“Nghệ sĩ đàn dây vĩ đại nhất mọi thời đại.” – Ivan Galamian

Gregor Piatigorsky là ví dụ điển hình cho một nghệ sĩ cello toàn diện: bè trưởng cello của dàn nhạc, nghệ sĩ độc tấu, hoà tấu thính phòng, một nhà giáo mẫu mực và là người truyền cảm hứng. Sinh ra tại Nga và như nhiều nghệ sĩ cùng thế hệ khác, ông đã rời bỏ đất nước sau những biến động chính trị và định cư tại Mỹ. Với cá tính âm nhạc đầy màu sắc và biểu cảm, Piatigorsky đã đóng một trò quan trọng trong việc phổ biến cây đàn cello như một nhạc cụ độc tấu tại Mỹ. Trải qua tuổi thơ khó khăn với nhiều biến cố, nhưng bằng những nỗ lực không ngừng nghỉ, thậm chí từng suýt phải trả giá bằng cả mạng sống của mình, Piatigorsky cuối cùng cũng giành được vinh quang trong sự nghiệp, được tôn trọng và kính ngưỡng. Nhiều tác phẩm dành cho cello được sáng tác để dành tặng cho ông. Piatigorsky sở hữu một tiếng đàn đẹp tuyệt vời, đặc trưng với âm rung mãnh liệt và nhanh một cách đặc biệt. Sự bùng nổ nghệ thuật của ông đã tạo nên một sự phấn khích hiếm có, để lại ấn tượng khó phai mờ cho tất cả những ai từng may mắn được chiêm ngưỡng tài năng gây choáng ngợp của Piatigorsky.

Gregor Piatigorsky sinh ra tại Ekaterinoslav (nay là Dnipro), Ukraine vào ngày 17/4/1903 trong một gia đình Do Thái. Những ấn tượng thời thơ ấu sống động nhất đối với cậu bé là được cha đưa đi dạo ngoài thảo nguyên, ghé thăm cửa hàng sách của ông nội và đọc thoả thuê ở đó cũng như trốn tránh trong hầm sâu cùng gia đình khi diễn ra cuộc thảm sát người Do Thái của Sa hoàng. Ông Pavel, bố của Gregor, thời trẻ đã vượt qua nhiều khó khăn, trong đó có cả sự ngăn cản của cha mình để theo học violin tại Nhạc viện Moscow với người thầy giáo vĩ đại Leopold Auer. Gregor đã thừa hưởng tình yêu âm nhạc và sự bền bỉ để vươn tới thành công từ chính người cha của mình. Như một lẽ tự nhiên, ông Pavel đã cho Gregor theo học violin, cùng với đó là piano dù rằng cuộc sống gia đình không hề dư dật. Gia đình Piatigorsky thường xuyên tham dự những buổi biểu diễn hoà nhạc tại nhà hát địa phương. Tại đây, vào năm 1910, Gregor được chứng kiến tài năng của nghệ sĩ cello Viktor Kubatsky (người sau này được Dmitri Shostakovich dành tặng bản sonata cello) và ngay lập tức cậu bé đã say đắm nhạc cụ to lớn này.

Gregor có 2 mảnh gỗ, mảnh lớn được dựng đứng giữa hai chân được coi là cây đàn cello, miếng nhỏ hơn là vĩ và rất thích giả vờ biểu diễn. Ngoài ra, cây đàn violin cũng luôn được dựng đứng theo chiều dọc để trở thành một cây cello. Chứng kiến tất cả điều này, ông Pavel đã mua cho con trai mình một chiếc cello nhỏ. Ông mời những thầy giáo tại địa phương dạy cho Gregor. Cậu bé đã có được những tiến bộ đáng kể. Mùa hè đến, các nhạc công trên khắp nước Nga đổ về Ekaterinoslav trong một lễ hội âm nhạc. Ông Pavel đã đến gặp Alexei Kinkulkin, nghệ sĩ cello, học trò của thầy giáo danh tiếng Julius Klengel. Sau khi nghe Gregor biểu diễn một vài tác phẩm, Kinkulkin giữ bộ mặt lạnh lùng, nói: “Hãy lắng nghe cẩn thận, cậu bé. Hãy nói với bố của cậu rằng tôi khuyên cậu nên lựa chọn một nghề phù hợp nhất. Bỏ cây đàn cello sang một bên. Cậu không có bất kỳ khả năng nào để chơi nó.” Gregor ban đầu rất vui mừng, cậu có thể thoát khỏi những bài tập hàng ngày và có nhiều thời gian chơi bời cùng đám bạn. Tuy nhiên, chỉ sau một tuần, cậu bé khao khát nhìn vào cây dàn đang đứng lẻ loi trong góc tường. Ông Pavel bảo Gregor hãy tiếp tục học đàn.

Năm 1912, hai cha con Gregor lên đường đến Moscow. Tài năng của cậu bé đã chinh phục những người tuyển chọn tài năng tại nhạc viện Moscow và Gregor đã được nhận và theo học với Alfred von Glehn và Anatoly Brandukov. Không những vậy, cậu còn được miễn học phí. Tuy nhiên, điều kiện kinh tế của gia đình Gregor cũng khiến họ rất vất vả để chi trả cho cuộc sống đắt đỏ tại Moscow. Chính vì vậy, khi 12 tuổi, Gregor đã bắt đầu biểu diễn trong các quán cà phê tại Moscow. Trong mùa hè, nhóm nhạc của cậu đi lưu diễn tại các tỉnh. Gregor thậm chí còn có thể gửi tiền về quê nhà để hỗ trợ gia đình. Một ngày nọ, Gregor được trao vinh dự chưa từng có, cậu được mời chơi đàn để lấp đầy khoảng thời gian trống giữa hai màn biểu diễn của Feodor Chaliapin vĩ đại. Tài năng của Gregor đã được hoan nghênh đến nỗi khán giả đã yêu cầu cậu biểu diễn thêm khiến màn biểu diễn của Feodor bị trì hoãn. Chaliapin đã hát các trích đoạn trong Boris Godunov (Modest Mussorgsky) vốn gồm những đoạn nói và thậm chí là hét lên và khi gặp nhau sau cánh gà, Gregor, vốn chưa có sự hiểu biết về opera đã liều lĩnh “trách móc”: “Chú nói nhiều quá và hát không đủ” và nhận ngay được câu trả lời: “Còn cháu hát quá nhiều và nói không đủ”. Câu nói tưởng chừng như vô tình của Chaliapin đã để lại nhiều suy nghĩ cho Gregor và kể từ đó, cậu luôn cố gắng để kết hợp tính kịch và sự biểu cảm trong giọng hát của Chaliapin vào trong tiếng đàn của mình.

Cuộc Cách mạng tháng 10 nổ ra, Gregor mới 14 tuổi và đã tham gia vào cuộc tuyển chọn nhạc công cho Nhà hát Bolshoi. Cậu đã biểu diễn bản Concerto cello của Antonín Dvořák trước một ban giám khảo với trưởng ban là nhạc trưởng Vyacheslav Suk, giám đốc nhà hát. Gregor đã được nhận và thậm chí còn đảm nhiệm vị trí bè trưởng bè cello ở một độ tuổi còn rất trẻ và có cơ hội biểu diễn với tất cả những tên tuổi nổi bật nhất của nền âm nhạc cổ điển nước Nga thời kỳ đó. Gregor được nhận phiếu ăn dành cho trẻ em và được mọi người gọi là “em bé sô cô la”. Ngoài việc biểu diễn tại nhà hát, cùng với nghệ sĩ piano Isai Dobrovein và nghệ sĩ volin Mischa Mischakoff, Gregor thành lập một nhóm tam tấu, lần đầu tiên biểu diễn bản Trio piano của Maurice Ravel tại Nga. Khi nhạc trưởng người Ba Lan Grzegorz Fitelberg cùng với dàn nhạc của Nhà hát Bolshoi biểu diễn lần đầu tiên tại Nga thơ giao hưởng Don Quixote của Richard Strauss, vì cho rằng phần dành cho cello độc tấu quá phức tạp nên Fitelberg đã quyết định mời Gregory Giskin đảm nhiệm phần này thay vì để bè trưởng bè cello chơi như thông lệ. Gregor khiêm tốn nhường vị trí của mình cho khách mời và ngồi xuống ghế thứ hai. Nhưng các nghệ sĩ khác của dàn nhạc đã phản đối, họ cho rằng Gregor cũng có thể biểu diễn một cách xuất sắc, không thua kém bất kỳ nghệ sĩ nào và Gregor đã chơi trong sự ngỡ ngàng của Fitelberg. Cậu đã trở thành một nghệ sĩ thực thụ.

Năm 1919, Piatigorsky trở thành thành viên của một nhóm tứ tấu dây do Lev Tseitlin thành lập. Uỷ viên nhân dân về giáo dục Anatoly Lunacharsky đề nghị lấy tên là Tứ tấu Lenin. Piatigorsky thắc mắc trong ngơ ngác: “Tại sao không là Beethoven”? Nhóm tứ tấu xuất sắc đến nỗi đã được mời đến điện Kremlin để biểu diễn bản Tứ tấu dây số 1 của Edvard Greig cho Vladimir Ilyich Lenin xem. Sau khi kết thúc buổi hoà nhạc, Lenin cảm ơn dàn nhạc và mời Piatigorsky ở lại. Vị lãnh tụ hỏi anh cây đàn cello có tốt không và nhận được câu trả lời “cũng được ạ”. Lenin có nói rằng các nhạc cụ tốt hiện nay đều nằm trong tay của những người giàu có thay vì các nhạc công giỏi, những người mà tài sản chỉ là tài năng của họ. Lenin nói: “Có đúng không, rằng cháu đã phản đối cái tên của nhóm? Tôi cũng vậy, tôi tin rằng cái tên Beethoven phù hợp với một nhóm tứ tấu hơn. Beethoven là vĩnh cửu”.

Dẫu có mọi thành công, Piatigorsky nhận thấy kỹ thuật biểu diễn của mình vẫn cần phải cải thiện rất nhiều. Tuy nhiên, việc tìm kiếm một thầy giáo tài năng vào thời điểm đó là không hề đơn giản, rất nhiều giảng viên tại nhạc viện đã rời khỏi đất nước. Piatigorsky đề nghị được đi tu nghiệp tại nước ngoài nhưng Lunacharsky đã từ chối. Vị trí của anh tại dàn nhạc và nhóm tứ tấu là không thể thay thế. Mùa hè năm 1921, cùng với một nhóm nhạc công của Nhà hát Bolshoi, trong đó có cả nghệ sĩ violin Mischakoff, người thường chơi tam tấu cùng anh, Piatigorsky đã đi biểu diễn tại Ukraine, bắt đầu tại Kiev và sau đó là những thành phố nhỏ hơn. Tại Volochisk, gần biên giới Ba Lan, họ đàm phán với những kẻ buôn lậu, chúng đã chỉ đường cho họ để vượt qua biên giới. Vào ban đêm, khi đến một chiếc cầu nhỏ bắc qua sông Zbruch, những kẻ buôn lậu hô: “Chạy đi”. Những tiếng súng vang lên, Piatigorsky giơ cây đàn cello lên trên đầu và nhảy xuống dòng sông, những người khác theo sau. Con sông không quá sâu và những kẻ đào tẩu đã đến đất Ba Lan an toàn, cây đàn cello là nạn nhân duy nhất. Mischakoff nói trong run rẩy: “Chà, chúng ta đã vượt qua biên giới”. Piatigorsky đáp lời: “Không chỉ có vậy, chúng ta đã đốt những cây cầu ở phía sau mãi mãi”. Đã có nhiều biến tấu trong vụ đào thoát ngoạn mục này của Piatigorsky, một phần phát sinh từ chính ông, người nổi tiếng về trí tưởng tượng vô song, óc hài hước và năng khiếu kể chuyện hóm hỉnh. Hình ảnh quen thuộc với khán giả khi Piatigorsky luôn giơ cao cây đàn của mình khi bước ra phòng hoà nhạc, được cho là hình ảnh khi ông giơ cây cello và nhảy xuống dòng sông và coi cây đàn là phần thưởng vô giá của trận chiến đó.

Để khẳng định mình là những người tị nạn, không phải là gián điệp, các nghệ sĩ đã phải biểu diễn ngay tại chỗ cho lực lượng quân đội bảo vệ biên giới của Ba Lan. Họ được chuyển đến Lvov và sau đó là Warsaw. Tại đây, Piatigorsky đã gặp lại nhạc trưởng Fitelberg, người từng “đụng độ” với anh trước đó trong Don Quixote tại Nhà hát Bolshoi. Piatigorsky trở thành thành viên của Warsaw Philharmonic trong một khoảng thời gian ngắn trước khi anh lên đường tới Leipzig để thực hiện mơ ước nâng cao trình độ biểu diễn của mình. Tại đây, Piatigorsky đã học với Hugo Becker và Julius Klengel, người từng là thầy giáo của Emanuel Feuermann và Kinkulkin, người từng cho rằng anh không thể trở thành một nghệ sĩ violin. Tuy nhiên, Piatigorsky nhận thấy rằng họ không daỵ cho anh bất cứ điều gì đáng giá. Để trang trải cuộc sống, năm 1924, anh đã chuyển đến Berlin và chơi đàn trong một nhóm tam tấu tại quán cà phê Nga ở đây. Lạm phát tăng cao đã khiến cuộc sống của Piatigorsky gặp rất nhiều khó khăn, đã có những đêm anh từng phải ngủ trên ghế đá trong công viên. Quán cà phê nơi anh chơi nhạc là chốn tụ tập thường xuyên của nhiều nghệ sĩ danh tiếng, trong đó có Feuermann và Wilhelm Furtwängler, lúc này đang là giám đốc âm nhạc của Berlin Philharmonic. Với lời khuyên từ Feuermann, Furtwängler đã nhận Piatigorsky làm cello số một của dàn nhạc. Trong một lần anh đảm nhiệm phần dành cho cello độc tấu trong Don Quixote dưới sự chứng kiến của chính Richard Strauss, ông đã thốt lên: “Cuối cùng, tôi đã được nghe Don Quixote của mình như tôi mong muốn”! Song song với việc biểu diễn trong dàn nhạc, anh cùng với Artur Schnabel (piano) và Carl Flesch (violin) thành lập một nhóm tam tấu.

Sau năm năm làm việc trong Berlin Philharmonic, năm 1929, Piatigorsky rời khỏi dàn nhạc để theo đuổi tham vọng trở thành nghệ sĩ độc tấu. Tuy nhiên, với lòng biết ơn dành cho Furtwängler, ông luôn trở lại chiếc ghế số 1 bè cello tại Berlin Philharmonic dưới đũa chỉ huy của Furtwängler mỗi khi có cơ hội. Mùa thu năm 1929, lần đầu tiên Piatigorsky đến Mỹ và có buổi biểu diễn đầu tiên của mình tại đây cùng Philadelphia Orchestra và Leopold Stokowski. Ngày 26/12/1929, ông ra mắt khán giả New York trong Concerto cello của Dvořák tại Carnegie Hall dưới sự chỉ huy của Willem Mengelberg và New York Philharmonic. Piatigorsky đã được đón nhận với những thành công rực rỡ. Samuel Chotzinoff đã viết trên The New York World: “Ông ấy là một trong những nghệ sĩ biểu diễn thơ mộng và nhạy cảm nhất”. Sự nghiệp của Piatigorsky với tư cách một nghệ sĩ độc tấu mang tầm vóc quốc tế đã chính thức bắt đầu. Ông cố gắng biểu diễn tại mọi nơi có thể trong nỗ lực thể hiện các phẩm chất phi thường của cây đàn cello, kể cả những thị trấn bé nhỏ nhất. Các nhà tổ chức biểu diễn ấn tượng về sự lựa chọn danh mục biểu diễn. Bên cạnh những tác phẩm kinh điển dành cho cello được sáng tác trong quá khứ, ông cũng quan tâm đến những tác phẩm của các nhà soạn nhạc đương đại. Tuy nhiên, dù đã hết sức cố gắng nhưng lịch trình dày đặc cũng như việc các nhà soạn nhạc gửi tác phẩm của mình cho Piatigorsky quá sát ngày biểu diễn đôi khi khiến ông trở nên bị động và có màn ra mắt không được như ý. Điển hình như trong concerto cello của Mario Castelnuovo-Tedesco, việc chép lại các nốt nhạc từ tổng phổ ra phân phổ có nhiều sai sót khiến phần lớn thời gian tập luyện được dùng để chỉnh sửa chúng. Không khí trước buổi biểu diễn vào ngày 31/1/1935 tại Carnegie Hall là một thảm hoạ. Nhạc trưởng Arturo Toscanini lắc đầu buồn bã và liên tục lặp đi lặp lại: “Bạn không tốt, tôi không tốt”. Cuối cùng ông nhún vai và dẫn Piatigorsky ra sân khấu với lời động viên: “Chúng ta không tốt nhưng những người khác còn tệ hơn. Nào, anh bạn, đi ra thôi”. Chính những kinh nghiệm như vậy đã khiến Piatigorsky trưởng thành, ông đã cắt giảm số buổi biểu diễn của mình để đảm bảo chúng đều có chất lượng hoàn hảo.

Tháng 1/1937, Piatigorsky kết hôn với Jacqueline de Rothschild, một kỳ thủ cờ vua tài ba và là thành viên của gia tộc Rothschild danh giá. Ông đã định cư tại Pháp cùng cô. Khi phát xít Đức chiếm đóng Pháp, gia đình Piatigorsky là những người may mắn có mặt trên chuyến tàu cuối cùng rời nước Pháp. Họ đến Mỹ và sống tại Elizabethtown, New York. Piatigorsky được nhập quốc tịch Mỹ vào năm 1942, điều này giúp đỡ ông rất nhiều trong việc lưu diễn. Trong những năm 1940, Piatigorsky là nghệ sĩ cello nổi tiếng nhất thế giới khi Pablo Casals đã già, Feuermann vừa qua đời, Janos Starker và Mstislav Rostropovich vẫn còn quá trẻ. Người duy nhất là đối thủ cạnh tranh với ông, Pierre Fournier thì bị chứng bại liệt nhẹ từ nhỏ nên rất hạn chế trong việc di chuyển. Serge Koussevitzky đã ca ngợi ông “là nghệ sĩ cello vĩ đại nhất của thời đại chúng ta”. Piatigorsky vẫn giữ niềm đam mê hoà tấu thính phòng cho đến cuối đời. Ông đã tạo nên những nhóm tam tấu tuyệt vời cùng Vladimir Horowitz và Nathan Milstein và sau đó là Arthur Rubinstein cùng Jascha Heifetz. Thỉnh thoảng nghệ sĩ viola William Primrose cũng gia nhập cùng họ để tạo thành một nhóm tứ tấu. Piatigorsky cũng bắt đầu công việc giảng dạy của mình tại khi đảm nhiệm chức trưởng khoa cello tại Curtis Institute of Music, Philadelphia từ năm 1941. Năm 1949, ông quyết định chuyển đến sinh sống tại Los Angeles và giảm dần các buổi biểu diễn của mình, tập trung hơn vào công tác dạy học tại Đại học Nam California. Ông giải thích: “Tôi đã mang chiếc đàn cello lớn của mình từ thành phố này sang thành phố khác. Tôi chưa bao giờ từ chối một cuộc phỏng vấn, ngay cả với một tờ báo của trường học. Tôi đã tiếp xúc với tất cả mọi người muốn gặp tôi sau một buổi biểu diễn. Trong một khoảng thời gian, tôi có thể dừng lại.”

Chính sự cắt giảm số buổi biểu diễn này đã khiến cho mỗi lần ông xuất hiện là một sự kiện. Khán giả càng đón nhận chúng một cách nồng nhiệt hơn. Với vóc dáng cao lớn (1m90), cây đàn cello trở nên nhỏ bé trong tay ông, tạo nên một ấn tượng thị giác rằng nó ngoan ngoãn và như một thứ đồ chơi. Cánh tay dài giúp Piatigorsky chuyển động vĩ một cách dễ dàng hơn, tạo nên những đường nét chạm trổ tinh xảo, những dải nốt legato liền mạch, mượt mà. Chất lượng những nốt staccato của ông, dù lên cao hay xuống thấp cũng hầu như khiến toàn bộ khán giả phải sửng sốt. Kỹ năng rung của Piatigorsky cũng thật đặc biệt, ông thường tạo ra những nốt rung nhanh, liên tục, được giải thích từ chính vóc dáng cao lớn của mình. Tốc độ và phạm vi hẹp của nó được hiện hữu bởi vì ông khó sử dụng toàn bộ cánh tay để định hình nên âm điệu mà chỉ rung bằng cổ tay. Điều này không phải lúc nào cũng phù hợp với sở thích của mọi người. Với Piatigorsky, ông quan tâm nhiều hơn đến việc truyền tải ý nghĩa cảm xúc của nhà soạn nhạc hơn là độ chính xác của từng nốt nhạc. Và dù rằng đã có sự cởi mở hơn trong giai đoạn sau này nhưng về tổng thể, ông vẫn là một người bảo thủ với những truyền thống cũ kỹ của thời kỳ Lãng mạn và trước đó. Piatigorsky cũng sáng tác một số tác phẩm dành cho cello. Trong đó nổi tiếng nhất là Các biến tấu dựa trên chủ đề của Paganini (Caprice số 24) được sáng tác vào năm 1946. Tác phẩm này gồm 15 biến tấu, được Denis Brott học trò và trợ lý của Piatigorsky giải thích là minh hoạ chân dung của 15 nghệ sĩ và của chính Piatigorsky. Một trong những niềm đam mê khác của Piatigorsky ngoài âm nhạc là chơi cờ vua, một sự ảnh hưởng từ người vợ Jacqueline. Ông đã sử dụng tiền cá nhân của mình để thành lập giải cờ vua quốc tế Piatigorsky vào năm 1957. Sau đó giải còn được tổ chức hai lần nữa vào năm 1963 và 1966.

Mỗi khi miêu tả các buổi hoà nhạc của mình, Piatigorsky nói rằng thứ thiết yếu nhất đối với ông trong sự nghiệp là “Câu lạc bộ âm nhạc buổi sáng thứ Ba”, ngụ ý rất nhiều buổi trong số đó là các chương trình sự kiện cộng đồng tại địa phương. Ông thường di chuyển từ thành phố này qua thành phố khác bằng tàu hoả và dừng lại biểu diễn tại các thị trấn dọc theo tuyến đường đó. Ngày 15/1/1957, dưới sự chỉ huy của Charles Munch và Boston Symphony Orchestra, Piatigorsky đã biểu diễn bản concerto cello của William Walton, được nhà soạn nhạc dành tặng cho ông. Trong quá trình sáng tác, Piatigorsky đã có những đóng góp quý báu cho phần cello độc tấu. Năm 1962, lần đầu tiên sau rất nhiều năm, ông trở lại Liên Xô với tư cách là giám khảo cho cuộc thi quốc tế mang tên Tchaikovsky. Năm 1973, Piatigorsky kỷ niệm sinh nhật lần thú 70 của mình bằng một chương trình tại Alice Tully Hall, New York, Harold Schonberg đã nhận xét: “Piatigorsky vẫn luôn có phong cách biểu diễn rất Nga và lãng mạn. Ông vẫn như vậy, trái tim luôn trẻ trung cho dù cánh tay cầm vĩ đôi khi đã chùn lại. Bất kể ông ấy chơi cái gì, tất cả đều có xu hướng giống nhau: với những đường nét lớn, âm điệu lớn, những câu nhạc tình cảm, các biểu cảm đa dạng luôn được thế hệ trước yêu thích”. Buổi biểu diễn cuối cùng của Piatigorsky trước công chúng là vào đêm khai trương Robin Hood Dell, ngôi nhà mùa hè của Philadelphia Orchestra ngày 14/6/1976. Dưới sự chỉ huy của Eugene Ormandy và Philadelphia Orchestra, Piatigorsky và Isaac Stern đã trình diễn “Double” concerto của Johannes Brahms. Ông qua đời ngày 6/8/1976 tại nhà riêng ở Los Angeles vì ung thư phổi ở tuổi 73 và được chôn cất tại nghĩa trang Westwood Village Memorial Park. Một ngày trước đó, Piatigorsky vẫn cần mẫn với công việc dạy học của mình.

“Grisha”, như bạn bè thân thiết vẫn thường gọi, đã đóng vai trò quan trọng trong việc đưa cello thành một nhạc cụ độc tấu. Vào thời của ông, cello hiếm khi được biểu diễn trong suốt một chương trình. Ông đã phát triển và mở rộng kỹ thuật của cello, khiến nó trở nên biểu cảm và phổ biến như violin. Piatigorsky cũng đã chuyển soạn, sáng tác và đặt hàng nhiều tác phẩm cho cello, làm tăng danh mục biểu diễn của nhạc cụ này. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là thể hiện vẻ đẹp và sự cao quý của cello trên toàn thế giới. Piatigorsky qua đời, để lại hai cây đàn cello Stradivarius “Baudiot” năm 1725 và “Batta” năm 1714, được ông miêu tả “nguồn tài nguyên vô tận của nó đã thôi thúc tôi cố gắng đạt đến sự tận cùng của nhạc cụ và tôi chưa bao giờ làm việc chăm chỉ hơn hay mong muốn điều gì nhiệt thành hơn là rút ra từ cây đàn tuyệt vời này tất cả những gì nó phải cung cấp”.

Ngọc Tú tổng hợp

Nguồn:
belcanto.ru
nytimes.com
washingtonpost.com
piatigorskyfoundation.org