CHƯƠNG II – NHỮNG NĂM THÁNG TUỔI TRẺ

 

Vào thời ngồi ghế Nhạc viện, tôi có thể chất yếu ớt và vóc dáng khá nhỏ con. Đây thậm chí còn là lý do để họa sĩ biếm họa nổi tiếng Cham vẽ chân dung tôi. Là một người bạn lớn của gia đình, Cham thường đến chơi tối ở nhà cha mẹ tôi. Đã có rất nhiều cuộc trò chuyện quanh bàn ăn gia đình mà họa sĩ xuất chúng làm sôi động bằng sự dí dỏm cũng như trí tuệ sắc bén của mình dưới ánh sáng dịu nhẹ của ngọn đèn dầu. (Thời đó dầu hỏa còn ít được biết đến và điện vẫn chưa được dùng để thắp sáng.)

Chúng tôi dùng xi rô hạnh trong những dịp như vậy; đó là truyền thống trước khi trà trở thành thức uống thời thượng.

Tôi thường được yêu cầu chơi piano. Do vậy Cham có đủ thời giờ cần thiết để phác họa hình bóng tôi, bức mà ông miêu tả tôi đứng trên năm hay sáu quyển nhạc với hai bàn tay giơ lên nhưng gần như không chạm vào phím đàn. Đây rõ ràng là một sự cường điệu nhưng cũng phần nào dựa trên thực tế.

Người gõ piano (phác họa của Cham)

Thi thoảng tôi cùng Cham đến nhà một người bạn dễ thương và xinh đẹp của ông ở phố Taranne. Dĩ nhiên là tôi được đề nghị “chạm vào piano”. Tôi còn nhớ một buổi tối được mời chơi đàn khi vừa xếp thứ ba môn piano và môn xướng âm với bằng chứng là hai tấm huy chương đồng nặng mang dòng chữ “Trường âm nhạc và kịch nghệ hoàng gia”. Đúng là mọi người đã nghe tôi chăm chú hơn, nhưng ngược lại tôi cũng không kém phần xúc động vì vinh dự đó!

Tôi biết rằng vài năm sau đó Cham kết hôn với người phụ nữ xinh đẹp ở phố Taranne và lễ cưới được tổ chức trong phạm vi hết sức thân tình. Hơi ngượng nghịu về cuộc hôn nhân này nên Cham đã không gửi bất kỳ thư báo hỉ nào cho bạn bè, điều khiến họ rất ngạc nhiên; khi bị họ chất vấn, ông dí dỏm đáp: “Tôi có gửi thư báo đấy chứ… nhưng là thư nặc danh!”

Dẫu bị mẹ giám sát nghiêm ngặt nhưng một tối nọ tôi đã trốn khỏi nhà. Tôi biết rằng vở Tuổi thơ của Chúa Ki-tô của Berlioz sắp được trình diễn tại Nhà hát Opéra-Comique ở phố Favart và nhà soạn nhạc vĩ đại sẽ đích thân chỉ huy.

Không có tiền mua vé vào cửa nhưng chẳng thể cưỡng lại khao khát nghe tác phẩm của con người đã khuấy động nhiệt tình cả tuổi thanh xuân của mình, tôi đã nhờ các bạn là thành viên dàn hợp xướng thiếu nhi dẫn theo và giấu tôi giữa bọn họ. Tôi cũng phải thú nhận rằng mình bị ám ảnh bởi ước ao thầm kín là được xâm nhập hậu trường một nhà hát!

Lần trốn nhà này, như các con thân yêu của cha có thể đoán ra, không phải là không khiến bà nội các con lo lắng. Bà đã đợi cha đến quá nửa đêm… khi cho rằng cha đã lạc lối ở Paris rộng lớn này.

Chẳng cần phải kể rằng lúc trở về nhà tôi đã rất ngượng ngùng cúi đầu và bị quở trách nặng nề. Tôi lách qua giữa hai trận bão; nếu đúng là phụ nữ nổi giận cũng như mưa rừng rơi làm hai trận thì tấm lòng người mẹ chí ít cũng không thể kéo dài cơn thịnh nộ. Vậy là tôi yên tâm về khoản này mà đi ngủ. Thế nhưng tôi chẳng thể ngủ được. Tôi hồi tưởng lại trong cái đầu nhỏ bé của mình toàn bộ vẻ đẹp của tác phẩm mà tôi đã nghe và tôi lại thấy hiện ra dáng hình cao lớn và kiêu hãnh của Berlioz khi chỉ huy với phong thái bậc thầy màn trình diễn tuyệt vời này!

Quãng đời này của tôi diễn ra một cách vui vẻ và siêng năng nhưng không kéo dài.

Các bác sĩ đã chỉ thị cho cha tôi rời khỏi Paris, nơi có khí hậu không tốt cho sức khỏe của ông, và tuân theo phương pháp điều trị được thực hiện ở Aix-les-Bains tỉnh Savoie.

Chấp nhận quyết định này, cha mẹ tôi lên đường đi Chambéry và mang tôi theo.

Sự nghiệp nghệ sĩ trẻ của tôi vì thế mà bị gián đoạn. Biết làm sao được?

Tôi ở Chambéry trong hai năm trời. Tuy nhiên cuộc sống của tôi không quá đơn điệu. Tôi dành thời gian để tiếp tục học cổ điển, xen kẽ với việc chăm chỉ luyện gam và hợp âm rải, hợp âm sáu và hợp âm ba cứ như thể định mệnh của tôi là trở thành nghệ sĩ piano điêu luyện. Tôi mang một mái tóc dài đến nực cười, thứ là mốt thời thượng của mọi nghệ sĩ điêu luyện, và điểm tương đồng này phù hợp với những ước mơ đầy tham vọng của tôi. Với tôi dường như mái tóc hoang dại chính là phần bổ trợ cho tài năng!

Thi thoảng tôi thực hiện những chuyến đi chơi xa qua vùng thôn dã Savoie tuyệt vời, dạo ấy vẫn dưới quyền vua xứ Piédmont. Khi thì đến đỉnh Nivolet, khi thì đến Les Charmettes, dinh thự đẹp như tranh này nổi tiếng vì từng là nơi ở của Jean-Jacques Rousseau.

Trong kỳ nghỉ dưỡng bắt buộc của mình, tôi thật tình cờ tìm thấy một số tác phẩm của Schumann khi ấy khá ít được biết đến ở Pháp, và thậm chí còn ít được biết đến hơn ở Piédmont. Tôi sẽ luôn nhớ rằng đi đến đâu tôi cũng góp vui bằng một vài khúc nhạc piano, đôi khi tôi chơi khúc nhạc tuyệt vời có tên Lúc chiều tà [Des Abends; Au Soir] và điều này khiến một ngày nọ tôi nhận được lời mời đặc biệt: “Hãy đến giải trí cho chúng tôi bằng khúc nhạc Schumann bị chơi phô tệ hại của cậu!” Chẳng cần phải diễn tả trận nổi khùng trẻ con của tôi trước những lời lẽ như vây. Những người Savoie can đảm thời đó sẽ nói gì nếu được nghe âm nhạc ngày nay?

Nhưng ngày tháng cứ trôi qua, trôi qua, trôi qua… cho đến một buổi sáng nọ khi tia nắng đầu tiên của ngày mới còn chưa ló dạng từ phía núi, tôi đã trốn khỏi mái nhà cha mẹ, không một xu dính túi, không một bộ quần áo để thay và tôi đi Paris. Paris! thành phố với toàn bộ sức hút nghệ thuật, nơi tôi được gặp lại Nhạc viện thân yêu, những người thầy và hậu trường đã để lại những kỷ niệm chưa bao giờ ngưng ám ảnh tôi.

Tôi biết đường tìm đến một người chị gái tốt bụng ở Paris, người dù hoàn cảnh rất khiêm tốn nhưng vẫn đón nhận tôi như con ruột khi cho tôi cái ăn và chỗ ngủ, cái ăn đạm bạc và chỗ ngủ đơn sơ nhưng đều được tô điểm bằng sự quyến rũ của một tấm lòng cao cả đến mức tôi cảm thấy mình thực sự là thành viên gia đình.

Dần dà mẹ tôi cũng tha thứ cho tôi cái tội trốn về Paris.

Chị gái tôi quả là một người nhân từ và tận tâm! Than ôi! Chúng tôi đã phải chia xa mãi mãi, vào ngày 13 tháng 1 năm 1905, ngay lúc chị đang tự hào tham dự đêm diễn thứ 500 của Manon. Không gì có thể diễn tả được nỗi buồn của tôi!

Trong vòng 24 tháng, tôi bù lại được khoảng thời gian đã mất ở Savoie. Tôi giành được một giải nhất piano cùng một giải đối âm và fugue vào ngày 26 tháng 7 năm 1859.

Tôi đã phải ganh đua với mười người bạn học. Số mệnh đã gán cho tôi con số báo danh là 11. Các thí sinh bị nhốt ở phòng diễn viên của phòng hòa nhạc Nhạc viện và đợi được gọi tên.

Loáng một cái, số 11 thấy mình đơn độc ở phòng diễn viên. Trong khi chờ đến lượt mình, tôi kính cẩn chiêm ngưỡng bức chân dung Habeneck, người sáng lập và nhạc trưởng đầu tiên của Hiệp hội hòa nhạc với một chiếc khăn tay thật màu đỏ cài ở khuyết áo bên trái. Chắc chắn là vào ngày trở thành sĩ quan của Binh đoàn danh dự, cùng với một số huân huy chương khác, ông sẽ đeo không phải một phù hiệu hoa hồng… mà là một bông hồng!…

Cuối cùng tôi cũng được gọi vào.

Tác phẩm dự thi là bản Concerto giọng Fa thứ của Ferdinand Hiller. Thời đó người ta cho rằng âm nhạc của Ferdinand Hiller gần với âm nhạc của Niels Gade đến mức có thể tưởng là của Mendelssohn!…

Người thầy tốt bụng của tôi, thầy Laurent, đang đứng gần cây đàn piano. Khi tôi thị tấu xong bản concerto, thầy ôm hôn tôi mà không quan tâm đến khán giả đang ngồi kín khán phòng, và tôi cảm thấy mặt mình ướt đẫm những giọt nước mắt thân thương của thầy.

Ở tuổi đó tôi đã có tính nghi ngờ về thành công… và trong suốt cuộc đời mình, tôi luôn tránh những buổi tổng duyệt có công chúng và những đêm diễn ra mắt khi cho rằng với những tin tức xấu thì càng biết muộn càng tốt.

Tôi chạy ào về nhà như một chú bé con. Tôi thấy không có ai ở nhà vì chị tôi đã đi xem tranh tài. Tuy nhiên, rốt cuộc tôi không thể chịu đựng thêm nữa; tôi quyết định quay trở lại Nhạc viện: và vì quá phấn khích nên tôi chạy suốt quãng đường. Tôi vừa đến góc phố Sainte-Cécile thì gặp anh bạn Alphonse Duvernoy, người sau này sẽ có sự nghiệp giáo viên và nhà soạn nhạc rất thành công. Tôi sà vào vòng tay anh. Anh nói với tôi, điều mà lẽ ra tôi đã biết rồi, rằng thầy Auber vừa thay mặt ban giám khảo đưa ra một tuyên bố định mệnh: “Giải nhất piano được trao cho ông Massenet.”

Trong ban giám khảo có nghệ sĩ bậc thầy Henri Ravina, một trong những người bạn quý giá nhất mà tôi có trong đời; cứ nghĩ tới ông là tôi thấy cảm động và biết ơn sâu sắc.

Từ phố Bergère tôi chỉ nhảy vài bước là đến phố Bourgogne, nơi thầy Laurent trác tuyệt của tôi sống. Tôi thấy thầy giáo cũ của mình đang ăn trưa với một số vị tướng là đồng đội trong quân ngũ.

Vừa trông thấy tôi, thầy đã đưa cho tôi hai tập nhạc. Đó là tổng phổ dàn nhạc Đám cưới Figaro, hài kịch bốn màn do ngài W. Mozart phổ nhạc.

Bìa hai tập nhạc được in hình huy hiệu Louis XVIII, với dòng chữ mạ vàng: Thực đơn vui thích của đức vua. Trường Âm nhạc và Kịch nghệ Hoàng gia. Cuộc thi năm 1822. Giải nhất piano được trao cho ông Laurent.

Ở trang đầu tiên, người thầy đáng kính của tôi đã viết những dòng này:

“Ba mươi bảy năm trước, giống như con thân yêu, ta đã đoạt giải thưởng piano. Ta không nghĩ rằng có món quà nào dễ thương hơn để tặng cho con cùng tình bạn chân thành của ta. Hãy tiếp tục sự nghiệp của mình và con sẽ trở thành một nghệ sĩ lớn.
“Đây là diều mà các thành viên ban giám khảo, những người hôm nay đã trao cho con phần thưởng tuyệt vời này, nghĩ về con.
“Người bạn và người thầy cũ của con.
“Laurent.”

Việc người thầy đáng kính này đưa ra một lời chứng thực như vậy cho một chàng trai trẻ mới bắt đầu sự nghiệp chẳng phải là một cử chỉ đẹp thực sự hay sao?

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch