CHƯƠNG XII – CÁC NHÀ HÁT Ở Ý
Các buổi biểu diễn Vua Lahore tại Nhà hát Opéra nối tiếp nhau rất liên tục và rất suôn sẻ. Ít nhất thì đó là những gì tôi nghe kể bởi tôi đã không đến nhà hát thêm nữa.
Tôi đã ngay lập tức rời Paris, nơi như đã nói, tôi dành thời gian để dạy học, rồi trở về vùng nông thôn để sáng tác vở Đức mẹ Đồng trinh.
Trong lúc ấy tôi được biết rằng nhà xuất bản lớn người Ý Giulio Ricordi, người đã từng nghe Vua Lahore tại Nhà hát Opéra, đã đi đến thỏa thuận với Hartmann để làm đại diện giới thiệu tác phẩm này ở Ý.
Một sự kiện như vậy quả là độc đáo, bởi thời ấy các tác phẩm được dịch sang tiếng Ý và trình diễn ở xứ sở này đều là của những bậc thầy vĩ đại. Đôi khi ngay cả họ cũng phải chờ đợi khá lâu mới đến lượt mình, trong khi tôi có may mắn chứng kiến Vua Lahore phiên bản Ý được dàn dựng không lâu sau buổi công diễn lần đầu phiên bản Pháp.
Nhà hát đầu tiên ở Ý dành cho tôi vinh dự này là Regio ở Turin.
Thật là may mắn ngoài mong đợi khi được gặp lại Ý, được biết đến các nhà hát ở đây ngoài diện mạo bên ngoài của chúng, được thâm nhập vào hậu trường của chúng! Tôi cảm thấy một niềm say mê khôn tả mà trong đó tôi đã sống những tháng đầu năm 1878.
Vậy là Hartmann và tôi đến Ý vào ngày 1 tháng 2 năm 1878.
Cùng với Nhà hát La Scala ở Milan, Nhà hát San Carlo ở Naples, Nhà hát thành phố ở Bologna, Nhà hát Apollo cổ ở Rome mà từ khi bị phá hủy đã được thay thế bằng Nhà hát Costanzi về độ nổi tiếng, và cùng với Nhà hát Pergola ở Florence, Nhà hát Carlo Felice ở Genoa và Nhà hát Fenice ở Venise, Nhà hát Regio xinh đẹp, nằm đối diện Dinh Đức bà trên Quảng trường Castella, là một trong những nhà hát nổi tiếng nhất ở Ý. Khi ấy cũng như ngày nay, nó ganh đua với các nhà hát nổi tiếng nhất của vùng đất nghệ thuật kinh điển vốn luôn hiếu khách và đón chào đến thế.
Tại Nhà hát Regio có những lề thói hoàn toàn khác với những lề thói mà chúng ta thực hành ở Paris, những lề thói mà sau này tôi nhận thấy ở Đức có rất nhiều điểm tương đồng. Sự tôn trọng tuyệt đối và tính chính xác về giờ giấc là quy tắc ngự trị và điều này không chỉ có ở các nghệ sĩ mà ngay cả ở những người sắm vai phụ. Dàn nhạc tuân thủ mọi ý định dù là nhỏ nhất của người chỉ huy.
Chỉ huy dàn nhạc Nhà hát Regio khi ấy là bậc thầy Carlo Pedrotti, người sau này trở thành giám đốc Nhạc viện Rossini ở Pesaro, nổi tiếng với những giai điệu đầy vui tươi và sôi nổi cũng như nhiều vở opéra trong đó có Những chiếc mặt nạ (Tutti in maschera). Cái chết đã ập đến với ông một cách bi thảm. Tôi tưởng như còn nghe tiếng Pedrotti trung hậu này thường xuyên hỏi đi hỏi lại: “Cậu có hài lòng không? Còn tôi rất hài lòng!”
Thời bấy giờ chúng tôi có một giọng nam cao nổi tiếng là signor Fanelli. Anh sở hữu giọng hát tuyệt vời và cả thói quen đưa hai bàn tay với các ngón xòe rộng về phía trước. Dù cái tật này gây khó chịu nhưng nhiều nghệ sĩ khác mà tôi biết vẫn sử dụng cách này để thể hiện cảm xúc, ít ra là họ nghĩ vậy dù bản thân họ hoàn toàn chẳng cảm thấy gì.
Vậy nên đôi bàn tay xòe rộng đã khiến giọng nam cao đáng chú ý này được đặt biệt danh là Năm cộng năm bằng mười! (Cinque e cinque fanno dieci).
Về buổi công diễn lần đầu tại nhà hát này, tôi sẽ đề cập đến giọng nam trung Mendioroz và signorina Mecocci là những người sắm vai.
Những lần di chuyển thế này trở nên rất thường xuyên; như lần Hartmann và tôi, vừa mới trở về Paris, đã lại lên đường đến Rome, nơi Il Re di Lahore có vinh dự được công diễn lần đầu vào ngày 21 tháng 3 năm 1879.
Tại đây tôi có các nghệ sĩ biểu diễn còn lỗi lạc hơn nữa, chẳng hạn như giọng nam cao Barbaccini và giọng nam trung Kashmann, cả hai đều là những ca sĩ rất tài năng, rồi đến signorina Mariani, một ca sĩ và diễn viên bi kịch đáng ngưỡng mộ, cùng em gái cô, người sánh ngang chị mình về sắc đẹp.
Giám đốc Nhà hát Apollo, ông Giacovacci, là một ông già kỳ lạ, rất hóm hỉnh và tươi vui, nhất là khi ông hồi tưởng lại buổi công diễn đầu vở Người thợ cạo thành Seville tại Nhà hát Argentina mà ông đã tham dự khi còn trẻ. Ông vẽ ra bức chân dung thú vị nhất của Rossini trẻ tuổi, hoạt bát và quyến rũ. Người thợ cạo thành Seville và Guillaume Tell quả là bằng chứng hiển nhiên của cá tính hóm hỉnh cũng như của tâm hồn mạnh mẽ nhất!
Tôi đã tận dụng thời gian ở Rome để thăm lại Biệt thự Médicis thân yêu. Tôi thấy thật thích thú khi tái xuất ở đó với tư cách một tác giả… phải nói thế nào nhỉ? Chà, thôi kệ, hãy cứ nói là một tác giả được hoan nghênh!
Tôi sống ở Khách sạn Rome, đối diện Nhà thờ San Carlo trên Đường Corso.
Sáng hôm sau buổi công diễn lần đầu, khi mà tôi gần như chưa tỉnh ngủ vì đêm trước đã trở về rất muộn, người ta mang đến phòng tôi một tấm thiếp với những dòng chữ:
“Lần sau hãy báo trước cho tôi khi anh ở khách sạn nhé, vì tôi đã mất ngủ cả đêm do bấy nhiêu dạ tiệc và chúc tụng người ta dành cho anh! Thật ồn ào! Nhưng tôi rất mừng cho anh.
“Bạn cũ của anh,
“Du Locle.”
Du Locle! Sao có thể là ông? Ông đã ở đó, ông chính là vị giám đốc đã đỡ đầu vở Don César de Bazan của tôi!
Tôi chạy ào tới ôm hôn ông.
Buổi sáng ngày 21 tháng 3 mang lại cho tôi là những giờ phút mê hoặc và lôi cuốn nhất; vì vậy chúng được tính là một trong những ký ức tuyệt vời nhất của tôi.
Tôi đã được diện kiến đức Giáo hoàng mới tấn phong Léon XIII. Phòng khách lớn nơi tôi được giới thiệu có một sảnh đợi dài phía trước. Những người được phép vào như tôi đều quỳ thành hàng mỗi bên căn phòng. Đức Giáo hoàng ban phép lành bằng tay phải và nói đôi lời với các tín hữu khác nhau. Được quan hầu của mình cho biết tôi là ai và lý do tôi đến Rome, đức Giáo hoàng đã thêm vào những lời chúc phúc thông thường lời cầu chúc may mắn cho nghệ thuật của tôi.
Ngoài phẩm cách đặc biệt, tính giản dị của đức Giáo hoàng Léon XIII khiến tôi nhớ đến đức Giáo hoàng Pie IX.
Lúc 11 giờ, sau khi rời Vatican, tôi đến Cung điện Quirinal. Hầu tước phu nhân di Villamarina có bổn phận giới thiệu tôi với Hoàng hậu Marguerita.
Chúng tôi đã đi qua một dãy năm hay sáu phòng khách; ở căn phòng nơi chúng tôi đang đợi, có một tủ kính phủ nhiễu với những vật lưu niệm của Victor-Emmanuel, vị vua mói băng hà. Giữa hai cửa sổ là một cây piano đứng.
Chi tiết tôi sắp kể gần như gây ấn tượng sân khấu.
Tôi nhận thấy có người đứng chực ở cửa mỗi căn phòng tôi đã đi qua và tôi nghe thấy một giọng nói rất xa cất lên rõ ràng từ căn phòng đầu tiên, lớn tiếng thông báo: La Regina! (Hoàng hậu!), rồi, gần hơn: La Regina! tiếp theo còn gần hơn nữa: La Regina! sau đó to hơn nữa: La Regina! và cuối cùng là giọng vang vang trong căn phòng liền kề: La Regina! Và hoàng hậu xuất hiện trong căn phòng nơi chúng tôi có mặt.
Hầu tước phu nhân Villamarina giới thiệu tôi, cúi chào hoàng hậu rồi lui ra.
Bằng giọng nói quyến rũ, lệnh bà bảo tôi rằng cần phải thứ lỗi nếu buổi tối lệnh bà không đến Nhà hát Opéra để nghe Il Capolavoro của bậc thầy người Pháp, và chỉ vào tủ kính: “Chúng tôi đang để tang!” Rồi lệnh bà nói thêm: “Vì tối nay ta sẽ rảnh nên ông có thể cho ta nghe vài tiết mục trong vở opéra được chứ?”
Không có chiếc ghế nào cạnh cây piano, tôi bắt đầu chơi đàn trong tư thế đứng, rồi tôi nhận thấy hoàng hậu đang quay người tìm ghế, tôi lao tới lấy một chiếc và đặt nó trước cây đàn để tiếp tục chơi nhạc theo yêu cầu đáng yêu đến vậy.
Tôi từ biệt lệnh bà với tâm trạng rất xúc động và biết ơn vì sự đón tiếp ân cần của lệnh bà; rồi, đi qua vô số căn phòng, tôi tìm thấy Hầu tước phu nhân di Villamarina, người có sự lịch lãm khiến tôi vô cùng cảm kích.
Mười lăm phút sau tôi đã ở via delle Carrozze để thăm Menotti Garibaldi với lá thư giới thiệu từ một người bạn ở Paris.
Đó là một buổi sáng phi thường và thực sự hiếm có xét theo phẩm cách của những con người tôi có vinh hạnh gặp mặt: đức Giáo hoàng, lệnh bà Hoàng hậu, và con trai của Garibaldi!
Trong ngày hôm đó, tôi được giới thiệu với Hoàng thân Massimo thuộc giới quý tộc cố xưa nhất của La Mã, và khi tôi hỏi ngài, có lẽ do vô ý nhưng trên hết là do tò mò, liệu ngài có phải là hậu duệ của Hoàng đế Maximus hay không, ngài trả lời một cách giản dị và khiêm nhường: “Tôi không biết chắc, nhưng người trong gia đình tôi đã cam đoan về điều đó từ mười tám thế kỉ nay.”
Sau chương trình biểu diễn thành công rực rỡ tại nhà hát hôm đó, tôi tới ăn tối tại nhà đại sứ của chúng tôi, Công tước Montebello. Theo yêu cầu của công tước phu nhân, tôi bắt đầu chơi các tiết mục mà mình đã chơi buổi sáng cho lệnh bà Hoàng hậu nghe. Công tước phu nhân hút thuốc và tôi nhớ là mình cũng đã hút rất nhiều trong khi chơi nhạc. Việc này cho phép tôi vừa ngắm nhìn làn khói tỏa lên trần nhà vừa chiêm ngưỡng những bức họa tuyệt vời của Carracci bất tử, tác giả của Phòng trưng bày Farnèse nổi tiếng.
Lại là những giờ phút thật khó quên!
Và khoảng ba giờ sáng tôi trở về khách sạn, nơi khúc nhạc đêm (hay đúng hơn là khúc nhạc ban mai) chúc tụng tôi đã khiến ông bạn Locle của tôi mất ngủ.
Mùa xuân trôi qua thật nhanh trong ký ức về mùa đông huy hoàng tôi vừa trải qua ở Ý. Tôi quay về với công việc ở Fontainebleau và hoàn thành vở Đức mẹ Đồng trinh.
Sau đó tôi cùng người vợ thân yêu khởi hành đến Milan và Biệt thự Este.
Với tôi đó là một năm của nhiệt huyết, của niềm vui thuần khiết và rạng ngời mà những giờ phút hạnh phúc khôn tả đã để lại những dấu ấn không thể phai nhòa trong sự nghiệp của tôi.
Giulio Ricordi đã mời vợ chồng tôi và cô con gái thân yêu, khi ấy vẫn còn là một đứa trẻ, đến nghỉ trong tháng Tám tại Biệt thự Este ở xứ sở tuyệt vời đẹp như tranh bên hồ Como. Tại đó ngoài bà Giuditta Ricordi xinh đẹp, người vợ rất duyên dáng của chủ nhân tốt bụng, chúng tôi còn gặp cô con gái Ginetta của ông bà, người bạn thú vị của con gái chúng tôi, cùng các con trai của ông bà là Tito và Manuele, khi ấy còn nhỏ nhưng nay đã là các quý ông tuyệt vời. Chúng tôi cũng gặp ở đó một cô gái trẻ rất đáng yêu, một đóa hồng mới chớm nở đang học hát với một người thầy Ý danh tiếng trong thời gian chúng tôi lưu lại.
Arrigo Boïto, tác giả nổi tiếng của Mefistofele, người cũng đang nghỉ mát ở Biệt thự Este, giống như tôi khi bị âm sắc rất riêng của giọng hát này gây ấn tượng… Giọng hát tinh tế vốn uyển chuyển một cách kì diệu này là của người nghệ sĩ tương lai sẽ khiến không ai quên được vai diễn cô sắm trong Lakmé của Léo Delibes vinh quang và vô cùng đáng thương tiếc của tôi. Tôi gọi cô là Marie Van Zandt.
Một buổi tối, khi tôi trở lại khách sạn Bella Venezia tại Quảng trường San Fedele ở Milan (nơi ngày nay tôi vẫn thích ghé lại), người hàng xóm của tôi là Giulio Ricordi – bởi cơ sở xuất bản lớn của ông thời đó được thiết lập trong một tòa nhà cổ kính tuyệt vời trên Đường Omenoni, cạnh Nhà thờ San Fedele – đến gặp tôi ở khách sạn và giới thiệu tôi với một con người rất ưu tú, một thi sĩ truyền nhiều cảm hứng, người đã đọc cho tôi nghe một kịch bản bốn màn cực kỳ thú vị về câu chuyện Hérodiade; thi sĩ lỗi lạc này là Zanardini, hậu duệ của một trong những gia tộc lớn nhất ở Venise.
Thật dễ đoán là câu chuyện về Tứ đầu chế Galilée, về Salomé, về Jean và về Hérodiade có thể gợi mở và hấp dẫn đến mức nào dưới một ngòi bút giàu màu sắc như ngòi bút đã vẽ ra cho tôi.
Vào ngày 15 tháng 8, trong thời gian chúng tôi ở Ý, vở Vua Lahore được trình diễn tại Nhà hát Vicenza, rồi vào ngày 3 tháng 10, buổi công diễn lần đầu tại Nhà hát Thành phố Bologna được tổ chức. Đây là lý do tại sao chúng tôi kéo dài thời gian lưu trú ở Ý.
Cần phải quan tâm đến mọi thứ trên hành trình. Đây là lý do tại sao một chi tiết đẹp như tranh mà tôi sắp đề cập lại được ưu tiên hơn cả công việc của tôi tại nhà hát dù chúng có tuyệt đến đâu.
Là người biết Bologna và những con phố có mái vòm ở đó, thứ chắc hẳn đã truyền cảm hứng cho Napoléon I khi ông tạo ra Phố Rivoli và Quảng trường Pyramides ở Paris, tôi không thể quên phối cảnh lạ lùng mà trong đó tôi có thể trông thấy một đoàn người đưa tang đi nối tiếp nhau vào một chiều tối khi màn đêm buông xuống.
Hội tu sĩ dòng Sám hối bận áo choàng có mũ trùm đầu, cầm trên tay những cây nến lớn nghiêng nghiêng, hào phóng thả rơi những giọt sáp mà bọn trẻ thu lượm trong những chiếc bồ đài bằng giấy trong lúc đi theo hàng người đưa rước. Cùng với những khúc ca, những khúc thánh vịnh xen kẽ với những quãng lặng, đám diễu hành tang tóc này đí qua một đám đông kính cẩn và trầm mặc. Toàn bộ cảnh trí này thực sự gây ấn tượng và để lại phía sau một nỗi buồn lớn lao và quá đỗi u sầu.
Chuyến trở về Fontainebleau của chúng tôi diễn ra ngay sau đó. Tôi phải tiếp tục cuộc sống thường ngày cùng những công việc vẫn còn dang dở.
Hôm sau ngày trở về, tôi thật bất ngờ khi được thầy Émile Réty đến thăm! Ambroise Thomas vừa đề nghị tôi làm giáo sư đối âm, fugue và sáng tác tại Nhạc viện, thế chỗ François Bazin thành viên Học viện, người qua đời vài tháng trước. Thầy đồng thời khuyên tôi ứng cử vào Viện hàn lâm Mỹ thuật, bởi cuộc bầu chọn người kế nhiệm Bazin đã gần kề.
Việc này trái ngược biết bao với những tháng ngày mê say và đầy những tiếng hoan hô ở Ý! Tôi cứ tưởng mình đã bị lãng quên ở Pháp trong khi thực tế lại hoàn toàn khác!
Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch




