“Cần phải có một cá tính mạnh mẽ để biểu diễn trumpet. Bạn giống như một đấu sĩ bò tót trong đấu trường. Tôi thấy những người chơi flute và oboe bước lên sân khấu một cách thận trọng. Nếu bạn làm như vậy với kèn trumpet, bạn sẽ thất bại. Bạn phải tiếp tục như một người chiến thắng.” – Maurice André
Có cuộc sống và có số phận. Sự nghiệp của Maurice André thuộc về vế thứ hai. Cha ông đã tặng con trai mình chiếc kèn trumpet, mỏ than đã mang đến cho ông sức mạnh và các giá trị đạo đức, Léon Barthélémy đã nhìn thấy ở chàng thợ mỏ trẻ tài năng của một thần đồng, Raymond Sabarich đã dạy ông, người vợ thân yêu Liliane đã ở bên và ủng hộ người chồng trong suốt sự nghiệp và Chúa đã ban cho ông một món quà âm nhạc tuyệt vời. Đó chính là những gì đã gắn bó André với trumpet để đưa cây kèn này từ vai trò một thành viên trong dàn nhạc giao hưởng trở thành một nhạc cụ độc tấu quyến rũ phi thường, toả sáng rực rỡ trên sân khấu. Là một nghệ sĩ tiên phong, André trở thành ngọn hải đăng và là niềm tự hào cho những nhạc công trumpet nói riêng và bộ hơi nói chung trong việc giành vinh quang về cho những nhạc cụ này, tưởng chừng như lép vế hơn nhiều so với violin hay cello.
Maurice sinh ra tại Cévennes, Alès, miền nam nước Pháp vào ngày 21/5/1933 trong một gia đình thợ mỏ. Cha cậu, ông Marcel-Jean André rất say mê âm nhạc và là nghệ sĩ trumpet nghiệp dư. Ông tham gia một ban nhạc ở địa phương và truyền tình yêu âm nhạc cho hai cậu con trai mình Maurice và Raymond (người sau này cũng trở thành nghệ sĩ trumpet và từng thu âm cùng anh trai mình trong Concerto cho 2 trumpet của Antonio Vivaldi) và trở thành thầy giáo đầu tiên của họ, dạy họ xướng âm cũng như khiến họ hiểu được rằng đâu là những giá trị thực sự của cuộc sống. Maurice nhớ rằng, trong ngôi nhà thời thơ ấu của mình, chỉ có những chiếc ghế dài quanh lò sưởi và ông Marcel-Jean đã nói: “Khi chúng ta có thể mua được một chiếc ghế bành, đó sẽ là khởi đầu của chủ nghĩa vị kỷ”. Khi Maurice 12 tuổi, ông Marcel-Jean đã tặng cho cậu con trai lớn của mình cây kèn cornet (một nhạc cụ khá tương đồng với trumpet) Couesnon, trên thực tế đó chính là món quà của người khác tặng lại cho ông vì gia đình không có khả năng mua một nhạc cụ đắt tiền như vậy. Rất vui mừng, Maurice lao vào tập luyện. 14 tuổi, cậu trở thành đồng nghiệp của cha mình, đều đặn xuống mỏ làm việc, hàng ngày vận chuyển hàng tấn than và từng có lần gặp phải tai nạn nguy hiểm đến tính mạng. André cho biết chính những năm tháng vất vả này đã khiến ông có được sức mạnh để dễ dàng làm chủ cây kèn trumpet: “Tôi đã tự rèn luyện bản thân khi làm việc trong mỏ lúc 14 tuổi, khi tôi phải di chuyển 17 tấn than mỗi ngày”. Ông gọi những mỏ than là “Một ngôi trường của sự tương trợ và trung thực, hoàn toàn trái ngược với thế giới âm nhạc và truyền thông”.
Năng khiếu của Maurice đã thu hút được sự chú ý của Léon Barthélémy, một nhân viên kế toán trong vùng và từng là học trò của Merri Franquin, nghệ sĩ trumpet nổi tiếng người Pháp, giáo sư tại nhạc viện Paris. Barthélémy đã nhận Maurice làm học trò trong suốt 4 năm sau đó. Bài học quý giá nhất mà Barthélémy dành cho Maurice là lao động chăm chỉ. Ông bảo cậu học trò của mình: “Kèn trumpet là một nhạc cụ có tính không hấp dẫn mà người ta phải sử dụng một cách nhẹ nhàng”, điều khiến André trăn trở rất nhiều trong suốt những năm về sau. Khi Maurice 17 tuổi, Barthélémy thúc giục ông Marcel-Jean gửi Maurice tới Paris để theo học một cách chính quy. Tuy nhiên, vấn đề tài chính trở thành rào cản lớn nhất. Để giải quyết bài toán này, Maurice đã tòng quân, trở thành người lính trong Trung đoàn thông tin số 8, nơi mà người chỉ huy, đại tá Hubert Delestrée vô cùng say mê âm nhạc và luôn tạo điều kiện cho cấp dưới của mình theo đuổi bộ môn nghệ thuật này. Maurice đã được cho đi học tại Nhạc viện Paris, nơi anh trở thành học trò của giáo sư Raimond Sabarich, người cũng là nghệ sĩ trumpet tại Nhà hát Quốc gia Opéra-Comique. Thời gian đầu, Maurice không hề chăm chỉ khiến Sabarich giận dữ. Vốn là một người nghiêm khắc: “Có rất nhiều công nhân nhưng rất ít nghệ sĩ”, ông yêu cầu cậu học trò của mình chỉ được quay lại học khi mọi thứ trở nên tốt hơn. Vài tuần sau, Maurice đến và chơi hoàn hảo toàn bộ 14 bản etude trong giáo trình của Jean-Baptiste Arban. Sabarich cho biết: “Đó chính là thời điểm Maurice André trở thành Maurice André”. Trong liên tiếp hai năm 1952 và 1953, Maurice giành chiến thắng tại các cuộc thi dành cho cornet và trumpet. Và khi chưa đầy 20 tuổi, chàng trai trẻ đã có được bản thu âm đầu tiên của mình, với hãng Erato cùng nhạc trưởng Jean-François Paillard (người gắn bó với André nhất về mặt âm nhạc) trong các tác phẩm của những nhà soạn nhạc Ý. Anh cũng được mời tham gia với tư cách thành viên trong các dàn nhạc Orchestre Lamoureux Orchestre và Philharmonique de Radio France, nơi anh bị đuổi việc vì đòi thêm tiền công khi biểu diễn đoạn độc tấu trong bản Giao hưởng số 2 của Henri Dutilleux. Để kiếm thêm thu nhập. Maurice còn thường xuyên biểu diễn trong một số rạp xiếc tại Paris. Tháng 3/1956, anh kết hôn với Liliane, người đã trung thành ủng hộ anh với tư cách là quản lý và bạn đồng hành trong các chuyến lưu diễn của chồng mình, đặc biệt trong những năm đầu khi sự nghiệp của anh chậm cất cánh.
Tài năng của André bắt đầu vươn xa khỏi địa phận nước Pháp khi anh giành chiến thắng tại Cuộc thi âm nhạc quốc tế ARD lớn nhất nước Đức vào năm 1963. Trên thực tế, ban đầu anh được mời làm giám khảo nhưng André quyết định tham gia với tư cách thí sinh (anh vừa đạt tới giới hạn 30 tuổi) vì có cơ hội giành được mức tiền thưởng cao hơn. Kể từ năm 1963, André được nhiều nhạc trưởng lừng danh như Karl Richter, Karl Böhm, Leonard Bernstein hay Herbert von Karajan mời làm nghệ sĩ độc tấu, đặc biệt trong các tác phẩm âm nhạc thời kỳ Baroque. Trong đó nổi bật nhất phải kể đến bản Concerto Brandenburg số 2 của Johann Sebastian Bach. Với các chương nhanh, âm sắc của ông lấp lánh, rực rỡ và điêu luyện; còn trong các chuyển động chậm, nó mềm mại và quyến rũ. Anh có khả năng thần kỳ khiến trumpet hát lên những giai điệu mượt mà như ca sĩ. André cũng có khoảng thời gian là thành viên của dàn nhạc Nhà hát Quốc gia Opéra-Comique, thay thế chính Sabarich, thầy giáo mình. Và đến năm 1967, André quyết định trở thành nghệ sĩ độc tấu toàn thời gian, một quyết định được bạn bè ủng hộ. Marcel Lagorce, bè trưởng bè trumpet của Société des concerts du Conservatoire đã động viên: “Nếu ai đó có thể biến kèn trumpet thành một nhạc cụ độc tấu, thì đó chính là cậu”.
André ủng hộ âm nhạc Baroque. Tuy nhiên, danh mục tác phẩm dành cho trumpet thực sự rất ít. Để bù đắp, André đã phải tự mình lao động: “Tôi đã phải làm rất nhiều thứ để trả lại sự cao quý cho kèn trumpet. Kho tàng ban đầu không đủ lớn. Tôi đã mở rộng nó bằng cách chuyển soạn nhạc từ các nhạc cụ khác – flute, oboe, violin – để làm phong phú thêm”. André cũng đặt hàng một số nhà soạn nhạc cùng thời như André Jolivet, Henri Tomasi và Jean Langlais để họ sáng tác cho mình. Mặc dù vậy, ông không phải là người sùng bái âm nhạc đương đại, cho rằng chúng khiến mình nhớ đến những mỏ than. André tỏ ra đặc biệt yêu thích cây kèn trumpet piccolo. Tiền bối của André, Adolf Scherbaum là người giới thiệu nhạc cụ 4 van được cải tiến này nhưng chính André mới là nhân vật khiến nó trở nên phổ biến khắp toàn cầu. Chiếc kèn trumpet piccolo trở nên nhỏ bé trong đôi bàn tay mũm mĩm của ông và từ đó “André có thể truyền tải âm nhạc dưới dạng một món tráng miệng lấp lánh do một thợ làm bánh bậc thầy chế biến” như nhà phê bình của Times, Bernard Holland từng ca ngợi. André sở hữu một nền tảng kỹ thuật vững chắc, khả năng kiểm soát hơi thở tuyệt vời và sức bền dường như vô tận. Như ông từng khoe: “Hãy nhìn vào lá phổi này, cảm nhận những cơ lưng và vai này, đó chính là những gì cần có để chơi kèn trumpet baroque”, André có thể dễ dàng để tiếng kèn của mình bay bổng lên trên tất cả, cho dù đó là cả một dàn nhạc giao hưởng hay âm thanh của một chiếc đàn organ đang rền vang. Ông cho biết: “Trumpet là một nhạc cụ khó chơi. Nó gây ra những phản ứng trái chiều, dù vẫn giữ được mục đích sử dụng mang tính chiến tranh, chiến thắng và diễu hành. Từ nguồn gốc Kinh thánh nó là hình ảnh của Ngày tận thế. Nhưng trumpet cũng biết cách khiến các cô gái nhảy múa tại các buổi khiêu vũ”. Về phong cách biểu diễn của André, Gerard Schwarz, người từng là nghệ sĩ trumpet chính của New York Philharmonic cho biết: “Anh ấy chắc chắn không phải là người theo chủ nghĩa thuần túy (Người kiên quyết tuân thủ tuyệt đối các quy tắc). Nếu Maurice cảm thấy sẽ thú vị hơn khi đưa những nốt cuối cùng của bất kỳ bản concerto nào lên một quãng tám, anh ấy sẽ làm như vậy. Maurice thực sự quan tâm sâu sắc đến khán giả và anh ấy thực sự muốn họ tận hưởng bản thân mình.”
Sau khi Sabarich qua đời vào năm 1966, từ năm 1967, André kế nhiệm thầy giáo của mình để trở thành giáo sư tại Nhạc viện Paris, trở thành nguồn cảm hứng to lớn tới nhiều thế hệ học sinh trumpet. Trong thập niên 70, ông tiếp tục bận rộn khi cuốn vào vòng quay biểu diễn, thu âm, giảng dạy và cải tiến nhạc cụ. Thỉnh thoảng, André cũng chơi nhạc jazz. Ông thường xuyên có xấp xỉ 200 chương trình hoà nhạc trong vòng một năm, một lịch trình cho thấy sự hấp dẫn mà André có thể mang tới cho khán giả. André cũng có tới hơn 300 bản thu âm, chủ yếu với Erato. Ngoài ra ông cũng cộng tác với EMI Classics và Deutsche Grammophon. Danh tiếng của André không hề thua kém bất kì nghệ sĩ piano hay violin lỗi lạc nào. Dù rất nổi tiếng nhưng André vẫn luôn giản dị, khiêm tốn và không bao giờ quên nguồn gốc của mình, điều mà ông thường xuyên nhắc tới trong các cuộc phỏng vấn. Ông có ba người con, hai người trở thành nghệ sĩ trumpet giống cha mình và một người chơi oboe. Họ cũng đã nhiều lần biểu diễn cùng nhau. André còn có một người chú ruột, Jean André, em trai của ông Marcel-Jean, cũng là một nghệ sĩ trumpet. Có lẽ chưa một gia đình nào lại gắn bó với nhạc cụ này như dòng họ André. Để vinh danh người nghệ sĩ vĩ đại, bắt đầu từ năm 1979, Paris tổ chức cuộc thi trumpet quốc tế mang tên Maurice André dành cho những nghệ sĩ trumpet trẻ.
André ngừng công việc giảng dạy tại Nhạc viện Paris vào năm 1978 nhưng vẫn tiếp tục sống tại Paris và duy trì một lịch hoà nhạc dày đặc. Vào ngày 9/10/2008, tại Nhà thờ chính tòa Saint Nazaire và Saint Celse thuộc tỉnh Hérault, Pháp, ở tuổi 75, André đã biểu diễn lần cuối cùng, giã từ sự nghiệp lẫy lừng kéo dài 55 năm của mình. Ông chuyển về nghỉ ngơi tại Basque thuộc tây nam nước Pháp, sống tại ngôi nhà gỗ trên đỉnh một ngọn đồi, tập trung vào những niềm đam mê khác là khắc gỗ và vẽ tranh nhưng vẫn duy trình tập luyện thổi kèn đến 4, 5 giờ mỗi ngày. André chỉ thỉnh thoảng tham gia một số hội thảo và giảng dạy các lớp master class. Ông qua đời vào ngày 25/2/2012 ở tuổi 78 tại bệnh viện ở Bayonne, Pháp. Nguyên nhân cái chết không được gia đình tiết lộ. André được chôn cất tại nghĩa trang của làng Saint-André-Capcèze, Lozère, Pháp. Rất nhiều nghệ sĩ trumpet, dù không phải học trò của ông đã đến viếng người nghệ sĩ vĩ đại. Tổng thống Pháp bày tỏ lòng tiếc thương với sự ra đi của ông: “để lại một khoảng trống to lớn trong hàng triệu ngôi nhà ở Pháp, nơi mà nhờ tài năng và sự giản dị đáng kinh ngạc của mình, ông đã giới thiệu, đôi khi là lần đầu tiên, nhạc cổ điển”. Tổng quát lại vai trò và vị thế của André, Schwarz tóm tắt: “Anh ấy đã biến mọi thứ thành hiện thực – giống như cách Jean-Pierre Rampal đã thực hiện với những nghệ sĩ flute. Anh ấy đã mở đường cho những người khác noi theo… Những người chơi kèn trumpet trong dàn nhạc, đó là những gì chúng tôi làm. Maurice là người duy nhất có sự nghiệp lớn thực sự với tư cách một nghệ sĩ độc tấu và sở hữu lượng khán giả đông đảo trên toàn thế giới”.
Là một người ngưỡng mộ André, Karajan từng thốt lên: “Ông ấy chắc chắn là nghệ sĩ kèn trumpet giỏi nhất, nhưng ông ấy không đến từ thế giới của chúng ta”. Ở một khía cạnh nào đó, đối với một số người, André đã trở thành vị thần của cây kèn trumpet. Nhưng đó là một vị thần rất con người, gần gũi với tất cả. Từ một người thợ mỏ bình dị, bằng tài năng, sự nỗ lực và quyết tâm của mình, André đã đưa trumpet trở thành một nhạc cụ được yêu thích, nâng tầm nó lên, đặt ra những chuẩn mực mới và tạo ra niềm vui trên khắp thế giới.
Cobeo tổng hợp





