Tác giả : Robert Schumann
Thời gian sáng tác : tháng 9/1834
Đề tặng: nghệ sĩ vĩ cầm Karol Lipiński
Tiêu đề phụ: Scènes mignonnes sur quatre notes (Những hoạt cảnh nhỏ trên 4 nốt)
Carnaval (Hội giả trang) là một tác phẩm của Schumann mang đầy tính tự nhiên, mà sức sáng tạo và kĩ thuật cùng tồn tại một cách sinh động và mạnh mẽ. Liên khúc Carnaval bao gồm 21 khúc nhạc, được xây dựng trên cơ sở biến tấu từ một chủ đề không hoàn thiện là 4 chữ cái ASCH[1]được biến thành âm nhạc qua 4 nốt La – Mi – Đô – Si. Dựa trên 4 chữ cái này, nhạc sĩ đã tạo nên các khúc nhạc đa dạng về hình tượng nhưng lại có mối liên quan về âm điệu xuyên suốt toàn tác phẩm. Có thể nói, Carnaval là một tác phẩm đầy sáng tạo cả về hình thức lẫn nội dung.

Carnaval là một chuỗi hoạt cảnh, một buổi vũ hội hóa trang mà các nhân vật lần luợt kéo nhau ra sân khấu. Nó được tác giả diễn giải như là “Những hoạt cảnh nhỏ trên 4 nốt” (4 nốt được đề cập ở trên). Nếu hoán vị một chút các đoạn nhạc này, sẽ phát sinh ra chủ đề cho các nhân vật của vũ hội, tồn tại theo từng cặp mang tính cách đối lập: mang tính lịch sử (Chopin và Paganini – hai người ông ngưỡng mộ), mang tính dân gian (các nhân vật kịch câm của Pháp Pierrot, Arlequin, Pantalon và Colombine), mô tính cách nội tâm của Schumann (Florestan và Eusebius) – một cách ông nói về bản thân mình. Ông còn nhắc đến hai người phụ nữ trong đời ông: Ernestine von Fricken (Estrella) và người vợ tương lai Clara Wieck (Chiarina). Ngoài ra còn có những hành khúc của Davidsbündler (Hội David), chống lại Philistines (hay nói cách khác là tư tưởng tiến bộ chống tư tưởng bảo thủ).

Nội dung chính của Carnaval phản ánh những tư tưởng tiến bộ chống bảo thủ của Hội Đavixbun. Xen kẽ giữa các chân dung chứa đựng nét điển hình của các nhân vật là những cảnh thơ mộng trữ tình được diễn tả thật sinh động.

Các khúc nhạc trong Carnaval:

1. Préambule: khúc nhạc mở đầu. Như tiếng gọi mọi người đến với vũ hội.
2. Pierrot: nhân vật dân gian commedia dell’arte[2] có trí tuệ tầm thường, vụng về, luôn buồn bã và đăm chiêu, mặc bộ đồ trắng rộng thùng thình với bộ mặt hóa trang trắng bệch. Một nhân vật luôn giữ im lặng nhưng lại thể hiện bằng cử chỉ, điệu bộ sự hài hước và châm biếm sâu sắc:
3. Arlequin: cũng là nhân vật dân gian commedia dell’arte, luôn đeo mặt nạ với cái mũi đỏ, quần áo dát bạc và sặc sỡ, đanh đá, cơ hội, luôn tìm kiếm thức ăn và đàn bà và rất tham lam. Arlequin có nhiềm mưu kế và sự ranh mãnh của một đứa bé tinh quái. Trái ngược với Pierrot, đây là tên hề vui nhộn áo quần sặc sỡ với chiếc mũi đỏ kỳ quái, gây cười một cách bộc trực
4. Valse noble: sử dụng chủ đề A-Eb-C-B (ASCH)
Hai khúc số 5 “Eusebius” và số 6 “Florestan” là hình ảnh những nhân vật cùng tên trong tiểu thuyết “Những năm lêu lổng” của J.Paul. Đó cũng là hai trong số các bút danh của Schumann khi viết báo. Vì vậy, có thể nói hai nhân vật này chính là sự mô tả bản thân tác giả – một hội viên Đavixbun – ở hai khía cạnh tính cách khác nhau:
5. Eusebius: có tính trữ tình êm dịu, thể hiện sự mơ mộng dịu dàng trong tâm hồn Schumann (lãng mạn trữ tình – mặt bên trong của tâm hồn Schumann)
6. Florestan: lại mô tả một khía cạnh đối lập: nhiệt tình rực lửa nổi loạn trong tâm hồn tác giả (mạnh mẽ – mặt bên ngoài của tâm hồn Schumann)
7. Coquette: “Đối đáp”
8. Réplique: “Điệu bộ”
9. Papillons: “Những con bướm”
10. A.S.C.H.-S.C.H.A :“những chữ cái nhảy múa”: Nơi sinh sống của Ernestine và tên Schumann
11. Chiarina: tên thân mật của Clara Wieck , con gái 15 tuổi của thầy dạy piano cho Schumann, sau này trở thành vợ ông và cũng là hội viên Davidsbündler. Âm nhạc thể hiện tính trữ tình nồng cháy trong từng đường nét giai điệu, liên quan tới tình yêu của Schumann với Clara.
12. Chopin: Nhà soạn nhạc người Ba Lan Chopin, thành viên Davidsbündler. Chúng ta bắt gặp phong cách Nocturne quen thuộc ở các tác phẩm cùng thể loại của Chopin: tính chất trữ tình trong sáng với nét giai điệu liền bậc trải rộng.
13. Estrella: Ernestine von Fricken, 17 tuổi, người Schumann đã bí mật đính ước. “Nàng có một tâm hồn ngây thơ thuần khiết quyến rũ, tinh tế và sâu sắc, gây ấn tượng đặc biệt với con, mọi thứ của nàng đều mang vẻ gì đó nghệ sĩ và đầy chất xướng ca hiếm có” Schumann viết cho mẹ vào tháng 7 năm 1834. Âm nhạc biểu hiện nét kịch tính, day dứt trong cuộc đấu tranh về tư tưởng
14. Reconnaissance: “Lòng biết ơn”
15. Pantalon et Colombine: Nhân vật dân gian commedia dell’arte. Pantalon, một thương gia cả tin, cố gắng che dấu tuổi già của mình để quyến rũ phụ nữ bằng cách mặc một cái quần bó Thổ Nhĩ Kỳ. Columbine, người đầy tớ hay là vợ của một lão già, tượng trưng cho sự thông minh và quyến rũ trong thế giới của sự ngu dốt, tham lam và thiếu hiểu biết.
16. Valse allemande: một điệu Waltz của Đức
17. Paganini: Nicolo Paganini (1782-1840), nhà soạn nhạc người Ý và bậc thầy về violin, thành viên của Davidsbündler. Lòng hâm mộ tài năng biểu diễn violin của Paganini, được thể hiện ở sự mô phỏng lối búng dây – một kỹ thuật diễn tấu độc đáo của violin – bằng thủ pháp staccato kết hợp nhảy quãng xa do 2 bè piano diễn tấu.
18. Aveu: lời thú nhận
19. Promenade: “Dạo chơi” (Đoạn này và đoạn sau như hai đoạn dùng để nghỉ giữa tác phẩm)
20. Pause
21. Marche des Davidsbündler contre les Philistins
 (Davidsbündle chống lại Philistines): tượng trưng cho sự thắng lợi về quan điểm của các nghệ sĩ tiến bộ đối với bọn bảo thủ.
The Davidsbündler hay “Hội David” là tên của nhân vật trong kinh thánh Kinh David, người chơi và sáng tác nhạc, viết thơ và giết Philistines (kẻ thù của người Do Thái ở nam Palestin – sau này từ được dùng cho những kẻ tầm thường, thiếu văn hóa). Đoạn nhạc này được viết cho những nhà soạn nhạc theo tư tưởng tiến bộ với âm nhạc tao nhã, chứ không phải những người theo tư tưởng bảo thủ truyền thống với âm nhạc hời hợt, thiển cận như là một sản phẩm “quá đát” của trường phái Lãng mạn. Trong lời tuyên bố mục đích của tờ tạp chí vận động của ông Neue Zeitschrift für Musik, Schumann viết: “Mục tiêu của chúng tôi là nhắc nhở người đọc về quá khứ xa xưa và các tác phẩm thời ấy… Sau đó tấn công vào sự phản thẩm mỹ của các tác phẩm hiện nay, trong thời gian gần đây có vẻ xuất sắc nhưng lại vô cùng hời hợt. Cuối cùng, là để giúp chuẩn bị bước nhanh đến kỉ nguyên thơ ca mới.” Ông đã chễ giễu bằng cách viết đoạn hành khúc dài ra gấp 3 chứ không phải 2 lần, và chế giễu chúng qua “điệu nhảy của ông già” – một điệu nhảy cổ xưa để kết thúc vũ hội.
Có thể nhận thấy, tác phẩm chứa đựng hai mảng nội dung hình tượng chính:
1. Các khúc nhạc mang tính chân dung
Những hình ảnh diễn tả khác nhau của 8 chân dung nhân vật – những mặt nạ giả trang truyền thống và các chân dung của hội viên Hội Đavixbun, đều được khắc hoạ sinh động những nét điển hình của nhân vật. Chúng ta thường gặp lối so sánh đối chiếu giữa hai chân dung có tính tương phản rõ nét được đặt cạnh nhau, số 5 “Eusebius” và số 6 “Florestan”. Ngoài ra, mỗi chân dung đều thể hiện đặc điểm riêng và mang đậm màu sắc tư duy nhân vật một cách tinh tế, như số 11 “Chiarina” số 12 “Chopin”, số 13 “Estrella”, số 16 “Paganini”.
Một số chân dung các nhạc sĩ lãng mạn đương thời (Số 12 “Chopin” và 16 “Paganini”), mà nghệ thuật của họ được Schumann khâm phục, cũng xuất hiện trong tác phẩm này. Schumann đã sử dụng những đặc điểm tiêu biểu trong phong cách sáng tác hoặc biểu diễn của họ để xây dựng chân dung bằng giai điệu âm nhạc.
2. Các cảnh nền của Hội giả trang
Nếu những khúc nhạc mang tính chân dung đã khắc hoạ sâu sắc nét điển hình của nhân vật, thì các khúc nhạc nền tả cảnh đã thể hiện thật sinh động về khung cảnh ngày hội. 13 khúc nhạc nền thể hiện những nội dung sau:
a. Các khúc nhạc tả không gian, cảnh vật:
Trong những bức tranh tả cảnh, tính tiêu đề và hình ảnh diễn tả rõ nét thông qua các thủ pháp tạo hình cho giai điệu.
Mở đầu cho tác phẩm là số 1 “Preambule” , vang lên chủ đề với âm hưởng mạnh mẽ sáng chói, mô phỏng tiếng kèn đồng kêu gọi mọi người tập hợp chung vui trong ngày hội:
Một vài khúc nhạc diễn tả những hoạt động vui chơi, như số 4 “Valse Noble – điệu Waltz quý phái”; số 7 “Coquette – điệu bộ”’, số 8 “Réplique – Sphinxes – Đối đáp” và số 19 “Promenade – Dạo chơi”.
Các thủ pháp tạo hình thể hiện rõ nét nhất trong số 9 “Papillons – Những con bướm” và số 10 “Lettres Dansantes – Những chữ cái nhảy múa”.
b. Các khúc nhạc thể hiện tính chất triết lý suy tư trong thế giới nội tâm:
Gồm 2 khúc số 14 “Reconnaissance – Lòng biết ơn” và số 17 “Aveu – Lời thú nhận”. Tiêu đề và hình tượng diễn tả của 2 khúc nhạc này thể hiện những tình cảm khác nhau của con người bằng các thủ pháp tạo hình ảnh.

Carnaval là một trong những tác phẩm thể hiện được những cách tân sáng tạo trong nội dung cũng như trong hình thức của tác phẩm. Nó chứa đựng và lột tả được những tư tưởng của thời kỳ, và là một tác phẩm tiêu biểu cho chủ nghĩa Lãng mạn trong âm nhạc châu Âu.

Ghi chú:
[1]: Viết là ASCH vì theo kí hiệu âm nhạc bằng tiếng Đức thì S là Eb còn H là B. Do cách kí hiệu âm nhạc khác với kiểu phổ thông cho nên mới gây khó hiểu cho người đọc nhạc theo kiểu bình thường. ASCH còn một nghĩa khác chính là tên thị trấn của Ernestine von Fricken, người yêu đầu tiên của Schumann (cũng là học trò), nhưng đồng thời cũng là viết tắt tên của ông.
S đọc là es = Mi giáng
A – S – C – H :La – Mib – Đô – Si
Schumann còn một chủ đề nổi tiếng khác dựa theo chủ đề Clara Wieck (C-F-G-C) ở bản Impromptus op. 5 (C-F-G-C) Chủ đề này gần giống với chủ đề ở Fantasy số 1 và số 2. Chúng dựa trên nền chủ đề của Clara. Robert Schumann sử dụng bốn nốt đầu này như motive “Clara” khác trong chương cuối của Fantasiestucke op. 12.
[2]commedia dell’arte: thể loại hài kịch ở Ý thế kỉ 16-18, mà trong đó các diễn viên không hề chuẩn bị trước mà ứng khẩu trên sân khấu dựa theo tính huống và tính cách ở ngoài đời thường.
Hoàng Việt & Quỳnh Trang (nhaccodien.info) tổng hợp

Facebook Comments