CHƯƠNG V – BIỆT THỰ MÉDICIS

Như tôi đã đoán trước và hơn nữa là nhận ra từ những ám hiệu giữa các nghệ sĩ lưu trú, họ thu xếp một trò đùa cực khủng nữa nhằm vào chúng tôi, thứ mà ta có thể gọi là một vụ ức hiếp nghiêm trọng.

Chúng tôi vừa mới rời bàn ăn thì các nghệ sĩ lưu trú trùm kín mình trong tấm áo choàng lớn kiểu La Mã và bắt chúng tôi, trước khi về nghỉ trong phòng riêng đã được chỉ định, phải đi dạo cho dễ tiêu (việc này cần thiết chăng?) đến tận Quảng trường cổ xưa, nơi khiến cả bọn chúng tôi nhớ lại kỷ niệm thời đi học.

Chẳng biết gì về Rome ban đêm lẫn Rome ban ngày, chúng tôi cứ thế bước đi, xung quanh là những người bạn mới mà chúng tôi coi như những hướng dẫn viên đáng tin cậy.

Đêm tháng Giêng tối như hũ nút, rất thuận lợi cho ý đồ của các cicerone [tiếng Ý: hướng dẫn viên] của chúng tôi! Khi đến gần Đồi Capitol, chúng tôi hầu như không thể phân biệt được hình dáng của những ngôi đền nhô lên từ Campo Vaccino trứ danh mà bức tranh tái hiện được bảo quản ở Louvre vẫn là một trong những kiệt tác của Claude Le Lorrain của chúng ta.

Campo Vaccino (tranh của Claudio de Lorena)

Vào thời đó, dưới sự trị vì của Đức Giáo hoàng Pius IX, chưa có cuộc khai quật chính thức nào được tổ chức ngay cả tại Quảng trường. Địa điểm nổi tiếng này chỉ là một đống đá và những thân cột bị vùi lấp trong cỏ dại nơi người ta chăn thả những đàn dê. Những con vật xinh xắn này được canh giữ bởi các mục đồng đội mũ rộng vành và khoác áo choàng lớn màu đen có lớp lót màu xanh lá, trang phục thường ngày của nông dân vùng quê La Mã; tất cả đều được vũ trang bằng một ngọn giáo lớn mà họ dùng để đuổi đám trâu hoang lội bì bõm trong đầm lầy Ostia.

Những người bạn mới đưa chúng tôi băng qua phế tích Vương cung thánh đường Constantin, nơi chúng tôi lờ mờ trông thấy những mái vòm ketxon rộng lớn. Sự ngưỡng mộ của chúng tôi chuyển thành nỗi sợ hãi khi một lúc sau chúng tôi thấy mình đang ở trên một quảng trường được bao quanh bởi những bức tường có kích thước khổng lồ vô tận. Ở giữa quảng trường này có một cây thánh giá lớn đặt trên một bệ đỡ gồm nhiều bậc thang giống như một kiểu Đồi Sọ. Lúc đến đó tôi không thấy bạn bè mình đâu nữa và khi quay người lại, tôi thấy mình đơn độc giữa khán đài khổng lồ của Đấu trường La Mã trong cái im lặng khủng khiếp.

Tôi cố dò tìm đường về khu phố xá nơi một người qua đường muộn màng nhưng thiện chí có thể chỉ dẫn cho mình lối về Biệt thự Médicis. Nhưng tất cả đều vô ích.

Nỗ lực tìm đường bất thành khiến tôi điên tiết đến mức ngã gục trên một trong những bậc thang thánh giá. Tôi khóc ở đó như một đứa trẻ. Điều đó có thể dung thứ được lắm chứ và tôi kiệt sức.

Rốt cuộc thì ngày cũng tới. Những tia sáng tỏ lộ khiến tôi nhận ra rằng, giống như một con sóc trong chuồng, tôi đã đi vòng quanh đường đua nơi tôi chỉ gặp những cầu thang dẫn lên những bậc cao hơn. Cứ nghĩ tới tám mươi bậc thang mà vào thời Đế quốc La Mã có thể chứa đến một trăm nghìn khán giả là đủ hiểu đường đua này quả là một ngõ cụt với tôi. Nhưng bình minh ló dạng là vị cứu tinh của tôi. Thật may là chỉ sau vài bước tôi đã nhận ra, giống như Nhóc Poucet lạc trong rừng, rằng mình đang theo lối đi sẽ đưa mình trở lại đúng đường.

Cuối cùng tôi cũng về tới Biệt thự Médicis và nhận căn phòng đã được dành cho mình. Cửa sổ phòng tôi trông ra Đại lộ Pincio; đường chân trời của tôi là toàn bộ Rome và kết thúc bằng hình bóng mái vòm Nhà thờ Thánh Pierre ở Vatican. Ông giám đốc Schnetz, một thành viên Học viện, đưa tôi về tận phòng.

Với vóc dáng cao lớn, ông Schnetz thoải mái khoác lên mình tấm áo choàng rộng rãi và đội chiếc mũ trùm kiểu Hy Lạp được trang trí, như một chiếc váy, bằng những núm tua màu vàng lộng lẫy.

Ông là đại diện cuối cùng của thế hệ họa sĩ vĩ đại có lòng sùng bái đặc biệt dành cho vùng thôn dã xung quanh Rome. Các nghiên cứu và tranh vẽ của ông đã thành hình giữa những tên cướp Sabine. Vẻ ngoài rắn rỏi và quyết đoán khiến ông được chủ nhân của những ngôi nhà ông lưu lại trong các cuộc phiêu lưu kính sợ. Ông thực sự là một người cha tuyệt vời đối với mọi đứa con của mình ở Viện Pháp tại Rome.

Chuông báo giờ ăn trưa vang lên. Lần này người rung chuông là đầu bếp thực sự chứ không phải là tôi, người hôm trước đã tự nguyện đảm nhận nhiệm vụ này.

Phòng ăn đã lấy lại được vẻ thoải mái thường ngày. Các bạn tôi hết sức trìu mến. Các nhân viên phục vụ không còn là những tu sĩ giả mạo mà chúng tôi thấy trong bữa ăn đầu tiên khi mới đến.

Tôi biết rằng mình không phải là người duy nhất bị chơi khăm.

Anh bạn Chaplain tốt bụng của tôi đã bị người ta bắt nạt theo cách sau:

Người ta thu xếp cho anh ngủ đêm đầu tiên trong một căn phòng không cửa sổ với những bức tường quét vôi trắng vốn dùng để chứa đồ đạc cồng kềnh. Phòng chứa đồ này đã được chuyển thành phòng ngủ cho dịp này. Những tấm rèm trắng che kín một cửa sổ giả mà người ta bảo anh là trông ra lăng mộ Hadrian. Chiếc giường được sắp xếp sao cho bị sập xuống ngay khi người nằm cựa mình lần đầu tiên. Dù sao thì anh bạn Chaplain tội nghiệp của tôi cũng cố gắng chợp mắt. Căn phòng này có một cánh cửa nhỏ mà anh chưa mở. Thỉnh thoảng một người bạn bước vào với vẻ hốt hoảng, lao qua cánh cửa này rồi vừa biến mất vừa thốt lên: “Đừng để ý… Tôi khổ quá… Sẽ qua thôi… Chỉ còn lại những thứ này trong nhà!” Ta có thể hiểu là anh bạn tôi đã có một mối quan hệ láng giềng tệ hại thế nào!

Trò đùa kéo dài đến tận sáng ngày và chấm dứt ngay khi bại lộ. Căn phòng thực sự của Chaplain, tại vị trí đắc địa ở một trong những gác chuông của Biệt thự, ngay lập tức được trả lại cho anh. Thật tuyệt vời biết bao khi được ở căn phòng đó trong thời gian lưu trú!

Lễ hội Carnaval vừa kết thúc ở Rome với những cuộc chè chén say sưa phóng túng. Không nổi tiếng bằng ở Venise nhưng chúng cũng không kém phần cuồng nhiệt. Chúng diễn ra trong một khung cảnh hoàn toàn khác, hoành tráng hơn, nếu không muốn nói là thỏa thích hơn. Chúng tôi cùng leo lên một cỗ xe giễu hành lớn do các bạn kiến trúc sư xây dựng và các bạn điêu khắc trang trí. Chúng tôi dành cả ngày để ném tua giấy và hoa tươi cho mọi cô gái Rome xinh đẹp đã đáp lại chúng tôi từ ban công dinh thự của họ trên đường Corso bằng những nụ cười đáng yêu. Chắc chắn là khi Michelet soạn cuốn Phụ nữ xuất sắc và thi vị của mình, để tiếp nối cuốn Tình yêu, ông đã thấy bằng con mắt tâm trí, như chính chúng ta thấy trong đời thực, những hình mẫu mỹ nhân hiếm có, rực rỡ và thật quyến rũ.

Biết bao đổi thay đã diễn ra ở Rome kể từ thời ấy, cái thời mà tinh thần tự do phóng túng và hài hước được dùng như một thứ kim chỉ nam thú vị! Ngày nay dạo bộ trên chính đường Corso này là vô số người Ý kiêu ngạo còn dãy cửa hiệu ở đó phần lớn lại thuộc về các doanh nhân Đức.

Tiến bộ hỡi, mi đã tiến lên bao nhiêu bước!

Một ngày nọ giám đốc thông báo với chúng tôi rằng Hippolyte Flandrin, nhà lãnh đạo lừng lẫy của phong trào tôn giáo trong nghệ thuật thế kỷ 19 đã đến Rome hôm trước, bày tỏ mong muốn được bắt tay các nghệ sĩ lưu trú.

Tôi đâu ngờ rằng bốn mươi sáu năm sau tôi sẽ có dịp nhắc đến chuyến thăm này trong bài diễn văn mà tôi trình bày với tư cách chủ tịch Học viện và Viện hàn lâm Mỹ thuật:

“Cũng trên đường Pincio, đối diện Viện Pháp là một đài phun nước nhỏ mang dáng vẻ một chiếc bình cổ nằm dưới vòm cây xanh với những đường nét tinh tế nổi bật trên đường chân trời xa xa. Chính ở đó, khi trở lại Rome sau ba mươi hai năm, nghệ sĩ vĩ đại Hippolyte Flandrin trước khi vào đền thờ đã nhúng ngón tay như nhúng vào một âu nước thánh và làm dấu thánh giá.”

Thứ nghệ thuật nao lòng, mà ông góp phần nâng tầm đến thế, đã rơi vào tang tóc đúng vào lúc chúng tôi chuẩn bị tới thăm chính thức để cảm tạ nghĩa cử của ông.

Ông sống ở Quảng trường Tây Ban Nha, gần Biệt thự Médicis như ông mong muốn.

Chính tại nhà thờ Saint-Louis des Français, chúng tôi đã đặt lên quan tài của ông những vòng nguyệt quế hái từ khuôn viên Biệt thự mà ông từng vô cùng yêu thích khi còn là nghệ sĩ lưu trú cùng người bạn nhạc sĩ Ambroise Thomas quý mến của mình, người mà ông vừa gặp lại lần cuối cùng ở đỉnh cao vinh quang…

Vài ngày sau, Falguière, Chaplain và tôi lên đường tới Naples. Chúng tôi đi xe ngựa đến tận Palestrina, rồi đi bộ đến Terracina ở cực nam Đầm lầy Pontins, rồi lại đi xe ngựa đến Naples!…

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch