CHƯƠNG XVI – NĂM NGƯỜI CỘNG SỰ

 

Theo thói quen, tôi chẳng đợi số phận Manon được định đoạt rồi mới tới quấy quả nhà xuất bản Hartmann của mình, đánh thức anh dậy để anh tìm cho tôi một đề tài mới. Tôi vừa nói xong những lời ta thán mà anh im lặng lắng nghe, anh đã tươi cười đến bên bàn làm việc và lấy ra năm tập bản thảo được viết trên loại giấy màu vàng, gọi là giấy pơ-luya, rất nổi tiếng trong giới sao chép. Đó là Le Cid, kịch bản opéra năm màn của Louis Gallet và Édouard Blatt. Vừa trao bản thảo này cho tôi, Hartmann vừa đưa ra lời nhận xét mà tôi chẳng thể bác bỏ: “Tôi hiểu anh mà, tôi đã dự liệu trước cơn hứng khởi!”…

Thật vui sướng khi được viết một tác phẩm dựa trên kiệt tác của Corneille vĩ đại và khi các tác giả libretto lại từng là cộng sự của mình trong cuộc thi của Nhà hát Opéra Hoàng gia với vở Chiếc cốc của Vua Thulé mà như tôi đã kể là tôi trượt giải nhất.

Vậy là tôi học thuộc lòng libretto như mọi khi. Tôi muốn nó không ngừng hiện diện trong suy nghĩ của mình mà không buộc phải giữ văn bản trong túi và do vậy có thể làm việc với nó khi không ở nhà, trên đường phố, lúc giao du, trong bữa tối, tại nhà hát, tóm lại là ở bất cứ nơi nào mà tôi có những lúc rảnh rỗi. Tôi rất khó dứt khỏi công việc, nhất là khi tôi cảm thấy bị nó thu hút như trong trường hợp này.

Khi đang trong quá trình sáng tác tôi bỗng nhớ ra là Ennery đã giao cho tôi một libretto quan trọng trước đó không lâu và tôi đã tìm thấy ở màn thứ năm một tình tiết rất cảm động. Dẫu thấy phần ca từ có vẻ vẫn chưa đủ giá trị để mình quyết định phổ nhạc nhưng tôi rất muốn giữ lại tình tiết này. Tôi đã nói chuyện với nhà viết kịch nổi tiếng và được ông đồng ý giao cho tôi cảnh này để đưa vào màn thứ hai của Le Cid. Do đó Ennery đã tham gia cộng tác cùng chúng tôi. Cảnh này là cảnh Chimène phát hiện ra Rodrigue chính là kẻ sát hại cha mình.

Vài ngày sau, khi đọc thiên tình sử của Guilhem de Castro, tôi bắt gặp một đoạn sẽ trở thành cảnh vị thánh hiện ra an ủi Cid đang sướt mướt ở cảnh thứ hai của màn ba. Tôi được truyền cảm hứng trực tiếp từ sự hiện hình của Chúa Jésus trước Thánh Julien Hiệp sĩ Cứu tế.

Tôi tiếp tục soạn Le Cid bất kể đang ở đâu, vì các buổi diễn Manon giữ tôi ở các nhà hát hàng tỉnh, nơi chúng xen kẽ với các buổi diễn Hérodiade cả ở Pháp và nước ngoài.

Chính ở Marseille, tại Khách sạn Beauvau, trong một thời gian lưu trú khá dài, tôi đã viết màn ballet trong Le Cid.

Tôi thật thoải mái khi được bố trí ở trong căn phòng có các cửa sổ và lan can lớn trông ra bến cảng cũ! Ở đó tôi dã thích thú ngắm nhìn một quang cảnh thực sự thần tiên. Căn phòng này được trang trí bằng những mảng thiết trần và phủ tường đáng chú ý. Khi tôi bày tỏ sự ngạc nhiên với chủ nhân khách sạn vì thấy chúng được bảo quản tốt đến vậy, ông bảo với tôi rằng căn phòng này là đối tượng được chăm sóc đặc biệt bởi nó gợi nhắc việc Paganini, rồi Alfred de Musset và George Sand đã từng ở trong đó. Sự trân trọng kỉ niệm đôi khi có thể đi xa đến mức tôn sùng!

Khi ấy đang là mùa xuân. Phòng tôi tràn ngập hương hoa từ những bó cẩm chướng được bạn bè từ Marseille gửi đến hàng ngày. Nếu từ “bạn bè” tôi dùng là chưa đủ thì có lẽ phải dùng đến toán học để tìm căn bậc hai và hơn thế nữa chăng?

Bạn bè ở Marseille đã dành cho tôi sự quan tâm, chăm chút và ân cần vô tận. Ôi, đây chẳng phải là xứ sở trong một vở opéra êm đềm và tuyệt diệu nơi người ta làm ngọt cà phê bằng cách để nó ở ngoài trời, trên ban công vì biển được làm bằng mật ong ư?…

Trước khi rời thành phố Marseille hiếu khách, tôi nhận được lá thư này từ các giám đốc Ritt và Gailhard của Nhà hát Opéra:

“Bạn thân mến,
“Anh có muốn hẹn ngày giờ đọc Le Cid của anh không?
“Bạn của anh.
“E. Ritt.”

Tôi đã không rời Paris mà không mang theo nỗi lo lắng sâu sắc về việc phân vai. Tôi muốn vai Chimène do bà Fidès Devriès tuyệt vời thể hiện, nhưng người ta nói rằng kể từ khi kết hôn, bà không còn muốn xuất hiện trên sân khấu nữa. Tôi cũng nhờ cậy các bạn tôi, Jean và Édouard de Reszké, những người đã đặc biệt đến Paris để bàn bạc về Le Cid. Họ biết chủ ý của tôi dành cho họ. Đã bao lần tôi leo lên cầu thang Khách sạn Scribe, nơi họ ở!…

Cuối cùng các hợp đồng đã được ký kết, và rốt cuộc buổi đọc đã diễn ra như Nhà hát Opéra đề nghị.

Khi nhắc đến màn ballet trong Le Cid, tôi nhớ rằng Tây Ban Nha chính là nơi tôi đã nghe thấy mô-típ sẽ trở thành phần mở đầu màn ballet này.

Vậy là tôi đã ở chính quê hương xứ sở của Le Cid khi sống trong một quán trọ khá khiêm tốn. Tình cờ thay một tiệc cưới đang được tổ chức tại đó và người ta khiêu vũ suốt đêm trong căn phòng phía dưới. Vài cây guitar và hai cây flûte cứ chơi đi chơi lại một vũ điệu đến thỏa thích. Tôi đã chú ý đến nó. Nó trở thành mô-típ tôi vừa nhắc tới, một chút màu sắc địa phương cần nắm bắt. Tôi đã không để vuột mất.

Tôi dự định dành màn ballet này cho cô Rosita Mauri, người đã biểu diễn các đêm ballet tuyệt vời ở Nhà hát Opéra. Tôi thậm chí còn chịu ơn vũ nữ ballet nổi tiếng về một số tiết tấu vũ khúc rất thú vị.

…

Sự đồng cảm sống động và thân tình luôn là sợi dây gắn kết xứ sở của những người Magyar và nước Pháp.

Do vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi vào một ngày nọ các học trò người Hungary mời khoảng bốn chục người Pháp, trong đó có tôi, đến Hungary tham dự các liên hoan mà họ dự định tổ chức để vinh danh chúng tôi.

Vào một buổi tối tháng Tám đẹp trời, đoàn người vui vẻ chúng tôi khởi hành hướng tới bờ sông Danube. François Coppée, Léo Delibes, Georges Clairin, các bác sĩ Pozzi và Albert Robin, nhiều đồng đội và bạn bè thú vị khác cũng có mặt ở đó. Một số nhà báo cũng theo gót. Đi đầu như để dẫn dắt đoàn chúng tôi, nếu không phải về mặt tuổi tác thì cũng về mặt danh tiếng, là Ferdinand de Lesseps. Người đồng hương lừng lẫy của chúng tôi khi đó đã gần tám mươi tuổi. Ông mang gánh nặng năm tháng một cách nhanh nhẹn đến nỗi đôi khi người ta tưởng ông là một trong những người trẻ nhất đoàn.

Chúng tôi lên đường trong niềm hân hoan tràn trề. Dọc hành trình là một chuỗi những lời bông đùa không ngừng nghỉ, những bình luận hài hước thẳng thắn nhất, xen kẽ những trò đùa nhả và bông lơn bất tận.

Toa ẩm thực đã được dành riêng cho chúng tôi. Cả đêm chúng tôi không rời khỏi đó, đến nỗi toa ngủ của chúng tôi hoàn toàn trống người.

Khi đi qua Munich, Tàu tốc hành phương Đông dừng lại năm phút để thả xuống thành phố này hai hành khách, một quý ông và một quý bà, mà chúng tôi không biết đã bằng cách nào chen vào một góc toa ẩm thực và thản nhiên chứng kiến mọi trò điên rồ của chúng tôi. Lúc xuống tàu, với giọng ngoại quốc khá nặng, họ đưa ra một nhận xét chua chát: “Những con người xuất chúng này thật tầm thường!” Chẳng hề có ý định làm mếch lòng cặp đôi khắt khe đó, chúng tôi chưa bao giờ vượt quá giới hạn của sự pha trò hay vui đùa phải phép.

Hành trình dài mười lăm ngày này tiếp diễn với đầy những sự vụ nực cười có tính hài hước sánh ngang hài kịch.

Tối tối, sau những buổi đón tiếp hồ hởi và nồng nhiệt của thanh niên Hungary, vị trưởng đoàn đáng kính Ferdinand de Lesseps của chúng tôi, người được gọi là “người Pháp vĩ đại” trong mọi bài phát biểu của người Hungary, sẽ tạm biệt chúng tôi sau khi đã sắp xếp thứ tự các buổi chiêu đãi ngày hôm sau, và khi đã lên xong chương trình cho chúng tôi, ông nói thêm: “Sáng mai, lúc bốn giờ, bận áo choàng đen nhé”, và người đầu tiên thức dậy, khoác áo và lên ngựa vào ngày hôm sau sẽ là “người Pháp vĩ đại”. Khi chúng tôi khen ngợi vóc dáng trẻ trung phi thường của ông, ông sẽ chối bằng những lời sau: “Thanh xuân nào rồi cũng phải trôi qua!”

Trong số các cuộc liên hoan đủ mọi loại được tổ chức để vinh danh chúng tôi, người ta tổ chức một đại nhạc hội tại Nhà hát Hoàng gia ở Budapest. Delibes và tôi mỗi người được mời chỉ huy một màn trích từ tác phẩm của chính mình.

Khi xuất hiện trước dàn nhạc, giữa những tiếng hoan hô của cả khán phòng mà dịch sang tiếng Hungary là “Elyen!!!”, tôi thấy trên giá nhạc là tổng phổ… màn đầu của Coppélia trong khi theo dự kiến phải là tổng phổ màn ba của Hérodiade để tôi chỉ huy. Tôi mặc kệ! Không chút do dự, tôi đánh nhịp theo trí nhớ.

Tuy nhiên cuộc phiêu lưu trở nên rắc rối.

Khi Delibes, người cũng nhận được vinh dự tương tự, trông thấy trên giá nhạc là màn ba của Hérodiade lúc tôi đã quay trở lại khán phòng cùng các đồng đội, ông tạo ra một màn trình diễn có một không hai. Người bạn lớn tội nghiệp lau trán, quay người lại, thở dài, nài xin các nhạc công Hungary, những người không hiểu ông, đưa cho ông bản tổng phổ chuẩn, nhưng không có gì xảy ra! Ông buộc phải chỉ huy từ trí nhớ. Việc này có vẻ khiến ông bực tức nhưng người nhạc sĩ đáng yêu Delibes đã vượt qua khó khăn nhỏ này một cách ngoạn mục!

Sau buổi nhạc hội, tất cả chúng tôi đều tham dự đại tiệc, nơi dĩ nhiên là buộc phải nâng cốc chúc tụng. Tôi đã đề nghị nâng cốc vì nhạc sĩ siêu phàm Franz Liszt, người mà Hungary vinh dự sinh ra đời.

Khi đến lượt Delibes, tôi đề nghị rằng chúng tôi sẽ cùng lần lượt thay nhau phát biểu giống như đã cùng lần lượt chỉ huy tổng phổ của nhau tại nhà hát. Tôi nói thay ông, ông nói thay tôi. Kết quả là một loạt những câu nói không ăn nhập được chào đón bởi những tràng pháo tay cuồng nhiệt từ các đồng hương của chúng tôi và bởi những “Elyen” nồng nhiệt từ đám người Hungary.

Tôi xin nói thêm rằng Delibes, cũng như tôi và nhiều người khác, đang trong trạng thái say sưa ngây ngất bởi những vườn nho kỳ diệu của Hungary thực sự là những vườn nho của chính Chúa trời! Phải là “toke”, à nhầm, gàn dở, nếu không tận hưởng sự quyến rũ thấm thía và hương thơm rất bốc và gợi cảm của thứ rượu ấy!

Bốn giờ sáng! Theo nghi thức đã định, chúng tôi bận áo choàng đen (thật ra chúng tôi vẫn chưa cởi ra); và sẵn sàng lên đường để mang vòng hoa đặt lên mộ của bốn mươi liệt sĩ Hungary, những người đã hi sinh vì tự do của đất nước mình.

Giữa tất cả những niềm vui điên cuồng, tất cả những trò tiêu khiển và những lễ lạt cảm động này, tôi nghĩ đến các buổi diễn tập Le Cid đang đợi mình ngay khi trở về Paris.

Khi về tới nhà, tôi nhân được một món quà lưu niệm nữa từ Hungary. Đó là một bức thư của tác giả Messe Chén Thánh, tác phẩm tiền thân của Parsifal:

“Đồng nghiệp rất kính mến ơi,
“Báo Hongrie (nguyên văn) cho tôi biết anh đã thể hiện lòng tốt dành cho tôi trong bữa tiệc của người Pháp ở Budapest. Xin gửi lời cảm ơn chân thành và thân ái.
“F. Liszt.”
“26 tháng 8 năm 85. Weimar.”

…

Các buổi diễn tập Le Cid tại Nhà hát Opéra được thực hiện với sự chắc chắn và kỹ năng đáng kinh ngạc bởi anh bạn giám đốc thân mến P. Gailhard của tôi. Anh là bậc thầy về nghệ thuật này và cũng là nghệ sĩ đáng ngưỡng mộ nhất trong nhà hát. Với tình bạn biết bao trìu mến, anh đã làm mọi điều có thể vì lợi ích của tác phẩm! Tôi có một nghĩa vụ rất dễ chịu là bày tỏ lòng biết ơn anh.

Sau này tôi tìm lại được chính người cộng sự quý giá đó trong vở Ariane tại Nhà hát Opéra.

Vào tối ngày 30 tháng 11 năm 1885, Nhà hát Opéra công diễn lần đầu Le Cid, cùng buổi tối hôm đó Nhà hát Opéra-Comique diễn Manon, vở đã vượt qua buổi biểu diễn thứ tám mươi.

Dẫu đã nhận được những tin vui về buổi tổng duyệt Le Cid, tôi vẫn đến góp mặt cùng các bạn nghệ sĩ biểu diễn Manon. Chẳng cần nói cũng biết rằng ở hậu trường Nhà hát Opéra-Comique, người ta chỉ toàn trò chuyện về buổi công diễn lần đầu Le Cid đang diễn cùng thời điểm.

Dẫu bề ngoài có vẻ bình tĩnh nhưng trong thâm tâm tôi rất lo lắng; vì vậy ngay khi tấm màn sân khấu được hạ xuống sau màn năm của Manon, tôi đi về phía Nhà hát Opéra thay vì về nhà. Một sức mạnh khôn cưỡng đã đẩy tôi về hướng này.

Trong khi tôi đi dọc mặt tiền nhà hát, nơi có một đám người lịch sự và đông đúc đang đổ ra, tôi nghe thấy những lời này trong cuộc trò chuyện giữa một nhà báo nổi tiếng và một người giữ mục đang vội vã hỏi han ông về kết quả của đêm diễn: Thật đau lòng, bạn thân mến!… Rất bổi rối như bất cứ ai trong trường hợp tương tự, tôi đang chạy đi tìm các giám đốc để biết thêm thông tin thì gặp bà Krauss tại cửa dành cho nghệ sĩ. Bà ôm hôn tôi một cách phấn khích và nói: Đó là một chiến thắng!…

Tôi có cần nói rằng mình thích ý kiến của người nghệ sĩ đáng ngưỡng mộ này hơn không nhỉ? Bà đã an ủi tôi hoàn toàn.

Tôi rời Paris (khi đó tôi là một du khách năng nổ làm sao!) để đến Lyon, nơi Hérodiade và Manon đang được biểu diễn.

Ba ngày sau khi đến, và khi đang ăn tối tại một nhà hàng cùng hai người bạn lớn, Joséphin Soulary, thi sĩ tinh tế của Les Deux Cortèges, và thi sĩ Provencal sôi nổi Paul Mariéton, tôi nhận được một bức điện từ Hartmann với nội dung sau:

“Buổi diễn Le Cid thứ năm bị hoãn lại một tháng. Một lượng lớn vé đặt trước đã bị trả lại. Các nghệ sĩ bị ốm.”

Tôi bị kích động đến nỗi ngất xỉu một lúc lâu và khiến bạn bè vô cùng lo lắng.

Ôi! các con thân yêu, ai có thể tự nhủ là mình là hạnh phúc trước khi chết?

Tuy nhiên, sau ba tuần lễ, Le Cid xuất hiện trở lại trên áp phích, và một lần nữa, tôi cảm thấy được bao bọc bởi sự đồng cảm sâu sắc, điều được chứng minh, cùng với những điều khác, qua bức thư sau:

“Đồng nghiệp thân mến,
“Tôi phải chúc mừng sự thành công của anh và tôi muốn được tự mình vỗ tay tán thưởng anh càng sớm càng tốt. Vì đến thứ Sáu ngày 11 tháng 12, tôi mới đến lượt dùng lô nhà hát nên tôi xin anh cho biểu diễn Le Cid vào đúng ngày hôm đó, thứ Sáu ngày 11 tháng 12.
“Hãy tin tưởng vào tất cả tình cảm của người đồng nghiệp yêu quý của anh.
“H. d’Orléans.”

Tôi cảm động và tự hào biết bao trước sự quan tâm đặc biệt này của điện hạ Công tước xứ Aumale!

Tôi luôn nhớ những ngày thú vị tuyệt vời này ở Lâu đài Chantilly cùng các đồng nghiệp của mình tại Học viện: Léon Bonnat, Benjamin Constant, Édouard Détaille, Gérôme. Sự đón tiếp của vị chủ nhà hoàng gia mới giản dị mà ý nhị làm sao và lối trò chuyện của ông giống như của một văn sĩ lỗi lạc, uyên bác mà khiêm tốn. Thật hấp dẫn và quyến rũ biết bao khi chúng tôi tập trung tại thư viện của Lâu đài Chantilly để lắng nghe và hoàn toàn bị quyến rũ bởi vẻ mộc mạc hoàn hảo mà ông hoàng dùng để kể lại mọi chuyện với tẩu thuốc trong tay, như ông vẫn thường làm ở doanh trại ngoài trời giữa những người lính của chúng ta!

Chỉ có những ông lớn mới biết cách thực hiện những hành động bình dị mà tinh tế này.

Và Le Cid tiếp tục hành trình của mình tại các tỉnh và ở nước ngoài.

Vào tháng 10 năm 1900, buổi biểu diễn thứ 100 được tổ chức tại Nhà hát Opéra, và vào ngày 21 tháng 11 năm 1911, sau 26 năm, tôi thấy báo chí viết thế này:

“Màn trình diễn Le Cid đêm qua là một trong những màn trình diễn hay nhất. Một khán phòng chật cứng đã nhiệt tình tán thưởng tác phẩm tuyệt hay của ông Massenet và các nghệ sĩ biểu diễn: cô Bréval, các ông Franz, Delmas, cùng ngôi sao ballet Zambelli.”

Tôi đã đặc biệt hài lòng với những buổi trình diễn tác phẩm này trước đây. Sau Fidès Devriès tuyệt vời, những người sắm vai Chimène ở Paris là cô Rose Caron vô song, cô Adiny tuyệt vời, cô Mérentié cảm động và đặc biệt Louise Grandjean, giáo sư lỗi lạc tại Nhạc viện.

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch