Thông tin chung

Tác giả: Franz Schubert.
Thời gian sáng tác: Tháng 8/1825.
Độ dài: Khoảng 40 phút.
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Allegro vivace (Rê trưởng)
Chương II – Con moto (La trưởng)
Chương III – Scherzo: Allegro vivace – Trio (Rê trưởng)
Chương IV – Rondo: Allegro moderato (Rê trưởng)

Hoàn cảnh sáng tác

Có một thực tế bi đát là phần lớn những tác phẩm của Schubert không được công bố nhiều năm sau khi ông qua đời, vốn có rất nhiều tuyệt tác. Trong số toàn bộ các piano sonata của Schubert chỉ có 3 bản được xuất bản khi ông còn sống. Chúng hầu như hoàn toàn bị lu mờ trước các tác phẩm cùng thể loại của Beethoven và chỉ được hồi sinh khoảng 100 năm sau đó. Trên thực tế, dù rằng Beethoven là vị anh hùng trong tâm tưởng của Schubert và cái bóng Beethoven là quá lớn nhưng Schubert luôn lắng nghe nàng thơ của riêng mình. Điều này chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy trong các piano sonata của ông. Thay vì cố chấp mô phỏng theo những hình thức phát triển có tổ chức cao và chặt chẽ của Beethoven, Schubert có xu hướng lấp đầy các hình thức Cổ điển này bằng hết các giai điệu này đến giai điệu khác và chủ yếu dựa vào màu sắc của hoà thanh hơn là lao vào những cuộc đấu tranh trên đỉnh Olympus hay trăn trở với những suy nghĩ siêu nhiên. Khi triển khai các phương pháp của riêng mình, Schubert đã tạo ra được một nguồn sức mạnh vô song, với sự du dương không ai có thể sánh kịp. Những sự thay đổi giọng đột ngột trong các tác phẩm của ông là điều kì diệu của âm nhạc. Schubert đã tạo ra được một phạm vi cảm xúc rộng lớn khiến người nghe có thể đắm chìm trong đó.
Vào tháng 6/1825, trong kì nghỉ hè kéo dài của mình ở Thượng Áo, Schubert đã đi nghỉ ở Gastein sau một khoảng thời gian dài đau yếu trước đó. Thị trấn Gastein là một khu nghỉ mát nổi tiếng với những suối tắm khoáng có từ lâu đời, được tọa lạc tại vị trí đẹp như tranh vẽ trong một thung lũng cao của dãy núi Hohe Tauern, Alps, gần Salzburg. Đây có lẽ là khoảng thời gian thanh bình và thoải mái nhất của Schubert trước khi ông chìm vào những muộn phiền và đau khổ để rồi qua đời ba năm sau đó.
Khung cảnh ngoạn mục của những đỉnh núi cheo leo, những thung lũng xanh tươi và những hồ nước trong vắt trên núi đã làm những cảm hứng sáng tác trong nhà soạn nhạc bùng nổ. Schubert đã sáng tác bản piano sonata giọng Rê trưởng, lấy tên là “Gasteiner”, vùng đất mà ông đang nghỉ dưỡng. Tác phẩm được xuất bản một năm sau đó, trở thành một trong những bản piano sonata hiếm hoi của Schubert có được vinh dự này. Phần đầu bản giao hưởng số 9 “Great” của ông cũng được khởi thảo trong khoảng thời gian ở đây. Chúng có chung một vẻ đẹp hùng vĩ.

Phân tích tác phẩm

Ngay trong chương I tác phẩm đã toát ra một nguồn năng lượng không ngừng nghỉ. Một phần mở đầu như một câu kèn lệnh giới thiệu chất liệu chủ đề chính của chương nhạc này ở chủ âm Rê trưởng và sẽ được xuyên suốt bản sonata. Trong một nét đặc trưng tiêu biểu của Schubert, chủ đề này ngay lập tức được chuyển sang giọng Rê thứ. Chủ đề thứ hai bắt đầu bằng những quãng tám, có một không khí nhẹ nhàng, vui vẻ hơn, gợi nhớ đến tiếng kèn Alholn (một nhạc cụ đặc trưng bằng gỗ dài của những cư dân vùng núi Alps) được lấy cảm hứng từ những bài dân ca của chính vùng đất mà Schubert đang nghỉ ngơi. Chủ đề thứ hai cũng xuất hiện trong bài hát Das Heimweh (Nỗi nhớ nhà), được sáng tác cùng thời điểm. Trong phần phát triển, chủ đề đầu tiên trở nên phô trương hơn. Phần tái hiện xuất hiện đầy đủ cả 2 chủ đề, dẫn đến một coda mạnh mẽ.
Chương II ở giọng La trưởng có cấu trúc đơn giản ABABA nhưng âm nhạc rất tinh tế và chi tiết. Phần A mở đầu là một bài ca không lời quen thuộc của Schubert được ông thể hiện một cách rất sáng tạo trên piano, âm nhạc tuôn trào và đầy khao khát. Phần B náo nhiệt hơn, đầy đam mê và mạnh mẽ, được chơi đảo phách với lần duy nhất trong toàn bộ tác phẩm xuất hiện âm lượng fff, rất hiếm khi xuất hiện trong các piano sonata của Schubert. Trong phần trở lại, cả hai phần đều được trau chuốt tỉ mỉ hơn.
Chương III được trở về chủ âm Rê trưởng là một khúc scherzo nhịp nhàng và đầy tính khiêu vũ. Âm nhạc là một chuỗi phức hợp các nốt móc đơn và móc kép chấm dôi trong phần đầu, với tính chất vui vẻ, tươi sáng như những đám mây lướt trôi dưới ánh mặt trời. Nhịp điệu được xen kẽ giữa ¾ và 3/2. Trio trung tâm là những hợp âm trôi chảy, mượt mà được lặp lại đều đặn, trữ tình, khá tương phản với phần scherzo.
Chương IV là một rondo có hình thức ABACA. Chủ đề chính vui tươi và hồn nhiên, được ngắt quãng với hai phần tương phản, mỗi phần đều có những đoạn trung tâm bão táp của riêng chúng. Thường với một bản sonata dài và nhiều ý tưởng như vậy luôn có một cái kết được đẩy lên cao trào, nhưng Schubert đã khéo léo không để điều phiến diện như vậy xảy ra. Khi những đỉnh cao cảm xúc đã đạt được trước đó một cách hoành tráng và bất ngờ, những gì còn lại là sự nhẹ nhàng và giải thoát. Tác phẩm kết thúc trong yên tĩnh và lặng lẽ.
Bản piano sonata này là một trong những tác phẩm độc tấu dài và chất chứa nhiều tham vọng nhất của Schubert cho đến thời điểm đó. Nhà soạn nhạc đã có một kỳ nghỉ dài thư thái và thoải mái để rồi sau đó, ông sẽ dấn thân vào giai đoạn ngắn ngủi cuối cùng còn lại của cuộc đời nhưng cũng đầy ắp sự thăng hoa và cảm hứng sáng tạo.
Nguồn:

Facebook Comments