể trở nên rất mạnh mẽ và quyền uy, như ông đã từng thể hiện trong các vai nam trầm của Giuseppe Verdi, Gurnemanz (Parsifal, Richard Wagner) hay Boris Godunov (Boris Godunov, Modest Mussorgsky). Với một sự nghiệp trải dài trong hơn 50 năm, Siepi luôn được coi là một trong giọng bass vĩ đại nhất thời kỳ hậu chiến và là cái tên xứng đáng dể thay thế cho huyền thoại Ezio Pinza lừng lẫy.

Cesare Siepi sinh ngày 10/2/1923 (một số nguồn thông tin khác cho biết ông sinh trong khoảng 1919-1923) tại Milan. Ngay từ khi còn nhỏ cậu đã bộc lộ khả năng ca hát của mình khi 14 tuổi Siepi tham gia trong một nhóm Madrigal (chuyên hát các tác phẩm thanh nhạc thế tục thời kỳ Phục hưng và đầu Baroque, chủ yếu là âm nhạc của Claudio Monteverdi). Mặc dù có một khoảng thời gian ngắn Siepi học thanh nhạc tại Nhạc viện Milan dưới sự hướng dẫn của Cesare Chiesa nhưng hầu hết là cậu tự học. Trong thời gian này, ngoài việc ca hát, Siepi còn đảm nhận công việc của một nhân viên thu ngân tại nhà băng. Trên thực tế, Siepi chưa thực sự nghĩ đến việc trở thành ca sĩ chuyên nghiệp, mơ ước thuở nhỏ của cậu là trở thành giáo viên. Dưới sự động viên của bạn bè, Siepi đã liều lĩnh tham gia một cuộc thi hát được tổ chức ở Florence khi mới chỉ biết 2 aria và cậu đã giành giải nhất. Nhận thấy tố chất của Siepi cùng với một vẻ ngoài cao ráo, đẹp trai, một nhà tổ chức opera đã mời cậu hát trong vai Sparafucile (Rigoletto, Verdi) tại Schio, gần Venice khi cậu chỉ mới 18 tuổi vào năm 1941. Nhận được những đánh giá tích cực sau buổi ra mắt khiến Siepi nhìn nhận nghiêm túc về một tương lai gắn bó với âm nhạc. Tuy nhiên, Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai leo thang khiến công việc của cậu bị gián đoạn. Là một người phản đối chế độ phát xít, trong thời gian này, Siepi đã chạy trốn tới Thuỵ Sĩ vào năm 1943 để tránh bị gọi nhập ngũ.

Sau khi chiến tranh kết thúc, sự nghiệp biểu diễn của Siepi ngay lập tức thăng hoa. Tháng 1/1946, thành công trong vai Zaccaria (Nabucco, Verdi) tại La Fenice, Venice đã khiến Siepi được chú ý và sau đó cũng với vai diễn này, anh đã có lần đầu tiên xuất hiện tại La Scala, Milan, thành phố quê hương của Siepi trong đêm diễn mở màn đầu tiên sau chiến tranh, vừa được sửa chữa lại do bị bom đạn tàn phá. Ngay trong mùa diễn đầu tiên của mình tại La Scala, Siepi đã có được 8 vai diễn và nhanh chóng khẳng định mình là một trong những giọng nam trầm hàng đầu. Năm 1947, Siepi có chuyến lưu diễn đầu tiên của mình khi anh hát trong Enrico (Anna Bolena, Gaetano Donizetti) tại Gran Teatro del Liceu, Barcelona. Sau đó là một chuyến đi dài tới Mexico với Don Basilio (Il barbiere di Siviglia, Gioachino Rossini), Lothario (Mignon, Ambroise Thomas) và Baldassare (La favorita, Donizetti).

Ngày 10/6/1948, nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất của nhà soạn nhạc Arrigo Boito, Arturo Toscanini đã thực hiện một chương trình hoà nhạc biểu diễn các tác phẩm của Boito tại La Scala. Siepi đã hát các trích đoạn trong các vở opera Mefistofele và Nerone của nhà soạn nhạc. Ngày 28/5/1949, Siepi hát bè nam trầm trong bản Giao hưởng số 9 của Ludwig van Beethoven dưới sự chỉ huy của Wilhelm Furtwängler tại La Scala. Ngày 4/9/1950, trong chương trình lưu diễn của La Scala tại Edinburgh, Siepi đã hát trong Requiem của Verdi cùng với Renata Tebaldi, Fedora Barbieri, Giacinto Prandelli và nhạc trưởng Victor de Sabata. Cũng trong chuyến lưu diễn này, Siepi còn hát trong Requiem của Mozart dưới sự chỉ huy của Guido Cantelli.

Năm 1950 đánh dấu một sự kiện quan trọng khi Rudolf Bing trở thành tổng giám đốc của Metropolitan Opera, mở ra một trong những kỷ nguyên nổi bật nhất của nhà hát. Trong buổi biểu diễn đầu tiên đánh dấu nhiệm kỳ của Bing vào ngày 6/11/1950 và cũng là đầu tiên Siepi xuất hiện tại Metroplitan Opera, ông đã toả sáng trong vai vua Philip II (Don Carlo, Verdi) cùng với những người bạn diễn Jussi Björling, Delia Rigal, Robert Merrill và Barbieri. Trong đó với Barbieri và Rigal, đây cũng là lần ra mắt tại nhà hát này. Cecil Smith đã bình luận trên Musical America: “Siepi vẫn còn quá trẻ để có thể phát huy hết tác dụng của chất giọng trầm mượt mà, đẹp đẽ của mình. Anh ấy đã được đào tạo đáng ngưỡng mộ về nghệ thuật bel canto và là người có được những đường legato tốt nhất so với bất kỳ ai trong dàn ca sĩ. Aria “Ella giammai m’amò” đã được anh truyền tải với nhạc cảm mãnh liệt và cảm xúc bẩm sinh về ý nghĩa của từng ca từ”. Trên thực tế, Siepi không phải là lựa chọn đầu tiên cho vai diễn này. Vinh dự đó thuộc về Boris Christoff, giọng nam trầm người Bulgari hàng đầu lúc bấy giờ. Tuy nhiên, thời điểm này, quốc hội Mỹ vừa mới thông qua một đạo luật cấm cấp thị thực cho bất kỳ ai liên quan đến một đảng độc tài và Christoff bị cấm vào Mỹ và Siepi đã được mời thay thế. Trong cuốn hồi ký 5000 đêm ở nhà hát Opera xuất bản năm 1972, Bing cho biết: “Ngay cả khi được xúc tiến một cách nhanh chóng, cậu ấy đã bỏ lỡ buổi diễn tập đầu tiên. Nhưng cậu ấy đã đến và có một màn ra mắt đầy mê mẩn, không thể cưỡng lại được và một sự nghiệp tuyệt vời xứng đáng tại Metropolitan”. Metropolitan Opera đã trở thành mái nhà thân thiết của Siepi. Ông đã xuất hiện tại đây liên tục trong 24 mùa diễn sau đó, với gần 500 đêm và 17 vai. Siepi đã chiếm lĩnh nhà hát trong các vai nam trầm, chủ yếu với các vở opera của Ý, trở thành người kế tục xứng đáng cho Ezio Pinza, người đã tung hoành tại Met thời kỳ trước Chiến tranh thế giới thứ hai. Cũng tại Metropolitan Opera, Siepi đã làm quen và kết hôn với vũ công ballet Louellen Sibley của nhà hát. Họ có với nhau hai người con.

Tại liên hoan Sazlburg năm 1954, Siepi đã vào vai chính trong Don Giovanni (Mozart) dưới đũa chỉ huy của Furtwängler cùng với Elisabeth Grümmer, Lisa della Casa, Walter Berry và Erna Berger. Đây là một trong những buổi biểu diễn huyền thoại và đã được ghi hình lại. Don Giovanni của Siepi tạo ra sự đa dạng về biểu cảm, toát lên vẻ quyến rũ hầu như không thể che đậy được đồng thời cũng toả ra sự nguy hiểm và tính vị kỷ nhưng cũng không thiếu phần hóm hỉnh. Don Giovanni nhiều thập kỷ sau đó đã được đóng đinh với tên tuổi của ông. Đây là vai diễn được ông hát nhiều nhất tại Metropolitan Opera với hơn 100 đêm và là người hát vai diễn này nhiều thứ hai tại Vienna State Opera trong kỷ nguyên hiện đại với 43 đêm, chỉ sau Eberhard Wächter. Siepi đã khẳng định mình là một trong những ngôi sao toả sáng nhất. Mặc dù có mối quan hệ thân thiết với Metropolitan Opera, Siepi vẫn thường xuyên biểu diễn với các nhà hát khác ở Mỹ và châu Âu. Ngoài quê nhà Milan, Siepi cũng có sự cộng tác chặt chẽ với Covent Garden và Vienna State Opera. Thập niên 50 đánh dấu thời kỳ đỉnh cao của Siepi. Năm 1955, ông thu âm 2 trong số những vai diễn đỉnh cao của mình với Decca: Figaro (Le nozze di Figaro, Mozart) với Erich Kleiber và Don Giovanni với Josef Krips, tất cả đều cùng Vienna Philharmonic. Siepi cũng là khách mời quen thuộc của liên hoan Salzburg. Năm 1956, ông hát trong Don Giovanni cùng Dimitri Mitropoulos và năm 1958 với Herbert von Karajan trong Philip II (Don Carlo). Những vai diễn khác đáng chú ý của Siepi có thể kể đến Don Basilio, Colline (La Bohème, Giacomo Puccini), Padre Guardiano (La forza del destino, Verdi), Ramphis (Aida, Verdi) và Méphistophélès (Faust, Charles Gounod). Ông cũng có màn hoá thân đáng chú ý vào vai Boris Godunov tại Metropolitan Opera vào tháng 3/1953 (hát bằng tiếng Anh).

Giọng hát của Siepi, theo như cách phân loại của người Ý thuộc loại giọng basso cantante, có nghĩa là “giọng nam trầm hát”, có âm vực cao hơn các giọng bass thông thường, có lẽ rất gần với bass-baritone mà chúng ta quen thuộc hơn. Martin Bernheimer, nhà phê bình âm nhạc của The Times đã miêu tả về ông: “Tôi nghĩ ông ấy là một trong những giọng bass vĩ đại nhất trong thời đại của mình, nếu như không muốn nói là vĩ đại nhất. Ông ấy không bao giờ bằng lòng với việc chỉ hát không, ông ấy đã tạo ra nhân vật. Siepi hát một cách dễ dàng và trang nhã, với một loại giọng gần như đã tuyệt chủng. ông ấy là một basso đích thực. Âm sắc tối, mượt mà, phong phú, đồng đều, êm dịu. Các sản phẩm có chất lượng ổn định. Khả năng dường như vô hạn”. Còn giọng mezzo-soprano Giulietta Simionato, bạn diễn thân thiết của ông trên sân khấu đã nói về Siepi trong cuốn sách The Last Prima Donnas của Lanfranco Rasponi: “Vua của những giọng bass, một vị lãnh chúa vĩ đại trên sâu khấu”. Tuy nhiên, với một số nhà phê bình âm nhạc khó tính, họ chỉ trích rằng sự nghiệp biểu diễn của Siepi, dù rất nổi bật nhưng vẫn thiếu sự táo bạo. Peter G. Davis đã thể hiện quan điểm của mình trong mục viết về Siepi trên New Grove Dictionary of Opera phiên bản năm 1992: “Luôn có thể được tin tưởng vào những màn trình diễn thông minh, chuyên nghiệp nhất quán, hơn là những diễn giải về việc nắm giữ cá tính nghệ thuật”. Siepi có một danh mục biểu diễn khá rộng, trải dài từ các vai giọng bass-baritone cho tới bass profondo. Ông cũng hát trong rất nhiều ca khúc của Francesco Paolo Tosti hay thậm chí cả những bài hát của Cole Porter. Dù không thường xuyên nhưng Siepi cũng từng thực hiện một số buổi recital, ông hát các lieder của Franz Schubert, Robert Schumann và Johannes Brahms.

Cũng giống như người tiền bối Pinza, Siepi từng xuất hiện trên sân khấu musical Broadway khi vào năm 1962 ông tham gia vở diễn Bravo Giovanni. Nhà phê bình Howard Taubman, viết trên The New York Times, ca ngợi ông Siepi vì đã mang “nhạc cụ thanh nhạc giàu màu sắc và được sùng bái nhất đến Broadway kể từ Pinza”. Điều này được ông lặp lại vào năm 1979 với vở Carmelina. Ngày 27/31964, Siepi hát trong Requiem của Mozart trong đêm diễn tưởng nhớ sự qua đời của Verdi tại Metropolitan Opera cùng Leontyne Price, Rosaline Elias và Carlo Bergonzi dưới sự chỉ huy của Georg Solti. Ngày 14/11/1070, ông có màn xuất hiện đáng ngạc nhiên trong vai Gurnemanz (Parsifal) tại Metropolitan Opera cùng Helge Brilioth, Christa Ludwig và Thomas Stewart. Đây là một trong hai vai diễn hiếm hoi Siepi hát trong opera của Wagner, vai diễn còn lại là Pogner (Die Meistersinger von Nürnberg). Sự xuất hiện trong Gurnemanz khác lạ này cũng mang đến cho Siepi những lời tán dương. Herbert Weinstock đã viết trên Opera (UK), số ra tháng 1/1971: “Với vai Gurnemanz, Siepi là một sự phát hiện và bằng cách nào đó đã tránh khỏi sự buồn chán không thể tách rời về sự dài dòng của nhân vật; ông thực sự hát vai diễn hơn là gầm gừ và diễn xuất với cảm xúc thuyết phục. Siepi đã hát rõ những lời của Wagner, như thể được sinh ra từ đó. Quả thực rất khác biệt so với Don Giovanni nổi tiếng, giờ đây ông ấy đã có một sự nghiệp hoàn toàn khác với tư cách một giọng bass Đức”.

Trong thập niên 70, Siepi giảm dần các buổi biểu diễn tại Mỹ, tập trung sự nghiệp tại châu Âu. Lần cuối cùng xuất hiện của ông tại Metropolitan Opera diễn ra vào ngày 19/4/1973 trong Don Basilio (Il barbiere di Siviglia) bên cạnh Hermann Prey, Marilyn Horne, Enrico di Giuseppe và Fernando Corena dưới sự chỉ huy của James Levine. Sự nghiệp biểu diễn của ông kéo dài một cách đáng kinh ngạc khi khởi điểm Siepi hát cùng với Toscanini, Furtwängler và sau này là với những nhạc trưởng sau họ hai, thậm chí ba thế hệ như Levine hay Riccardo Muti. Bản thu âm cuối cùng của Siepi được thực hiện vào năm 1976 khi ông hát vai Archibaldo trong vở opera L’amore dei tre re của Italo Montemezzi cùng Anna Moffo, Plácido Domingo và nhạc trưởng Nello Santi chỉ huy London Symphony Orchestra cho RCA Victor. Trong giai đoạn này, Siepi tiếp tục thăng hoa tại châu Âu trong những vai diễn mới như Mosè (Mosè in Egitto, Rossini), Dosifey (Khovanshchina, Mussorgsky), Seneca (L’incoronazione di Poppea, Monteverdi) hay Marin Faliero (Marin Faliero, Donizetti). Lần cuối Siepi hát tại La Scala diễn ra vào ngày 12/1/1979 khi ông vào vai Fiesco (Simon Boccanegra, Verdi) cùng Piero Cappuccilli, Kiri Te Kanawa và nhạc trưởng Claudio Abbado.

Cuối thập niên 80, Siepi giảm dần các buổi biểu diễn của mình. Ngày 21/4/1989, ông tổ chức một buổi hoà nhạc ở Teatro Carani, Sassuolo như một đêm diễn chia tay khán giả. Tuy nhiên, sau đó Siepi vẫn thỉnh thoảng tham gia một số chương trình. Buổi biểu diễn thực sự cuối cùng của ông diễn ra tại Austria Center, Vienna vào năm 1994 với vai Oroveso trong chương trình hoà nhạc vở opera Norma (Vincenzo Bellini) khi ông 71 tuổi.

Không giống như các đồng nghiệp của mình vào thời điểm đó, Siepi rất ngại xuất hiện trên TV và trả lời phỏng vấn. Ông qua đời ở tuổi 87 vào ngày 5/7/2010 vì suy hô hấp sau một cơn đột quỵ xảy ra mấy ngày trước đó ở Atlanta, nơi ông và gia đình đã lựa chọn định cư từ khoảng 25 năm trước đó. Là một trong những giọng bass vĩ đại nhất của thế kỷ 20, giọng hát của Siepi tương đối khác biệt so với những giọng bass của trường phái Nga thường có chất giọng bass profondo sâu thẳm, giọng hát của Siepi linh hoạt, thanh thoát và mềm mại hơn. Người hâm mộ opera vẫn luôn nhớ về ông không chỉ về một tượng đài Don Giovanni bất diệt mà còn với nhiều vai diễn để đời khác. Siepi đã có những đóng góp phi thường cho thế giới opera và là một con người đáng kính trọng.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
latimes.com
nytimes.com
theguardian.com