“Đối với nhiều người trong thế hệ trước, chỉ có một nghệ sĩ piano Beethoven và tên của ông là Artur Schnabel.” – Harold C. Schonberg
Nghệ sĩ piano tiên phong leo lên đỉnh Everest của Ludwig van Beethoven, đó chắc chắn chỉ có thể là Artur Schnabel. Vị trí này không chỉ đến từ việc Schnabel là người đầu tiên trong lịch sử thu âm trọn bộ 32 sonata piano của Beethoven mà còn do sự diễn giải tuyệt vời của ông với âm nhạc của nhà soạn nhạc thiên tài này. Bất chấp việc màn trình diễn của Schnabel trong các tác phẩm của Wolfgang Amadeus Mozart, Franz Schubert hay Johannes Brahms đều rất ấn tượng nhưng mối quan hệ liên kết giữa Schnabel và Beethoven đã vượt lên trên tất cả, có ý nghĩa mang tính biểu tượng. Đó là một phong cách chất chứa hàm lượng trí tuệ sâu sắc, tránh sự phô trương kỹ thuật thuần tuý, cố gắng đi sâu vào ý nghĩa bên trong của từng nốt nhạc. Song song với việc biểu diễn, ông còn giảng dạy và sáng tác. Schnabel luôn duy trì một lịch làm việc dày đặc cho đến cuối đời. Mặc dù sau Schnabel, còn rất nhiều nghệ sĩ khác cũng thực hiện việc biểu diễn và thu âm trọn bộ các sonata piano của Beethoven, nhưng vầng hào quang của ông vẫn vĩnh viễn toả sáng ở đó, tạo thành một dấu ấn không phai mờ trong lịch sử âm nhạc cổ điển của thế kỷ 20.
Artur Schnabel sinh ngày 17/4/1882 tại Lipnik, một ngôi làng nhỏ thuộc Đế chế Áo-Hung, ngày nay nằm ở phía nam Ba Lan được Schnabel mô tả là “nhỏ bé và khá nghèo”. Cậu là con út trong một gia đình Do Thái có ba người con với hai chị gái. Cha cậu, ông Isidor là nhân viên bán hàng cho một công ty dệt may nhỏ và mẹ cậu là bà Ernestine Taube. Vì yêu cầu công việc, ông Isidor thường xuyên phải đến Vienna và ông nhận thức được tầm quan trọng âm nhạc. Những người con của ông đều được học piano và cậu con út luôn thể hiện mình là người có năng khiếu nhất. Artur ngay lập tức có thể chơi thành thạo những bài tập mà giáo viên giao cho chị mình mà không cần phải trực tiếp học. Nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho những đứa con của mình, bà Ernestine Taube và ba người con chuyển đến sinh sống tại Vienna trong khi ông Isidor đi về giữa hai nơi. Năm 6 tuổi, Artur chính thức học piano với Hans Schmitt, giảng viên của University of Music and Performing Arts, Vienna. Năm 1891, Artur chuyển sang học với nghệ sĩ piano kỳ cựu Theodor Leschetizky, người ngay lập tức nhận ra tài năng đặc biệt của cậu: “Cậu không bao giờ là một nghệ sĩ piano, cậu là một nhạc sĩ”. Tuyên bố của Leschetizky nhấn mạnh vào việc tài năng của Schnabel nằm ở khả năng thấu hiểu âm nhạc hơn là sự xuất sắc về kỹ thuật. Xét theo góc độ nào đó, Schnabel là học trò piano trực hệ của Beethoven. Thầy giáo của Leschetizky là Carl Czerny, người từng có thời gian theo học với Beethoven. Thay vì để cậu học trò nhỏ của mình tiếp xúc với Franz Liszt hay Frédéric Chopin, thứ âm nhạc thời thượng lúc đó, Leschetizky lại hướng Artur tới các piano sonata của Schubert, những tác phẩm trữ tình và nội tâm cần sự nhạy cảm và tỉnh táo để trở nên hấp dẫn, thường hiếm khi được biểu diễn. Sau Beethoven, Schubert là nhà soạn nhạc được Schnabel gắn bó nhất trong sự nghiệp. Schnabel từng nói: “Không có nhà soạn nhạc nào gần với Chúa hơn Schubert”. Leschetizky cũng sắp xếp để Artur học lý thuyết âm nhạc và sáng tác với Eusebius Mandyczewski, một người bạn của Brahms, sau khi thất bại trong việc tiếp xúc với Anton Bruckner. Artur cũng nhiều lần được gặp gỡ Brahms, nhà soạn nhạc mà sau này cậu biểu diễn rất nhiều. Lúc này, mẹ và hai chị gái phải quay trở lại quê nhà, chỉ để lại một mình Artur lại Vienna trong căn phòng trọ. Năm 1893, cậu có buổi biểu diễn đầu tiên trước công chúng Vienna, tại Bösendorfer-Saal. Cuối năm đó, Artur tổ chức một loạt các buổi hoà nhạc ở Budapest, Prague và Brno.
Schnabel học với Leschetizky cho đến năm 1897, bạn học của anh trong thời gian này có Ignaz Friedman, sau cũng trở thành một nghệ sĩ piano nổi tiếng. Tại Vienna, Schnabel kiếm sống bằng việc biểu diễn và dạy piano. Ông cũng bắt đầu sáng tác với tác phẩm đầu tay là Concerto piano và một số bài hát. Trong giai đoạn này, cuộc sống của anh khá phóng túng. Năm 1899, Schnabel có một cô con gái ngoài giá thú Elizabeth Rostra, sau này cũng là một nghệ sĩ và giảng viên piano, mà chỉ vài năm sau anh mới được biết điều đó. Năm 1900, anh chuyển đến sinh sống tại Berlin và có một buổi ra mắt tại đây trong một chương trình toàn các tác phẩm của Schubert. Schnabel bắt đầu có những cơ hội của mình, người đại diện đã tìm được cho anh một số cơ hội biểu diễn. Trong một lần như vậy, vào giữa mùa đông, tại thị trấn nhỏ Rastenburg, Schnabel đệm piano cho contralto Therese Behr. Tại khách sạn, khi nhìn thấy một đôi ủng rất to, anh đã cười đùa với một người bạn của mình. Sáng hôm sau, khi Schnabel và Behr lần đầu gặp nhau, cô nói: “Tôi nghe thấy bạn nói về đôi chân to của tôi”? Behr có vóc dáng cao lớn (1m83) trong khi Schnabel nhỏ bé hơn (1m62). Họ đã kết hôn vào năm 1905 và có với nhau hai cậu con trai. Người con cả Karl Ulrich là một nghệ sĩ piano, sau này từng thu âm một số tác phẩm dành cho hai piano với cha mình. Đứa con thứ hai Stefan là một diễn viên nổi tiếng. Họ và cô con gái trước đó của Schnabel có một mối quan hệ tốt đẹp.
Ngoài việc độc tấu, Schnabel cũng có cơ hội được biểu diễn hoà nhạc, chủ yếu với nhạc trưởng Arthur Niksich và Berlin Philharmonic. Ông cũng thường xuyên hoà tấu thính phòng, cùng với Alfred Wittenberg (violin) và Anton Hekking (cello). Họ thường được gọi là bộ ba Schnabel đầu tiên, biểu diễn với nhau từ năm 1902-1904. Sau đó Schnabel thành lập bộ ba Schnabel thứ hai, với Carl Flesch (người mà Schnabel cũng thường biểu diễn cùng trong các sonata violin) và nghệ sĩ cello Jean Gérardy. Sau những nỗ lực, dù khởi đầu khá chậm chạp, cuối cùng Schnabel đã trở thành một cái tên quen thuộc trong đời sống âm nhạc nước Đức và thực hiện rất nhiều cuộc lưu diễn trên khắp châu Âu, thậm chí tới cả nước Nga xa xôi. Cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, ông vẫn tiếp tục lưu diễn tại các nước trung lập như Thuỵ Điển và Thuỵ Sĩ. Schnabel cũng mua một ngôi nhà mùa hè cho mình ở Tremezzo, ven hồ Como, Ý, sau này trở thành một địa điểm nổi tiếng khi ông thường xuyên giảng dạy tại đây.
Năm 1921, dưới sự tổ chức của ông bầu nổi tiếng Sol Hurok, Schnabel có chuyến lưu diễn đầu tiên tại Mĩ. Bất chấp việc tài năng của Schnabel đã được ghi nhận, lượng khán giả đến thưởng thức chương trình của ông không quá đông. Nguyên nhân rất đơn giản, các tiết mục mà Schnabel lựa chọn đều không quá phổ biến như các Prelude của Chopin hay Fantasie của Robert Schumann. Tất nhiên là không thể thiếu được các sonata piano của Schubert, Beethoven và Mozart. Schnabel tỏ ra rất hứng thú với các tác phẩm đơn giản của Mozart, ông nhận xét: “Trẻ em đến với Mozart vì một số lượng nhỏ các nốt nhạc; người lớn tránh Mozart vì chất lượng tuyệt vời của các nốt nhạc”. Hurok đã lường trước được điều này và từng đề nghị ông chơi những tác phẩm phổ biến hơn. Tuy nhiên, Schnabel đã từ chối. Bên cạnh đó, phong cách từ chối giao lưu với khán giả giữa và sau chương trình của ông cũng không phù hợp với văn hoá tại đây. Một điểm đáng lưu ý nữa trong các màn trình diễn của Schnabel là ông không bao giờ biểu diễn bis (chơi thêm các tiểu phẩm để đáp lại sự tán thưởng của khán giả). Ông cho rằng như vậy sẽ làm giảm đi giá trị của chương trình chính: “Tôi luôn coi việc vỗ tay là một biên lai, không phải là hóa đơn”. Chuyến lưu diễn Mĩ tiếp theo của ông vào năm 1922 cũng không mang lại nhiều sự đột biến. Từ năm 1925, Schnabel bắt đầu giảng dạy tại Hochschule für Musik.
Trong thập niên 20, thế giới âm nhạc bắt đầu chứng kiến tình yêu bất diệt của Schnabel dành cho Beethoven. Đích thân ông tự mình biên tập lại toàn bộ 32 sonata piano của Beethoven, đưa chúng vào một ấn bản của riêng mình và vào tháng 1 và 2/1927, nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày mất của nhà soạn nhạc, Schnabel đã biểu diễn toàn bộ các tác phẩm này trong một chuỗi chương trình tại Volksbühne, Berlin, trở thành người thứ hai trong lịch sử thực hiện điều này, sau Hans von Bülow vào năm 1878. Ông tiếp tục lặp lại điều này vào đầu những năm 1930 tại Berlin, London và New York. Sau màn trình diễn của Schnabel vào năm 1933 tại Carnegie Hall, nhà phê bình âm nhạc Olin Downes đã viết: “Việc chơi nhạc đêm qua phù hợp với trí tuệ của nó khi nắm bắt được dòng nhạc vĩ đại của Beethoven, duy trì kiến trúc to lớn đó trong khi điều chỉnh bằng một phán đoán và trực giác tối cao tới từng chi tiết, là bằng chứng về chất lượng tư duy và nghệ thuật âm nhạc của người biểu diễn. Nhưng Schnabel còn tiến xa hơn thế. Ông ấy chơi với âm sắc trong trẻo và đẹp đẽ đặc biệt nhất; với khả năng chỉ huy đồng đều giữa âm vực lớn nhất và sắc thái huyền ảo nhất, và ông ấy luôn khiến piano hát cũng như nói lên”.
Và không chỉ là những sonata piano, rất nhiều những tác phẩm khác dành cho piano của Beethoven cũng được Schnabel đưa vào các chương trình biểu diễn của mình. Vào thời điểm đó, các tác phẩm này của Beethoven không phải quá nổi tiếng. Không nhiều nghệ sĩ lựa chọn chúng mà thường tìm đến với những bản nhạc có tính hào nhoáng, khoa trương và ít sâu sắc hơn. Sau một chuyến lưu diễn tại Tây Ban Nha, Schnabel viết thư về cho vợ, cảm thấy áy náy với khán giả vì đã biểu diễn Diabelli Variations (Beethoven): “Anh là người duy nhất ở đây cảm thấy vui mừng với điều này và anh nhận được tiền, họ trả tiền và phải chịu đựng”. Tuy nhiên, chính sự thờ ơ của khán giả càng làm cho quyết tâm của Schnabel về việc quảng bá âm nhạc Beethoven thêm kiên định. Với ông, đó là những tác phẩm sâu sắc, trí tuệ và rất xứng đáng để được biết đến và yêu thích. Từ năm 1931-1935, cùng HMV, Schnabel trở thành nghệ sĩ đầu tiên trong lịch sử thu âm trọn bộ 32 sonata piano. Cho đến tận ngày nay, đó vẫn là những đĩa nhạc được đón nhận và là nền tảng để các nghệ sĩ thế hệ sau tham khảo, một tài liệu kinh điển. Tất nhiên, chúng không phải là hoàn hảo. Trong một số đoạn nhạc đòi hỏi tốc độ nhanh, điển hình như trong Sonata piano số 29 “Hammerklavier”, rõ ràng trình độ của Schnabel không đáp ứng được yêu cầu của tác phẩm. Tuy nhiên, điều này được giải thích là ông bị căng thẳng rất nhiều khi thu âm. Claudio Arrau cho biết các buổi biểu diễn trực tiếp của Schnabel trong thập niên 1920 về mặt kỹ thuật là “hoàn mỹ”. Bỏ qua những thiếu sót như vậy, phần còn lại trong bộ đĩa nhạc của Schnabel là tuyệt vời. Sergei Rachmaninov từng gọi ông là “nghệ sĩ piano adagio vĩ đại”, để minh hoạ cho những chương chậm sống động, đầy xúc cảm được thực hiện dưới đôi bàn tay ma thuật của Schnabel.
Khi Đức Quốc xã lên nắm quyền tại nước Đức từ năm 1933, vì là người Do Thái, Schnabel cùng vợ con và các chị gái đã phải di cư. Ban đầu ông sống tại Ý và sau đó chuyển tới Thuỵ Sĩ. Năm 1937, ông tới thăm mẹ mình tại Vienna và không bao giờ gặp lại bà nữa. Ernestine Taube, ở lại Áo, bị quân Đức bắt giam, đưa đến trại tập trung Theresienstadt Ghetto và qua đời vào tháng 10/1942. Từ Thuỵ Sĩ, Schnabel chuyển tới Mĩ vào năm 1939 và định cư tại đây đồng thời giảng dạy tại University of Michigan, Ann Arbor. Mặc dù trong thời gian định cư tại Berlin, danh mục biểu diễn của Schnabel dù không quá rộng lớn như nhiều đồng nghiệp khác nhưng cũng khá đa dạng. Tuy nhiên, tại Mĩ, Schnabel chỉ tập trung chủ yếu vào âm nhạc của Mozart, Beethoven, Schubert và Brahms. Ông giải thích, mình chỉ muốn chơi những tác phẩm mà “âm nhạc hay hơn những gì nó có thể được biểu diễn”. Một số người bạn của ông lại lý giải theo chiều hướng khác: “Schnabel, bị đuổi khỏi di sản quê hương của mình, có thể đã đeo bám các nhà soạn nhạc vĩ đại của Đức trong nỗ lực giữ cho nguồn gốc văn hóa của mình tồn tại”. Vì bất cứ lý do gì, điều này cũng khiến cho Arnold Schoenberg, người bạn thân của Schnabel khó chịu: “Quan điểm của ông ấy không chỉ có vẻ ngớ ngẩn đối với tôi, mà còn gần như là tội phạm. Tôi nghĩ nhiệm vụ đầu tiên của một nghệ sĩ thực thụ là chơi nhạc đương đại. Nếu tất cả những nghệ sĩ biểu diễn đều cư xử như ông ấy, thì tác phẩm của những bậc thầy vĩ đại nhất sẽ không thể lọt vào tai công chúng”.
Trái ngược với sự bảo thủ trong việc lựa chọn các tác phẩm để biểu diễn, phong cách sáng tác của Schnabel lại cách tân hơn nhiều. Ông chịu ảnh hưởng to lớn từ âm nhạc 12 âm của người bạn Schoenberg. Trong thời gian đầu sự nghiệp, Schnabel thường xuyên tự mình hoặc cùng vợ biểu diễn các tác phẩm của mình. Tuy nhiên, càng về sau ông lại có xu hướng lãng quên chúng, bất chấp việc đã sáng tác một số lượng không ít: ba bản giao hưởng, một concerto piano, nhiều tác phẩm thính phòng như ngũ tấu, tứ tấu, tam tấu hay các sonata dành cho piano, violin hay cello và nhiều ca khúc nghệ thuật. Nhà phê bình âm nhạc Harold C. Schonberg từng nhận định: “Khả năng các tác phẩm của Schnabel biến mất là rất lớn”. Tuy nhiên, từ năm 2001, chúng đã được biểu diễn trở lại với nhạc trưởng, nghệ sĩ violin Paul Zukofsky là người nhiệt tình nhất.
Schnabel nhập quốc tịch Mĩ vào năm 1944 nhưng ông quay trở lại sống chủ yếu tại Thuỵ Sĩ sau khi khi cuộc chiến tranh kết thúc, nơi ngôi nhà và đồ đạc của ông được những người hàng xóm giữ gìn nguyên vẹn. Nhưng ông không bao giờ quay về Đức hay Áo nữa. Ông cũng tập trung vào công việc giảng dạy tại Tremezzo cũng như ở Mĩ. Những nghệ sĩ piano danh tiếng từng học với Schnabel là Clifford Curzon, Rudolf Firkušný, Leon Fleisher, Claude Frank và nhiều cái tên khác nữa. Sức khoẻ của Schnabel yếu dần vào đầu những năm 1950. Buổi biểu diễn cuối cùng của ông diễn ra tại Hunter College, New York vào tháng 1/1951. Schnabel qua đời vào ngày 15/8/1951 ở tuổi 69 tại Axenstein, Thụy Sĩ.
Schonberg đã tôn vinh Schnabel trong cuốn sách Những nghệ sĩ dương cầm vĩ đại: Từ Mozart đến hiện tại, dành riêng một chương cho ông với tiêu đề “Người đã phát minh ra Beethoven”. Quả thật, công lao của Schnabel đối với việc quảng bá và phổ biến các tác phẩm của Beethoven, đặc biệt trong trọn bộ 32 sonata piano là vô cùng to lớn. Sự gắn bó giữa một nghệ sĩ biểu diễn – một nhà soạn nhạc như trường hợp của Schnabel – Beethoven là vô cùng hiếm gặp. Chúng ta có thể kể đến Arthur Rubinstein và Chopin nhưng dù sao thì kịch mục của Rubinstein cũng vô cùng rộng lớn còn Schnabel thì bó hẹp hơn rất nhiều. Ông đã biểu diễn với niềm tin trọn vẹn vào những nốt nhạc thiên tài của nhà soạn nhạc và bất chấp sự thiếu ổn định về kỹ thuật, phần nào cũng giống như Alfred Cortot, chúng không hề làm suy giảm kiến trúc tổng thể trong phong cách diễn giải của Schnabel, mang đến sự cuồng nhiệt rực lửa cũng như những gì dịu dàng và thiết tha nhất. Dù rằng sau ông, đã có nhiều nghệ sĩ khác cũng từng biểu diễn và thu âm trọn vẹn các sonata piano của Beethoven như Wilhelm Kempff, Daniel Barenboim, Vladimir Ashkenazy, Maurizio Pollini và nhiều tên tuổi khác nhưng cái tên Schnabel là không thể thay thế và là biểu tượng bất diệt, mỗi khi người hâm mộ nhắc đến âm nhạc của nhà soạn nhạc thiên tài này.
Cobeo





