“Tôi không muốn làm điều gì quá sang trọng cả – tôi chỉ muốn có ý tưởng trước khi bắt đầu một tác phẩm.” – Georges Bizet
Cũng được coi là thần đồng âm nhạc như Wolfgang Amadeus Mozart hay Felix Mendelssohn nhưng Georges Bizet không có một sự nghiệp thành công và dành được nhiều sự kính trọng như hai bậc tiền bối. Trong suốt cuộc đời mình, ông gặp phải rất nhiều thất bại. Không có nhiều tác phẩm của Bizet được giới phê bình và khán giả đón nhận. Dẫu vậy nhưng nhà soạn nhạc vẫn có niềm tin vững chắc vào các sáng tác của mình. Dồn hết tâm huyết vào Carmen, Bizet mong muốn rằng vở opera này sẽ chiếm được cảm tình của mọi người. Tuy nhiên, như một định mệnh đau buồn, những gì ông nhận lại chỉ là lời chê bai và sự hờ hững. Vốn bị những cơn đau họng nghiêm trọng hành hạ từ trước, cộng thêm cái chết của đứa con tinh thần mà ông yêu quý và kỳ vọng nhất, Bizet qua đời rất sớm, khi chỉ mới 37 tuổi với nhiều tiếc nuối và u uất. Tài năng của ông đã vượt khỏi thời đại. Carmen không được đón nhận bởi vẻ đẹp và sự cách tân của tác phẩm là quá xa lạ với nhận thức của khán giả thời điểm đó. Ngày nay, Carmen được ca ngợi như một kiệt tác và nằm trong số những vở opera giàu sức hấp dẫn và thường xuyên xuất hiện nhất trên các sân khấu danh giá. Cùng với đó, các tác phẩm khác của Bizet cũng được đánh giá lại một cách kỹ lưỡng và công bằng hơn. Qua đó, chúng ta hiểu được một điều rằng ông là một nhà soạn nhạc vĩ đại!
Alexandre César Léopold Bizet sinh ra tại Paris vào ngày 25/10/1838. Georges là cái tên được đặt cho cậu bé sau khi rửa tội vào ngày 16/3/1840, được nhà soạn nhạc sử dụng cho đến cuối đời. Adolphe, cha cậu, từng là một thợ cắt tóc nhưng kiếm sống bằng cách dạy hát dù không được đào tạo chính quy. Adolphe cũng sáng tác một số ca khúc. Năm 1837, Adolphe cưới với Aimée Delsarte, một nghệ sĩ piano tài năng. François, anh trai của Aimée và vợ ông, Rosine, đều là những tài năng âm nhạc nổi tiếng tại Paris. Có thể nói, Georges sinh ra trong một gia đình nghệ thuật. Là con một, Georges bộc lộ năng khiếu âm nhạc ngay từ nhỏ. Lắng nghe cha dạy học, cậu ngay lập tức có thể hát được những bài hát khó. Và khi được mẹ hướng dẫn nhưng bài tập piano đầu tiên, Georges đã có thể phân tích và phát triển nhiều cấu trúc âm nhạc phức tạp. Sự phát triển sớm này đã thuyết phục ông bà Bizet cho con trai mình theo học nghiêm túc tại Nhạc viện Paris. Joseph Meifred, giáo sư bộ môn horn tại nhạc viện, thành viên của Ủy ban Giám khảo đã phỏng vấn Georges. Meifred ấn tượng sâu sắc trước việc Bizet biểu diễn thành thạo các sonata piano của Mozart đến mức ông đã bỏ qua quy định về độ tuổi. Lúc này Georges mới chín tuổi và độ tuổi sàn được nhạc viện chấp nhận là mười. Ông hứa sẽ nhận cậu ngay khi có chỗ trống.
Ngày 9/10/1848, hai tuần trước sinh nhật lần thứ mười, Bizet bắt đầu theo học tại Nhạc viện Paris. Chỉ sáu tháng sau, cậu đã giành giải nhất trong cuộc thi xướng âm. Điều này đã gây ấn tượng mạnh mẽ với Pierre-Joseph-Guillaume Zimmerman, một trong những giảng viên piano xuất sắc nhất nước Pháp thời điểm đó. Zimmerman đã nhận Bizet làm học trò và dạy cậu fugue và đối âm cho đến khi ông qua đời vào năm 1853. Thông qua ông, Bizet đã được làm quen với Charles Gounod, con rể của Zimmerman. Mặc dù quan hệ giữa hai người không phải lúc nào cũng tốt đẹp nhưng Gounod chính là người có ảnh hưởng lớn nhất đến phong cách âm nhạc thời kỳ đầu của Bizet. Tại đây, Bizet có một tình bạn rất đẹp với một học sinh khác, lớn hơn cậu ba tuổi, người sau này cũng trở thành một nhà soạn nhạc rất nổi tiếng. Đó chính là Camille Saint-Saëns. Dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo sư piano Antoine François Marmontel, tài năng của Bizet phát triển nhanh chóng. Năm 1850, cậu giành giải nhì về piano và một năm sau là giải nhất. Sau này, Bizet viết thư cho Marmontel: “Trong lớp học của thầy, con học được một thứ ngoài piano, đó là trở thành nhà soạn nhạc”. Bizet cũng bắt đầu sáng tác. Những gì lưu giữ được là hai bài hát không lời dành cho soprano, được cho là ra đời vào khoảng năm 1850.
Năm 1853, Bizet bắt đầu học sáng tác một cách chính thức trong lớp học của Fromental Halévy. Từ đó, các tác phẩm của anh ngày càng tinh tế và có chất lượng tốt hơn. Năm 1854, hai bài hát Petite Marguerite (Marguerite bé nhỏ) và La Rose et l’abeille (Hoa hồng và con ong) của anh được xuất bản. Một năm sau, Bizet thử sức với một tác phẩm có quy mô lớn hơn. Anh hoàn thành Première Ouverture (Overture đầu tiên) và chuyển soạn Giao hưởng số 1 của Gounod sang cho piano bốn tay. Tác phẩm này đã truyền cảm hứng rất nhiều cho Bizet. Trước sinh nhật lần thứ 17, anh đã hoàn thành bản giao hưởng của riêng mình. Tuy nhiên, anh không hề có một động thái nào trong việc xuất bản hoặc biểu diễn nó. Nhiều nhà nghiên cứu âm nhạc cho rằng có lẽ sự tương đồng về cấu trúc và sắc thái giữa hai bản giao hưởng khiến Bizet không muốn công bố tác phẩm của mình. Phải đến 80 năm sau, bản giao hưởng của Bizet mới được phát hiện và biểu diễn. Và hầu hết mọi người đều có chung nhận định, chất lượng của nó vượt xa cả hai bản giao hưởng Gounod. Ngày nay, trong khi bản giao hưởng của Bizet thường xuyên được biểu diễn và chinh phục khán giả nhờ vẻ đẹp tươi sáng, du dương cũng như nhiều đường nét u buồn tinh tế và đầy quyến rũ thì các tác phẩm cùng thể loại của Gounod dường như đã chìm vào quên lãng.
Năm 1856, Bizet thất bại trong việc giành giải thưởng Prix de Rome danh giá. Trên thực tế, năm đó không thí sinh nào thành công. Sau đó, Bizet tham gia một cuộc thi khác, được Jacques Offenbach tổ chức cho các nhà soạn nhạc opera trẻ, giải thưởng là 1.200 franc. Nhiệm vụ của các thí sinh là phổ nhạc trên kịch bản Le docteur Miracle (Bác sĩ Kỳ diệu) được Léon Battu and Ludovic Halévy viết sẵn. Bizet và Charles Lecocq đã chia sẻ giải nhất. Nhờ thành công này, Bizet trở thành vị khách quen thuộc trong các bữa tiệc được Offenbach tổ chức đều đặn vào các tối thứ Sáu. Tại đây, Bizet đã được kết giao với Gioachino Rosini. Bizet rất ngưỡng mộ ông, ca ngợi: “Rossini là người vĩ đại nhất trong số họ, bởi vì giống như Mozart, ông hội tụ mọi phẩm chất ưu tú”. Năm 1857, trong lần thử sức thứ hai, Bizet đã giành được giải thưởng Prix de Rome bằng bản cantata Clovis et Clotilde (Clovis và Clotilde). Theo điều khoản, anh sẽ giành được học bổng cho hai năm học tại Rome, năm sau ở Đức và hai năm cuối tại Paris. Trước khi Bizet lên đường vào tháng 12/1857, Clovis et Clotilde đã được trình diễn và được đón nhận nồng nhiệt.
Ngày 27/1/1858, Bizet đặt chân đến Thành phố Vĩnh hằng và đến ở trong Villa Medici, một biệt thự được xây từ năm 1603, lúc này là trụ sở của Viện Pháp tại Rome, được ông miêu tả là “thiên đường”. Bizet vô cùng thích thú với bầu không khí vui vẻ, lễ hội tại nơi đây và nhanh chóng hoà mình vào các buổi tụ họp xã hội. Trong vòng sáu tháng, ông chỉ sáng tác duy nhất một bản nhạc. Đó là bản Te Deum, viết để tranh giải Rodrigues, cuộc thi dành cho những người chiến thắng Prix de Rome, với yêu cầu là một tác phẩm tôn giáo. Ngoài ông chỉ còn một thí sinh khác là Adrien Barthe nhưng Bizet đã thất bại. Chán nản, ông thề sẽ không bao giờ sáng tác âm nhạc tôn giáo nữa. Số phận của Te Deum cũng giống như bản giao hưởng của ông, bị lãng quên rất lâu và chỉ được phát hiện vào năm 1971. Yêu cầu của Prix de Rome là mỗi năm người giành giải phải sáng tác một envoi (tác phẩm gốc được nộp định kỳ). Trên thực tế, còn một điều khoản nữa là tác phẩm phải là bản mass (thánh lễ) nhưng quá chán nản sau Te Deum, trong suốt mùa đồng 1858-1869, Bizet tập trung vào vở opera buffa Don Procopio, dựa trên kịch bản của Carlo Cambiaggio. Phản ứng của Học viện Pháp quốc đối với Don Procopio ban đầu khá tích cực, với lời khen ngợi dành cho “nét chấm phá nhẹ nhàng và rực rỡ” cũng như “phong cách trẻ trung và táo bạo” của nhà soạn nhạc. Tuy nhiên, sau đó, Học viện ban hành một văn bản khác, do Ambroise Thomas ký đã phê bình Bizet, đề nghị ông tập trung sự chú ý vào âm nhạc tôn giáo.
Đối với envoi thứ hai, không muốn thử thách quá mức sự khoan dung của Học viện, Bizet dự định nộp một tác phẩm gần với thể loại tôn giáo: bản thánh lễ thế tục dựa trên văn bản của Horace. Tác phẩm có tựa đề Carmen Saeculare, được hình dung như một bài ca tôn vinh thần Apollo và nữ thần Diana. Tuy nhiên, không hề phát hiện ra một bằng chứng nào cho thấy Bizet đã thực sự sáng tác nó. Có lẽ đây chỉ là dự định của nhà soạn nhạc. Xu hướng hình thành những dự án tham vọng rồi nhanh chóng từ bỏ chúng đã trở thành đặc điểm trong những năm Bizet sống tại Rome. Xấp xỉ 10 tác phẩm phải chịu số phận tương tự như Carmen Saeculare. Cuối cùng, envoi thứ hai là bản thơ giao hưởng dành cho hợp xướng và dàn nhạc Vasco da Gama, được Học viện rất tán thưởng nhưng cũng nhanh chóng bị lãng quên sau đó. Bizet đã đi du lịch nhiều nơi tại Ý và thể hiện niềm phấn khích và nhiệt huyết của mình qua nhiều bức thư gửi về cho Marmontel. Ông bắt đầu phác thảo một bản giao hưởng mới, dựa trên những trải nghiệm này. Nhưng phải đến năm 1868, Bizet mới hoàn thành Rome. Ông yêu nước Ý đến mức đã thành công trong việc thuyết phục Viện Pháp kéo dài thời gian ở lại đây thêm một năm, thay vì đến Đức. Tuy nhiên, tháng 9/1860, nhận được mẹ ông ốm nặng, Bizet trở về Paris.
Với hai năm học bổng còn lại, ở Paris, Bizet tạm thời an toàn về mặt tài chính và có thể bỏ qua những khó khăn mà những người đồng nghiệp gặp phải. Các nhà hát opera tại đây vẫn giữ thói quen dè dặt với các tác phẩm mới và ưu tiên những nhà soạn nhạc kỳ cựu. Ngày 13/3/1861, Bizet tham dự buổi ra mắt Tannhäuser (Richard Wagner) tại Paris. Vốn không hề tỏ ra yêu thích trước đây nhưng sau chương trình, Bizet đã xem xét lại quan điểm của mình. Giờ đây ông tuyên bố “Wagner vượt trội hơn tất cả các nhà soạn nhạc còn sống”. Từ đó cho đến cuối đời, Bizet luôn bị cáo buộc là người đi theo “chủ nghĩa Wagner”. Thật đáng ngạc nhiên khi Bizet sở hữu tài năng chơi piano bậc thầy nhưng ông lại rất hiếm khi bộc lộ và tìm cách che giấu tài năng của mình. Và vào tháng 5/1861, khán giả Paris ngỡ ngàng khi chứng kiến một điều kỳ diệu. Trong một bữa tiệc tối do Franz Liszt tổ chức, Bizet tham dự đã thị tấu một tác phẩm mới của Liszt. Liszt thán phục: “Tôi từng nghĩ chỉ hai người có thể vượt qua những khó khăn này… nhưng thực ra là ba, và người trẻ nhất có lẽ là táo bạo và rực rỡ nhất”. Envoi thứ ba bị trì hoãn gần một năm do bệnh tật và sự qua đời của mẹ ông vào tháng 9/1861. Cuối cùng Bizet cũng nộp một bộ ba tác phẩm dành cho dàn nhạc: overture La Chasse d’Ossian (Cuộc đi săn của Ossian), scherzo và hành khúc tang lễ. Envoi cuối cùng của nhà soạn nhạc là vở opera một màn La guzla de l’émir (Cây đàn guzla của tiểu vương). Vốn dĩ tác phẩm này sẽ được biểu diễn Opéra-Comique vì theo quy định nhà hát này nhận tiền trợ cấp từ nhà nước nên phải có trách nhiệm dàn dựng một số vở opera từ những nhà soạn nhạc giành giải Prix de Rome. Tuy nhiên, trong quá trình tập luyện của La guzla de l’émir, Bizet nhận được đơn đặt hàng từ Bá tước Walewski, người con không được thừa nhận của Napoleon về một vở opera mới, với điều kiện đây sẽ là vở opera đầu tiên của nhà soạn nhạc được công diễn. Vì vậy, Bizet đã vội rút La guzla de l’émir khỏi quá trình dàn dựng và tập trung vào Les pêcheurs de perles (Những người mò ngọc trai), dựa trên một kịch bản của Michel Carré và Eugène Cormon. Ngày 30/9/1863, Les pêcheurs de perles được công diễn tại Théâtre Lyrique. Tuy nhiên, tác phẩm không được đón nhận, chỉ được xuất hiện 18 lần sau đó biến mất. Người duy nhất tỏ ra hài lòng là Hector Berlioz, ông bình luận: “tác phẩm đã mang lại cho Bizet vinh dự lớn nhất”. Les pêcheurs de perles chỉ được biểu diễn trở lại vào năm 1886.
Khi các khoản tài trợ từ Prix de Rome hết hạn, Bizet nhận ra rằng ông không thể kiếm sống bằng nghề soạn nhạc. Bizet nhận dạy piano và sáng tác cho một số học sinh. Ngoài ra, ông cũng trở thành người đệm piano và vỡ bài cho các nghệ sĩ opera và dàn hợp xướng, bao gồm cả L’enfance du Christ (Berlioz) và Mireille (Gounod). Mặc dù vậy, công việc đem lại nguồn thu nhập lớn nhất cho Bizet là chuyển soạn các tác phẩm của những nhà soạn nhạc khác. Đã có hàng trăm bản nhạc như vậy được Bizet thực hiện, từ opera, giao hưởng cho piano hoặc piano cho dàn nhạc. Nói chung, ông thực hiện tất cả. Đây là giai đoạn vất vả nhất của nhà soạn nhạc, đã có những thời điểm Bizet làm việc lên đến 16 tiếng/ngày. Bên cạnh đó, ông cũng từng trở thành nhà phê bình âm nhạc cho La Revue Nationale et Étrangère (Tạp chí trong nước và quốc tế) dưới bút danh Gaston de Betzi. Tuy nhiên, sau một bài báo duy nhất, Bizet đã cãi nhau với chủ bút và nghỉ việc. Dưới sự đề nghị của Léon Carvalho, giám đốc Théâtre Lyrique. Bizet đã sáng tác vở opera Ivan IV, dựa trên cuộc đời của Ivan Bạo chúa. Tuy nhiên, Carvalho đã từ chối dàn dựng. Sau đó, một hợp đồng khác đã được hai người ký kết. Tháng 7/1866, Bizet tập trung làm việc với dự án mới, vở opera La jolie fille de Perth (Thiếu nữ xinh đẹp thành Perth), dựa trên tác phẩm cùng tên của Walter Scott. Ông hoàn thành vào tháng 12/1866. Kịch bản do Jules-Henri Vernoy de Saint-Georges viết bị Winton Dean, nhà nghiên cứu tiểu sử Bizet chê bai: “vở tệ nhất mà Bizet từng bị yêu cầu phổ nhạc”. Vì nhiều lý do khác nhau, phải đến ngày 26/12/1867, La jolie fille de Perth mới được công diễn tại Théâtre Lyrique. Đây chính là tác phẩm được báo chí đón nhận nhiệt tình nhất của Bizet. Le Ménestral ca ngợi màn thứ hai là “một kiệt tác từ đầu đến cuối”. Tuy nhiên, vì những khó khăn tài chính của Carvalho, tác phẩm chỉ được biểu diễn 18 buổi. Vào ngày 28/2/1869, bản giao hưởng Roma được trình diễn tại Paris sau nhiều năm không được hoàn thành. Bizet tuyên bố, dựa trên tỷ lệ những tràng pháo tay, tiếng la ó và huýt sáo chế giễu, tác phẩm đã thành công.
Ngày 3/6/1869, Bizet kết hôn với Geneviève, con gái của Halévy. Cuộc hôn nhân của Bizet ban đầu rất hạnh phúc, nhưng bị ảnh hưởng vì sự bất ổn về thần kinh của Geneviève và sự can thiệp của mẹ vợ vào cuộc sống của họ. Ông phác thảo những ý tưởng đầu tiên cho hai vở opera mới nhưng đều phải bỏ dở vì sự bùng nổ của cuộc chiến tranh Pháp-Phổ. Tháng 9/1869, khi quân Phổ bao vây Paris, Bizet kiên quyết không chạy trốn: “Tôi không thể rời Paris! Điều đó là không thể! Đó đơn giản là một hành động hèn nhát”. Cuộc sống trở nên khắc nghiệt hơn nhưng chỉ sau đó ít lâu, các buổi hoà nhạc đã trở lại. Hiệp định đình chiến được ký kết vào ngày 26/1/1871 nhưng việc thành lập Công xã Paris đã khiến tình hình nơi đây trở nên bất ổn. Bizet và vợ đã phải tản cư đến Le Vésinet, miền trung nước Pháp trong hai tháng. Tháng 6/1871, khi mọi việc trở lại bình thường, Bizet dự kiến sẽ được bổ nhiệm làm người phụ trách dàn hợp xướng của Opéra de Paris từ tháng 10. Tuy nhiên, cuối cùng ông đã từ chối. Nhiều người lý giải rằng giữa ông và ban giám đốc có khúc mắc trong việc lên chương trình biểu diễn cho nhà hát. Bizet trở lại với những dự án bị gián đoạn do chiến tranh nhưng cuối cùng vẫn bỏ dở. Các tác phẩm được ông hoàn thành trong thời gian này là Jeux d’enfants (Trò chơi trẻ em) gồm 12 tiểu phẩm dành cho piano 4 tay (trong đó sáu tiểu phẩm được Bizet chuyển soạn cho dàn nhạc) và vở opera một màn Djamileh. Đây cũng lại là một thất bại nữa của Bizet, buổi ra mắt tại Opéra-Comique vào tháng 5/1872 là một thất bại vì sự tệ hại của các ca sĩ. Tác phẩm sau đó cũng bị lãng quên và chỉ được xuất hiện trở lại vào năm 1938.
Ngày 10/7/1872, Geneviève sinh Jacques, đứa con duy nhất của họ. Tuy nhiên, trên thực tế, vào năm 1862, Bizet đã có một đứa con trai khác, Jean, với Marie Reiter, người quản gia của gia đình ông. Cậu bé lớn lên với nhận thức rằng ông Adolph mới là cha mình. Chỉ đến khi Marie sắp qua đời vào năm 1913, chân tướng câu chuyện mới được xác thực. Carvalho, lúc này là giám đốc của nhà hát Vaudeville đã đặt hàng Bizet sáng tác âm nhạc dành cho vở kịch L’Arlésienne (Cô nàng tỉnh Arles) của Alphonse Daudet. Ông đã hoàn thành 27 tiết mục, một nửa trong số đó khá ngắn gọn. Buổi ra mắt diễn ra vào ngày 30/9/1872, và như đã trở thành thông lệ, lại một lần nữa thất bại. Khán giả không tỏ ra thiện cảm và L’Arlésienne chỉ tồn tại trong 12 buổi. Daudet cay đắng thốt lên: “Đó là một thất bại vang dội giữa những giai điệu đẹp nhất thế giới, những bộ trang phục bằng lụa và nhung, và phong cảnh kiểu hài kịch. Tôi rời khỏi đó trong sự nản lòng, vẫn còn văng vẳng tiếng cười ngớ ngẩn do những cảnh xúc động gây ra”. Dưới sự động viên của Ernest Reyer và Jules Massenet, Bizet đã tạo ra một tổ khúc gồm 4 chương từ phần âm nhạc này. Trong buổi công diễn vào ngày 10/12/1872, nó đã được đón nhận nhiệt liệt. Tổ khúc này trở nên phổ biến đến mức nhà xuất bản Choudens đã đặt hàng một tổ khúc thứ hai, bốn năm sau khi Bizet qua đời. Ernest Guiraud, một người bạn của nhà soạn nhạc đã phối khí lại một số đoạn, thêm vào phần Minuet (trích từ Những cảnh đời du mục, một tổ khúc âm nhạc được Bizet soạn lại từ opera La jolie fille de Perth) để tạo thành tổ khúc L’Arlésienne số 2. Cả hai tổ khúc này đều rất nổi tiếng và ngày nay thường xuyên được biểu diễn, đặc biệt là phần Farandole. Guiraud cũng chính là người biên soạn hai tổ khúc Carmen của Bizet sau này. Vào mùa đông 1872-73, Bizet nối lại mối quan hệ với Gounod sau khi rạn nứt nhiều năm bằng việc giám sát quá trình luyện tập Roméo et Juliette của Gounod tại Opéra-Comique: “Anh chính là điểm khởi đầu cho con đường nghệ thuật của tôi. Tôi xuất phát từ anh. Anh là nguyên nhân, còn tôi là hệ quả”.
Tháng 6/1872, Bizet nhận lời viết cho Opéra-Comique một vở opera ba màn với kịch bản của Henri Meilhac và Ludovic Halévy. Bizet rất vui mừng với dự án này. Ông đã tâm sự với người bạn Edmund Galabert về sự hài lòng của mình “chắc chắn tuyệt đối của việc tìm thấy con đường của tôi”. Chủ đề được chọn cho dự án này là truyện ngắn Carmen của Prosper Mérimée do chính Bizet đề xuất. Ông bắt đầu sáng tác từ đầu năm 1873 nhưng phải dừng lại một khoảng thời gian vì nhiều lý do, trong đó có việc Opéra-Comique bị thiêu rụi. Phải đến mùa hè năm 1874, Bizet mới hoàn thành vở opera và tỏ ra rất hài lòng với công việc của mình: “Tôi đã viết nên một tác phẩm tràn đầy sự trong sáng và sinh động, vô vàn màu sắc và giai điệu”. Vai nữ chính được dành cho mezzo-soprano cho thấy ảnh hưởng từ các nhân vật Azucena, Eboli và Amneris trong opera của Giuseppe Verdi. Tháng 10/1874, Opéra-Comique bắt đầu luyện tập và những rắc rối bắt đầu nảy sinh. Dàn nhạc than phiền rằng nhiều phần phức tạp, không thể chơi được. Dàn hợp xướng cũng như vậy, than vãn rằng quá khó hát và thất vọng khi phải tham gia vào cả việc diễn xuất, hút thuốc, đánh lộn nhau thay vì chỉ đứng yên như những vở opera khác. Chỉ có các ca sĩ chính, đứng đầu là mezzo-soprano Célestine Galli-Marié là đứng về phía Bizet. Opéra-Comique cũng dự kiến cắt bớt và chỉnh sửa một số phần mà họ cho là không phù hợp. Chỉ đến khi các ca sĩ chính đe doạ rút khỏi buổi biểu diễn thì họ mới nhượng bộ.
Và cuối cùng, ngày 3/3/1875, Carmen đã được công diễn. Những nhân vật âm nhạc hàng đầu Paris đều có mặt như Massenet, Saint-Saëns và Gounod. Phần lớn các bài báo sau đó nhận xét đều mang tính tiêu cực, thể hiện sự sửng sốt trước việc nữ chính lại là một kẻ quyến rũ vô đạo đức thay vì một người phụ nữ đức hạnh. Màn trình diễn của Galli-Marié miêu tả là “hiện thân đích thực của sự truỵ lạc”. Bizet buồn bã: “Tôi thấy trước một thất bại rõ ràng và vô vọng”. Bizet chỉ nhận lại được một vài lời động viên ít ỏi, trong đó có Massenet: “Bạn phải hạnh phúc biết bao vào lúc này – đó là một thành công lớn!”. Nhà thơ Théodore de Banville thì hoan nghênh Bizet đã mang đến một vở opera với những con người thật sự thay vì những con rối quen thuộc của Opéra-Comique. Nhưng như thế vẫn là quá ít ỏi. Bizet thực sự suy sụp. Là một người nghiện thuốc lá nặng, ông liên tục bị đau họng. Chán nản vì thất bại với Carmen, ông không hồi phục được và ốm nặng vào cuối tháng 5/1875. Cuối tháng, Bizet đi nghỉ ở Bougival, ngoại ô Paris và cảm thấy khoẻ hơn chút đỉnh. Tuy nhiên, ngày 1/6, Bizet sốt cao và lên một cơn đau tim và ra đi vào 3/6, đúng vào kỉ niệm ngày cưới của ông. Lúc này Bizet mới 36 tuổi. Tin tức về sự qua đời của ông đã gây chấn động giới âm nhạc Paris và đám tang Bizet hai ngày sau đó tại nhà thờ Église de la Sainte-Trinité có khoảng 4.000 người tham dự. Dàn nhạc chơi những tác phẩm của ông. Di hài ông được chôn cất tại nghĩa trang Père Lachaise. Gounod không thể hoàn thành việc đọc điếu văn vì quá đau buồn. Một buổi biểu diễn đặc biệt Carmen được tổ chức tại Opéra-Comique vào đêm hôm đó. Báo chí Paris, những kẻ đã lên án tác phẩm này đến toàn thế giới ba tháng trước giờ đây tuyên bố Bizet là một bậc thầy.
Sau khi Bizet qua đời, nhiều bản thảo của ông đã bị thất lạc. Một số tác phẩm đã được những người khác sửa đổi và xuất bản trong nhiều phiên bản khác nhau, dẫn đến việc hậu thế khó xác định được đâu là Bizet đích thực. Ngay cả Carmen cũng chịu chung số phận. Thế giới âm nhạc không ngay lập tức thừa nhận Bizet là một bậc thầy. Ngoài Carmen và hai tổ khúc L’Arlésienne, rất ít tác phẩm của ông được trình diễn trong những năm ngay sau khi ông qua đời. Ngày nay, khi quá khứ đã lùi xa, giới phê bình, khán giả, những nghệ sĩ biểu diễn có đủ khoảng lặng cần thiết để đánh giá lại tất cả, đã có nhận định khác xa những gì mà Bizet phải gánh chịu. Bản giao hưởng Đô trưởng được ông sáng tác khi mới 17 tuổi được so sánh với các tác phẩm cùng thể loại của Mozart và Franz Schubert. Dean đánh giá: “Bản giao hưởng này ít có đối thủ và có lẽ không có tác phẩm nào vượt qua được trong toàn bộ sự nghiệp của bất kỳ nhà soạn nhạc cùng độ tuổi nào”. Nhà nghiên cứu âm nhạc Hugh Macdonald thì nhận xét rằng các sáng tác cho dàn nhạc hay nhất của Bizet đến từ Petite Suite (tổ khúc gồm 5 tiểu phẩm được ông phổ nhạc từ Jeux d’enfants) và tổ khúc L’Arlésienne. Theo Macdonald, trong các bản nhạc này, Bizet thể hiện một sự trưởng thành trong phong cách mà nếu ông sống lâu hơn có thể đã trở thành nền tảng cho những bản giao hưởng vĩ đại trong tương lai. Nhiều vở opera của Bizet cũng đã đã được dàn dựng và thu âm rất nhiều, trong đó đáng chú ý là La jolie fille de Perth và Les pêcheurs de perles, được Dean đánh giá là “vượt xa trình độ của opera Pháp đương đại”. Những thất bại trước đây khi Bizet còn sống được nhận định là do ông rời xa các quy ước âm nhạc được chấp nhận của opera Pháp dẫn đến sự thù địch của giới phê bình.
Còn Carmen, tác phẩm vĩ đại nhất của nhà soạn nhạc, sau 45 buổi ảm đạm tại Paris, đã hồi sinh rực rỡ bằng những lần ra mắt tại Vienna (1875) và London (1878). Carmen đã bộc lộ sự kịch tính tối đa, tràn đầy sức sống và vẻ đẹp phi thường của các giai điệu. Những người ủng hộ tác phẩm ngay từ ngày đầu thưởng thức có Johannes Brahms, Pyotr Tchaikovsky và đặc biệt thú vị là Richard Wagner, người bình luận: “Đây rồi, tạ ơn Chúa, cuối cùng cũng có một người mang theo những ý tưởng thật sự”! Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Carmen mới là hiện thân đầu tiên của trường phái opera verismo (chân thực), trong đó các đề tài tăm tối và bạo liệt được nhấn mạnh, với nghệ thuật phản ánh cuộc sống “không phải cuộc sống lý tưởng mà là cuộc sống thực tế, đúng với bản chất”. Đã có nhiều nhà soạn nhạc sáng tác những tác phẩm phái sinh từ Carmen như Pablo de Sarasate, Franz Waxman hay Rodion Shchedrin. Nhà phê bình âm nhạc Harold C. Schonberg suy đoán rằng, nếu Bizet sống lâu hơn, ông có thể đã cách mạng hóa opera Pháp. Còn Macdonald viết rằng di sản của Bizet bị giới hạn vì tuổi đời quá ngắn và còn do những khởi đầu dang dở cùng sự thiếu tập trung kéo dài cho đến năm năm cuối đời: “Viễn cảnh những kiệt tác không bao giờ được viết ra, vì Bizet mải lo những việc khác, vì không ai đặt hàng ông sáng tác, hoặc vì ông qua đời quá sớm – thật sự khiến chúng ta chán nản. Tuy vậy, sự rực rỡ và tính cá nhân độc đáo trong những tác phẩm hay nhất của ông là điều không thể phủ nhận. Chúng đã làm giàu thêm cho một giai đoạn của âm nhạc Pháp vốn đã phong phú với những nhà soạn nhạc tài năng và xuất chúng”.
Cobeo







