“Ông là một ngôi sao sẽ tỏa sáng mãi mãi.” – Ghena Dimitrova

Trong vòng 30 năm, từ 1960-1990, Nicolai Ghiaurov trở thành một nhân vật không thể thiếu được trên những sân khấu opera quốc tế. Chất giọng bass chắc nịch, sâu sắc kết hợp cùng dáng vẻ oai nghiêm, đường bệ đã lý giải vì sao Ghiaurov luôn được chào đón nồng nhiệt tại khắp các nhà hát opera nổi tiếng nhất trên toàn thế giới. Danh mục biểu diễn của ông trải dài từ Wolfgang Amadeus Mozart, Gioachino Rossini cho đến Giuseppe Verdi hay Giacomo Puccini cũng như rất nhiều vai diễn trong các vở opera của Pháp trong thế kỉ 19 và tất nhiên là với một người Bulgaria từng học tại nhạc viện Tchaikovsky, Nicolai Ghiaurov không thể bỏ qua những vai bass trong các vở opera của những nhạc sĩ Nga như Mikhail Glinka, Pyotr Ilyich Tchaikovsky, Modest Mussorgsky hay Alexander Borodin. Mặc dù trong giọng hát Ghiaurov không hề thiếu âm sắc đặc trưng của những giọng bass có nguồn gốc Slav nhưng khác với những giọng bass đến từ Đông Âu, ngay cả so với Feodor Chaliapin huyền thoại, Ghiaurov sở hữu một sức mạnh tràn đầy cũng như khả năng legato không bao giờ cạn khiến ông trở thành một “quyền lực đáng sợ” với phong thái đầy quyền uy, tạo nên sự khác biệt giữa ông và những đồng nghiệp khác. Ghiaurov xứng đáng là giọng bass số một thế giới kể từ sau Thế chiến thứ hai.

Nicolai Ghiaurov sinh ngày 12/9/1929 tại thị trấn nhỏ Velingrad, một khu nghỉ dưỡng suối khoáng trên dãy núi Rhodope, miền nam Bulgaria “chính xác là nơi mà theo truyền thuyết, Orpheus cũng được sinh ra”. Mặc dù gia đình Ghiaurov không hề giàu có nhưng nhà họ tràn ngập âm nhạc. Cha cậu là một thành viên của dàn hợp xướng nhà thờ tại địa phương và ông đã cho cậu con trai học âm nhạc từ khi còn rất nhỏ. Nicolai ngay lập tức thể hiện năng khiếu âm nhạc tuyệt vời của mình khi có thể chơi tốt bất cứ nhạc cụ nào mà cậu có thể tìm thấy, từ harmonica, violin, clarinet hay piano và sở hữu một giọng hát tuyệt vời. Vì hoàn cảnh gia đình nên những nhạc cụ này hầu hết đều là đi mượn. Mặc dù Nicolai tham gia trong dàn nhạc tại địa phương nhưng niềm đam mê của cậu lúc này không phải âm nhạc mà là thể thao và kịch nghệ. Nicolai là vận động viên xuất sắc trong đội bóng đá và bóng chuyền của thị trấn và khả năng diễn xuất được đông đảo thầy giáo và bạn bè tại trường khen ngợi. Họ khẳng định Nicolai là một tài năng sân khấu tuyệt vời khi vào năm 17 tuổi, cậu có màn hoá thân tuyệt vời vào nhân vật Cavaradossi trong vở kịch La Tosca của Victorien Sardou, tác phẩm gốc của vở opera Tosca (Puccini). Rất nhiều người kì vọng Nicolai sẽ trở thành một diễn viên kịch nói chuyên nghiệp. Tuy nhiên, ngay sau đó cậu phải nhập ngũ.

Tại quân đội, Ghiaurov hoạt động âm nhạc rất tích cực. Anh là một trong những người sáng lập dàn nhạc và hợp xướng lên đến 200 thành viên, và trở thành nhạc trưởng. Trong một lần biểu diễn ca khúc Bài ca về sông Dnieper của Alexander Alexandrov, giọng hát của Ghiaurov được Petko Staynov, nhà soạn nhạc khiếm thị danh tiếng tình cờ nghe được. Ông đã khuyến khích anh theo đuổi âm nhạc một cách chuyên nghiệp và giúp đỡ Ghiaurov gia nhập Học viện Âm nhạc Sofia sau khi ra quân vào năm 1949. Tại đây, Ghiaurov được baritone Christo Brambarov, người từng được đào tạo tại Ý và là một trong những thành viên sáng lập nên trường phái thanh nhạc Bulgaria dìu dắt. Ghiaurov được khuyến khích theo đuổi cả hai phong cách hát bel canto và thanh nhạc Nga, điều hiếm có đối với các nghệ sĩ Slav trong thời kỳ này. Anh thậm chí còn được thầy giáo giao hát vai chính trong L’incoronazione di Poppea (Lễ đăng quang của Poppea) của Claudio Monteverdi: “Tôi cảm thấy đó là một kinh nghiệm rất hữu ích, bởi vì tôi đã quay trở lại với gốc rễ của “bel canto” qua Poppea”. Sau này, Ghiaurov cho rằng khả năng giữ giọng lâu dài của mình là nhờ không bao giờ ép mình quá sức trong những năm đầu học tập. Trong năm đầu tiên, Ghiaurov chỉ luyện thanh trên một quãng tám duy nhất.

Năm 1950, Ghiaurov giành được học bổng tại Nhạc viện Tchaikovsky, Moscow và tốt nghiệp với bằng xuất sắc vào năm 1955, với cả hai chuyên ngành thanh nhạc và chỉ huy dàn nhạc. Hiện tại vẫn còn lưu giữ một đĩa nhạc thu giọng hát của Ghiaurov thời kì này. Qua đây, ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp tuyệt vời tràn đầy sức sống thanh xuân của tuổi trẻ với một phong cách đường bệ đặc trưng, không thể lẫn với bất kì ai, cho thấy một sự nỗ lực học tập miệt mài, không ngừng nghỉ. Trở về nước, ông vẫn chưa quyết định được mình sẽ tập trung vào công việc nào. Tuy nhiên, giải thưởng Grand Prix tại Cuộc thi Thanh nhạc quốc tế ở Paris và huy chương vàng tại Liên hoan Thanh niên Thế giới lần thứ năm ở Warsaw đã giúp Ghiaurov có được sự lựa chọn đúng đắn. Chỉ ít lâu sau, Ghiaurov đã có được vai diễn opera đầu tiên trong sự nghiệp của mình với Don Basilio (Il Barbiere di Siviglia, Rossini) tại Sofia National Opera. Hai năm sau, ông quay trở lại Moscow, cộng tác cùng nhà hát Bolshoi trong Pimen (Boris Godunov, Mussorgsky) và vào ngày 14/10/1957, sự nghiệp quốc tế của Ghiaurov tại phương Tây chính thức bắt đầu khi ông vào vai Ramfis (Aida, Verdi) tại Vienna State Opera. Ghiaurov lần đầu tiên hát tại Ý vào năm 1958 tại Teatro Comunale Bologna trong vai Méphistophélès (Faust, Charles Gounod). Thành công của vở opera nói chung và cá nhân giọng bass nói riêng vang dội đến nỗi La Scala ngay lập tức mời ông đến biểu diễn, nơi Ghiaurov sẽ toả sáng trong suốt nhiều năm sau đó. Ngày 20/2/1960, Ghiaurov lần đầu xuất hiện tại La Scala và là trong Varlaam (Boris Godunov) với người đồng hương lừng danh Boris Christoff trong vai chính. Cuối năm, ông và Christoff tiếp tục diễn cùng nhau trong Don Carlo (Verdi) tại đây. Tuy nhiên, đó là một trải nghiệm không mấy thú vị. Christoff, người nổi tiếng với tính tình không hề dễ chịu của mình, luôn tạo ra mâu thuẫn với các đồng nghiệp, phát sinh tranh chấp với Ghiaurov. Christoff chỉ trích những đồng hương trong nước được chính phủ nâng đỡ bằng những thủ đoạn không chính trực, thiếu trong sáng, vì vậy không xứng đáng được coi trọng. Xung khắc tồi tệ đến mức độ hai người đã lao vào đánh nhau. Sau đó, Christoff đã đẩy câu chuyện đến mức không thể hàn gắn được khi yêu cầu La Scala phải lựa chọn giữa hai người. Và thật trớ trêu, nhà hát đã đứng về phía Ghiaurov và kể từ đó chính chàng ca sĩ trẻ này đã thay thế chính Christoff trong rất nhiều vai diễn.

Ghiaurov nhanh chóng trở thành một trong những giọng bass được chào đón nhất trên thế giới khi chỉ mới hơn 30 tuổi. Ghiaurov cho biết ông cảm thấy rất hài lòng nhưng kèm với đó là vô vàn áp lực khi sự nghiệp phát triển quá nhanh: “Việc thăng tiến nhanh như vậy không hoàn toàn tốt. Tôi chưa có nhiều kinh nghiệm với những vai nhỏ trước đó. Tôi phải hy sinh và tập trung mọi thứ vào việc ca hát. Tôi từ bỏ bóng chuyền và trượt tuyết. Trong mùa diễn opera, tôi thậm chí còn không bơi. Tóc ướt có thể khiến bạn bị cảm lạnh”. Nhớ về những năm tháng bắt đầu sự nghiệp ở Ý, Ghiaurov cười và bình luận: “Những người đóng vai tình nhân trong opera Ý thường là các tenor và soprano, và các nhà quản lý luôn tin tenor sẽ thu hút khán giả, vì vậy nếu bạn không phải tenor, đó sẽ là một bất lợi lớn”. Và với giọng hát tuyệt vời và tài năng sân khấu thiên bẩm, Ghiaurov đã đưa vị thế cá nhân mình lên ngang tầm với bất kỳ ngôi sao opera khác nào. Ngày 28/9/1962, dưới sự chỉ huy của Georg Solti, ông có màn ra mắt tại Covent Garden với vai Guardiano trong La forza del destino (Verdi). Nhà phê bình opera nổi tiếng Alan Blyth là khán giả trong đêm diễn này đã thốt lên: “Màn ra mắt chói sáng với một âm sắc đẹp kì diệu khiến tôi nhận thức được rằng Nicolai Ghiaurov sẽ trở thành một ngôi sao sáng trên bầu trời opera thế giới!”. Blyth đã hoàn toàn chính xác.

Năm 1963, Ghiaurov ra mắt khán giả Mĩ với sự xuất hiện tại Chicago Lyric Opera. Hai năm sau, ông lần đầu hát tại Metropolitan Opera, vào ngày 8/11/1965, tất cả đều trong Méphistophélès. Ghiaurov đã hoàn toàn chinh phục khán giả Mĩ, nhận về vô vàn lời tán dương nồng nhiệt. Harold C. Schonberg viết trên The New York Times. “Ghiaurov đã gây được ấn tượng rất mạnh. Ông không chỉ sở hữu một giọng hát đẹp mà còn rất linh hoạt. Chính nhờ khả năng này mà Ghiaurov thể hiện vô cùng thành công nhân vật Méphistophélès: một con quỷ hoang tưởng, khoác lác và khệnh khạng. Ông chiếm hữu toàn bộ sân khấu bằng một diễn xuất trời phú… Người đàn ông ấy thực sự phi thường, ông không chỉ có một giọng hát xuất chúng mà còn vĩ đại về mọi phương diện. Ông có thần thái, kiểu thần thái mà Pinza và Chaliapin từng có, thứ có thể vượt qua ánh đèn sân khấu và ôm trọn người nghe trong một vòng tay hữu hình”. Ghiaurov tiết lộ rằng đáng lẽ ông đã hát tại Metropolitan Opera sớm hơn nhưng một “sự cố” xảy ra đã “vô tình cản đường”. Rudolf Bing, tổng giám đốc của nhà hát từng tiếp cận Ghiaurov trong một bữa tiệc tại Milan, đề nghị Ghiaurov ký hợp đồng. Đúng lúc đó, Franco Corelli nghe được và tỏ ra “rất kích động”, nói với Bing: “Sao ông dám đề nghị với cậu ấy một mức thấp như vậy?”. Ghiaurov kể lại: “Từ lúc đó, mọi chuyện trong cuộc thảo luận đều hỏng bét”. Dù được yêu mến tại New York, Ghiaurov chưa bao giờ xây dựng một “đại bản doanh” ở đây. Ông vẫn yêu thích ca hát tại châu Âu hơn. Cũng trong năm 1965 này, ông có lần đầu tiên cộng tác cùng Herbert von Karajan khi hát tại liên hoan Âm nhạc Salzburg với vai chính trong Boris Godunov. Với Ghiaurov, các vai nam trầm đều rất khó: “Tôi dựa vào phần âm nhạc gốc, vào những gì nhà soạn nhạc cung cấp, trước hết để thể hiện vai diễn. Sau đó, tôi đọc càng nhiều càng tốt về bối cảnh văn học và lịch sử để đặt tác phẩm vào bối cảnh thực tế” nhưng Boris Godunov ở một đẳng cấp hoàn toàn khác. Ông từng được mời hát vai diễn này trước đó nhưng đã từ chối trong suốt mười năm: “Nếu nhận vai này quá sớm có thể sẽ là thảm họa đối với tôi, giống như một tenor trẻ đảm nhận Otello”. Ghiaurov mô tả Boris như là phiên bản cá nhân của “hai Hamlet và ba Macbeth gộp lại thành một”, khiến ông kiệt sức cả về tinh thần lẫn thể chất. Ghiaurov tin rằng vai diễn này cần được hát đúng cách, chứ không chỉ được sử dụng như một cái cớ cho những màn diễn xuất khoa trương thái quá, vì vậy phần trình diễn của ông trong vai diễn này là một trong những phần chính xác và chuẩn mực nhất từ trước đến nay, như bản thu âm của ông với Karajan sau đó đã chứng minh.

Bất kỳ một giọng bass nào, đặc biệt là những ngôi sao đến từ Đông Âu, đều được đem so sánh với Chaliapin. Với trường hợp của Ghiaurov, ông đáp lại: “Mỗi nghệ sĩ nên được đánh giá dựa trên giá trị riêng của họ. Thành thật mà nói, tôi thà được đánh giá là Ghiaurov thứ nhất – dù là một Ghiaurov nhỏ – hơn là một Chaliapin thứ hai. Ông ấy là một thiên tài, nhưng tôi không muốn bắt chước bất cứ ai”. Trong thập niên 70, 80 của thế kỉ 20, Nicolai Ghiaurov hoàn toàn xứng đáng được coi là người kế tục Chaliapin. Ông trở thành vị vua trên lãnh địa của mình. Ghiaurov sở hữu một kịch mục đa dạng, trải dài từ Mozart đến Mussorgsky và hầu hết chúng đều được thu âm. Ông cười, cho biết: “Tất cả các vai diễn của tôi đều là nhân vật phản diện! Họ hoặc là những người đàn ông phản bội vợ mình, hoặc là những kẻ độc ác”. Sở trường của ông là các vị vua, kẻ chinh phục và nhân vật phản diện trong opera Nga, cũng như tất cả các vai bass trong các tác phẩm của Verdi mà điển hình là vua Philip II (Don Carlo). Cùng với đó cũng không thể không kể đến sự tham gia của Ghiaurov trong các vai diễn opera của Pháp như Méphistophélès, Arkel (Pelléas et Mélisande, Claude Debussy), Laurent (Roméo et Juliette, Gounod) hay Don Quichotte (Don Quichotte, Jules Massenet). Đánh giá lại thành tựu của mình, Ghiaurov cho rằng một phần thành công đến từ nhiều năm học thanh nhạc ở Sofia và Moscow, nhưng cũng một phần nhờ niềm đam mê diễn xuất từ thuở nhỏ, khi ông học theo phương pháp Stanislavski. Là một ca sĩ thể hiện thành công những vai diễn phức tạp như Boris của Mussorgsky và Vua Philip II của Verdi, ông luôn nỗ lực bộc lộ khía cạnh con người: “Đó là niềm vui của tôi với tư cách là một ca sĩ. Tôi cố gắng làm điều đó. Tôi không biết mình có thành công hay không, nhưng tôi đã cố gắng”. Đồng thời, một ca sĩ phải biết từ chối những vai diễn không phù hợp: “Bạn thành công với một vở opera và ngay lập tức mọi người bắt đầu yêu cầu bạn nhiều hơn, nhiều hơn nữa… Tôi có được sự nghiệp lâu dài như vậy là vì nhiều lần tôi đã nói “Không””. Ghiaurov cũng cho biết sự quan trọng của thể chất đối với một ca sĩ opera: “Mỗi lần bước ra sân khấu, bạn phải cống hiến ở mức tối đa – không phải hai hay ba lần một năm như Cassius Clay (tên khai sinh của Muhammad Ali), mà là ba lần mỗi tuần. Bạn luôn phải ở trong trạng thái phong độ cao nhất. Vì thế, người nghệ sĩ, để lúc nào cũng có thể trao đi những gì tốt nhất của mình, phải kỷ luật và sung sức như một vận động viên”.

Năm 1961, Ghiaurov lần đầu gặp gỡ Mirella Freni khi hai người cùng hát trong Faust tại Genoa. Năm 1978, họ kết hôn và thường xuyên định cư tại Modena, quê hương của Freni. Đây đều là lần thứ hai của họ. Hai danh ca thường xuyên biểu diễn cùng nhau và Ghiaurov chính là người đã truyền cho vợ mình niềm cảm hứng đối với những vở opera của Nga, đặc biệt là Eugene Onegin và The Queen of Spades (Tchaikovsky). Đồng thời hai người cũng thường xuyên tổ chức chương trình hoà nhạc, trong đó họ hát nhiều ca khúc của những nhạc sĩ Nga như Glinka, Alexander Dargomyzhsky hay Borodin. Cùng nhau, họ thành lập Centro Universale del bel canto (Trung tâm Quốc tế về Nghệ thuật bel canto) tại Vignola, Modena, tổ chức các lớp master class cho nhiều thế hệ ca sĩ trẻ. Bên cạnh opera, họ còn chia sẻ tình yêu bóng đá. Khi Ý gặp Bulgaria tại bán kết World Cup 1994, Freni đã đuổi chồng mình: “Nếu anh ở phòng khách, em sẽ vào phòng ngủ”. Buổi biểu diễn chung cuối cùng của hai người là vào năm 2002 tại Nga. Tháng 1/2004, ông lần cuối đứng trên sân khấu opera khi hát trong Don Basilio tại Teatro Malibran, Venice, cũng chính là vai diễn đầu tiên trong sự nghiệp của Ghiaurov gần 50 năm về trước. Ghiaurov qua đời ngày 2/6/2004 tại bệnh viện Hesperia, Modena sau một cơn đau tim. Ông thọ 74 tuổi. Nhiều bạn diễn thân thiết đã gửi những lời tiếc thương sâu sắc tới một trong những giọng bass vĩ đại nhất thế kỷ 20. Plácido Domingo thốt lên: “Với sự ra đi của Nicolai Ghiaurov, thế giới âm nhạc đã mất đi một người khổng lồ”. Còn Carlo Bergonzi thì chia sẻ: “Đối với tôi, ông ấy là giọng bass xuất sắc cuối cùng trong lịch sử các vở opera của Verdi. Cái chết của ông ấy để lại một khoảng trống trong thế giới opera”.

Có lẽ Bergonzi đã chính xác. Sự tráng lệ, hùng vĩ, oai nghiêm trong giọng hát của Ghiaurov giờ đây chưa có người thay thế một cách xứng đáng. Đó là một âm vực rộng đến kinh ngạc, nơi ông có thể tự do thể hiện muôn vàn cung bậc cảm xúc; là một âm sắc ấm áp, sâu thẳm nhưng đầy uy lực, đủ sức vang vọng tới mọi ngóc ngách của bất kỳ nhà hát nào. Tất cả hoà quyện cùng với những đường legato mềm mại, dài tưởng chừng bất tận và một năng lực diễn xuất gần như thiên bẩm. Ông không bao giờ lạm dụng giọng hát để làm nổi bật tính cách nhân vật, mà luôn ưu tiên sự tiết chế, chân thành và tính âm nhạc. Sự nghiệp của Ghiaurov, “một ngọn núi gồ ghề với những đỉnh cao” như chính ông đã nhận xét, thành quả của “tham vọng và khát khao đạt tới sự hoàn hảo trong những gì tôi đã quyết tâm thực hiện” đã đặt ra vô vàn thách thức cho nhiều thế hệ ca sĩ sau này. Với những người say mê opera, sự xuất hiện của Ghiaurov, song song với thời kỳ phát triển vượt bậc của công nghệ ghi âm là món quà vô giá vì họ được tận hưởng những gì tuyệt vời nhất, hoàn hảo nhất mà một giọng bass có thể mang lại. Và giờ đây, theo năm tháng, họ vẫn chờ đợi một điều kỳ diệu như vậy có thể xuất hiện thêm một lần nữa.

Cobeo