“Thật kỳ lạ, đối với một người khá nổi tiếng về kỹ thuật sử dụng đũa chỉ huy, bản thân tôi không nhận ra kỹ thuật này. Tôi không nghĩ rằng mình đã từng thực hiện cùng một động tác hai lần trên cùng một khuông nhạc. Mục đích là tìm ra một động tác đáp ứng nhu cầu của một người chơi cụ thể tại một thời điểm cụ thể. Người biểu diễn phải được thoải mái để anh ta biết mình đang ở đâu và được mong đợi điều gì, đồng thời có thể tự do tập trung vào vẻ đẹp của giai điệu. Không có phép thuật nào dính dáng ở đây cả.” – Lorin Maazel

Trong lịch sử âm nhạc cổ điển thế giới, đã có rất nhiều thần đồng chơi nhạc cụ, nhiều ca sĩ nhí được sinh ra với giọng hát thiên thần nhưng không mấy người được coi là thần đồng nhạc trưởng, bởi chỉ huy dàn nhạc là một công việc phức tạp, đòi hỏi nhiều kỹ năng hơn hẳn việc biểu diễn một nhạc cụ đơn lẻ. Để trở thành nhạc trưởng của một dàn nhạc với hàng chục nhạc công không chỉ yêu cầu người nghệ sĩ những tố chất âm nhạc thông thường như sự hiểu biết về tác phẩm, nhạc cảm, kỹ thuật biểu diễn mà còn là khả năng truyền đạt, kinh nghiệm lãnh đạo, gắn kết những con người đó lại với nhau để tạo ra được một thứ duy nhất, âm thanh của toàn bộ dàn nhạc. Lorin Maazel chắc chắn là một thần đồng âm nhạc khi lần đầu đứng trên bục chỉ huy khi chỉ mới chín tuổi và ngay sau đó đã duy trì được một lịch biểu diễn đáng kinh ngạc với một cậu bé khi lần lượt ra mắt các dàn nhạc nổi tiếng nhất trên toàn nước Mỹ. Và đó không chỉ là một hiện tượng nhất thời khi Maazel đã duy trì được sự nghiệp kéo dài tới hơn 70 năm sau đó khi chỉ huy hơn 150 dàn nhạc với không dưới 5.000 buổi hoà nhạc và opera. Một nguồn năng lượng sáng tạo vô bờ bến! Bên cạnh sự nghiệp chỉ huy dàn nhạc, Maazel còn là một nhà soạn nhạc và nghệ sĩ violin tài năng, đủ trình độ để biểu diễn trong bất cứ dàn nhạc danh giá nào. Độc tài và chuyên quyền, không phải lúc nào Maazel cũng mang đến sự hài lòng đối với nhạc công, nhà phê bình hay khán giả nhưng họ không thể phủ nhận tài năng của ông, người sở hữu cao độ hoàn hảo, kỹ năng sử dụng đũa chỉ huy thượng thừa và một trí nhớ như được chụp ảnh. Nắm giữ nhiều cương vị quan trọng tại các dàn nhạc ở Mỹ và châu Âu, Maazel là một cái tên không thể không nhắc đến trong số những nhạc trưởng của thế kỷ 20, vốn không hề thiếu những tài năng sáng chói.

Dòng họ Maazel có nguồn gốc là những người Ukraine Do Thái. Ông nội của Lorin, Isaac sinh ra tại Poltava, Ukraine và đến Mĩ vào những năm 1900, trở thành nghệ sĩ violin của Metropolitan Opera. Cha của Lorin, ông Lincoln là một giảng viên piano và thanh nhạc còn mẹ của cậu, bà Marion “Marie” là một trong những người góp công lớn trong việc thành lập lại Pittsburgh Youth Symphony Orchestra vào năm 1953. Lorin sinh ngày 6/3/1930 tại Neuilly-sur-Seine, Pháp, vùng đất giàu có nằm ngay phía tây Paris. Năm 1932, cả gia đình trở về Mĩ, định cư tại Los Angeles. Năm tuổi, cậu bé bắt đầu học piano và 7 tuổi, học violin với Karl Moldrem. Một trong những tác phẩm dành cho piano mà Lorin học là phiên bản rút gọn Giao hưởng số 94 “Bất ngờ” của Joseph Haydn. Khi con trai mình được 8 tuổi, ông Lincoln đã đưa cho cậu bé phiên bản đầy đủ của bản giao hưởng, cùng với đó là đĩa nhạc thu âm tác phẩm. Lorin đã nghiên cứu cẩn thận và khi cậu bé chỉ huy tác phẩm cho một dàn nhạc nhỏ gồm các thành viên trong gia đình, bố mẹ Lorin nhận ra tài năng thiên bẩm của con trai mình với cách đưa ra những tín hiệu một cách chuẩn xác và tạo được sự cân bằng. Họ quyết định đưa Lorin theo học chỉ huy với Vladimir Bakaleinikoff, lúc này đang là trợ lý nhạc trưởng tại Los Angeles Philharmonic. Khi chỉ mới 8 tuổi, Lorin đã lần đầu tiên trở thành nhạc trưởng khi chỉ huy Giao hưởng số 8 “Bỏ dở” của Franz Schubert cùng University of Idaho Orchestra. Đã có một bài báo về cậu: “Bạn phải dụi mắt để tin vào điều đó, hình dáng nhỏ bé mũm mĩm trong bộ đồ vải lanh trắng này đang điều chỉnh tốc độ cho một dàn nhạc bảy mươi người và đưa ra mọi tín hiệu một cách chính xác”. Nhưng âm nhạc không phải là toàn bộ tuổi thơ của Lorin. Như nhiều đứa trẻ khác, cậu cũng yêu thích bóng chày, trượt tuyết vào mùa đông và dành cả mùa hè ở trang trại. Nhờ mối quan hệ của Bakaleinikoff, một người gốc Nga, Maazel có nhiều cơ hội tiếp xúc với Jascha Heifetz, xem Sergei Rachmaninov luyện tập và nghe Serge Koussevitzky biểu diễn.

Khi Bakaleinikoff chuyển đến làm việc tại Pittsburgh, gia đình Maazel cũng đi theo và cậu bé được cho theo học tại trại âm nhạc Interlochen, Michigan. Tại đây, nhà phê bình âm nhạc Olin Downes của The Times đã tình cờ chứng kiến Lorin 9 tuổi chỉ huy Giao hưởng số 8 “Bỏ dở” cùng National High School Orchestra đã vô cùng thán phục: “Cậu bé đã chỉ huy với nhịp điệu rõ ràng và chắc chắn, mềm dẻo, có tính nhất quán và được điều chỉnh bằng một sắc thái hoàn toàn hợp lý và chính xác”. Một năm sau đó, Lorin và National High School Orchestra đã cùng nhau biểu diễn 11 buổi hoà nhạc tại New York World’s Fair. Danh tiếng về một thần đồng chỉ huy dàn nhạc đã bắt đầu lan xa. Ngay trước sinh nhật lần thứ 10, Lorin đã lần đầu trở thành nhạc trưởng của Pittsburgh Symphony Orchestra. Tháng 7/1941, Arturo Toscanini đã mời cậu bé chỉ huy NBC Symphony Orchestra trong một chương trình phát sóng trên toàn quốc qua radio với những tác phẩm của Richard Wagner, Felix Mendelssohn và Dika Newlin. Nhạc công của dàn nhạc phẫn nộ vì phải làm việc dưới đũa chỉ huy của một người đáng tuổi con cháu mình đã đón chào vị nhạc trưởng nhí trong buổi tập luyện đầu tiên với những chiếc kẹo mút trong miệng. Nhưng ngay sau đó, Lorin đã giành được sự tôn trọng tuyệt đối khi ngay lập tức chỉ ra một chỗ sai của dàn nhạc. Ngày 5/8/1942, Lorin ra mắt tại New York Philharmonic, dàn nhạc danh giá nhất nước Mĩ thời điểm đó, tại sân vận động Lewisohn, Manhattan, trong Giao hưởng số 5 của Ludwig van Beethoven và các tác phẩm khác của Wolfgang Amadeus Mozart và Pyotr Ilyich Tchaikovsky. Nhìn lại những nhạc trưởng tài danh trong quá khứ như Wilhelm Furtwängler, Otto Klemperer hay Karl Böhm phải chật vật tìm kiếm chỗ đứng cho mình khi phải bắt đầu làm việc tại những nhà hát nhỏ, không danh tiếng ở độ tuổi 20 thì việc cậu bé 12 tuổi đã được chỉ huy cùng một trong những dàn nhạc xuất sắc nhất trên thế giới cho thấy danh tiếng của Lorin đã lan xa như thế nào. Chưa đầy 15 tuổi, Lorin đã cộng tác cùng hầu hết những dàn nhạc nổi tiếng nhất trên toàn nước Mĩ. Cậu cũng có một khoảng thời gian ngắn theo học chỉ huy với Pierre Monteux.

Tuy nhiên, khi 15 tuổi, Maazel đặt đũa chỉ huy sang một bên và tập trung vào việc học tập tại Đại học Pittsburgh. Từ nhỏ, căn bệnh viêm amidan mạn tính khiến anh thường xuyên phải ở trong nhà, điều giúp Maazel có cơ hội “đọc, đọc, đọc: trọn bộ Charles Dickens, William Thackeray, tất cả sách của Jane Austen. Có lẽ là bất kỳ thứ gì mà một cậu con trai được khuyến khích đọc cho đến khi tôi 12 tuổi”. Anh theo học ngôn ngữ, toán học và triết học với tuyên bố muốn trở thành nhà văn. Nổi tiếng vì sự uyên bác, Maazel sử dụng thành thạo 5 ngoại ngữ: tiếng Pháp, Đức, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Ý. Mặc dù vậy, trong quá trình học đại học, Maazel không hề xa rời âm nhạc. Năm 1946, Maazel thành lập Fine Arts Quartet, Pittsburgh trong đó anh chơi violin. Năm 1948. Maazel trở thành nghệ sĩ violin của Pittsburgh Symphony Orchestra “thực sự chỉ như một cách trang trải học phí của tôi”. Quãng thời gian này giúp anh có cơ hội được làm việc dưới đũa chỉ huy của nhiều nhạc trưởng nổi tiếng như Leopold Stokowski, Leonard Bernstein, Artur Rodziński và Erich Leinsdorf. Nhớ lại quãng thời gian này, Maazel cho biết: “Tôi làm việc cả ngày, chơi tứ tấu đàn dây, biểu diễn độc tấu violin, đi học từ 8h tối tới nửa đêm các môn kinh tế, văn học, tiếng Pháp và tiếng Nga. Tôi quyết tâm học đại học”. Lời mời chỉ huy dàn nhạc sinh viên tại Tanglewood của Koussevitzky vào mùa hè năm 1951 đã giúp Maazel quay trở về với công việc nhạc trưởng của mình. Sau đó là một loạt chương trình cùng Boston Symphony Orchestra trong các tác phẩm của Igor Stravinsky, Gustav Mahler hay Claude Debussy, ngay trước khi anh lên đường tới Rome, theo học bổng Fullbright để nghiên cứu về âm nhạc Ý thời Baroque. Victor de Sabata là người đã đưa ra lời khuyên với Maazel rằng anh nên tiếp thu nền văn hoá châu Âu. “Nó đã thay đổi cuộc đời tôi”, Maazel cho biết. Sự nghiệp chỉ huy của chàng trai trẻ Maazel tại châu Âu bắt đầu bằng một chương trình tại Teatro Bellini, Catania vào năm 1953 khi vẫn còn là sinh viên. Thành công của đêm nhạc này đã dẫn đến những lời mời gọi khác từ Naples, Florence và thậm chí bên ngoài nước Ý.

Danh tiếng của Maazel ngày càng trở nên nổi bật ở châu Âu. Cho đến năm 1960, ông đã chỉ huy khoảng 300 buổi hoà nhạc với hơn 20 dàn nhạc tại đây. Tài năng vượt trội của Maazel đã đưa ông đến với liên hoan danh giá Bayreuth, ngôi đền thiêng liêng nhất dành cho âm nhạc của Wagner để chỉ huy Lohengrin vào năm 1960. Ở tuổi 30, Maazel là chỉ huy trẻ tuổi nhất, là người Mĩ đầu tiên có được vinh dự này đồng thời cũng là nhạc trưởng Do Thái đầu tiên kể từ sau Thế chiến thứ hai xuất hiện tại đây. Tháng 10/1962, cùng Orchestre National de France, ông có chuyến lưu diễn vòng quanh nước Pháp. Khán giả nước Mĩ dường như đã quên mất Maazel khi ông vắng bóng quá lâu tại đây, cuối cùng cũng được chứng kiến thần đồng thuở nào, lúc này đã trở thành một nghệ sĩ trưởng thành với màn ra mắt của ông tại Metropolitan Opera vào ngày 1/11/1962 trong Don Giovanni (Mozart) với Cesare Siepi hát vai chính và những diễn viên tài danh khác như Eleanor Steber, Nicolai Gedda hay Roberta Peters. Ông cũng nối lại sự hợp tác với New York Philharmonic bằng chương trình vào ngày 13/12/1962 với các bản giao hưởng của Mendelssohn, Beethoven và Concerto violin của Alban Berg (Christian Ferras là nghệ sĩ độc tấu). Sau nhiều năm là nhạc trưởng tự do, cuối cùng Maazel cũng có một dàn nhạc cho riêng mình. Năm 1964, ông được mời làm nhạc trưởng chính của Deutsches Symphonie-Orchester Berlin và năm 1965, kiêm nhiệm thêm công việc tại Deutsche Oper Berlin. Cùng một lúc nắm giữ một dàn nhạc và một nhà hát opera, uy tín và tài năng của Maazel ngày càng được khẳng định. Bên cạnh đó, Maazel trở thành nhạc trưởng quen thuộc của những dàn nhạc hàng đầu thế giới như Berlin Philharmonic và Vienna Philharmonic. Ông cũng có được những hợp đồng thu âm với những tên tuổi lừng danh như Deutsche Grammophon và Decca.

Maazel lần đầu chỉ huy Cleveland Orchestra vào ngày 14/3/1943. Giám đốc âm nhạc khi đó là Rodziński, người chuẩn bị chia tay dàn nhạc để chuyển sang New York Philharmonic đã nửa đùa nửa thật: “Hãy nhìn Maazel đi, có thể cậu ấy sẽ là nhạc trưởng tiếp theo của các bạn”. Sau gần 30 năm, “lời tiên đoán” này đã thành sự thật. Sau khi George Szell qua đời, Maazel được lựa chọn để trở thành giám đốc âm nhạc tiếp theo của Cleveland Orchestra, bất chấp những nghi ngại rằng phong cách của Maazel có thể sẽ phá vỡ những gì mà Szell đã dày công vun đắp. Quay trở về Mĩ với một hợp đồng ghi âm của Decca, Maazel đã nhanh chóng xoá bỏ những định kiến, dẫn dắt Cleveland Orchestra đến những thành công mới, thực hiện vô số bản thu âm, khẳng định vị trí là một trong những dàn nhạc hàng đầu trên thế giới. Tại Cleveland cũng như Berlin trước đó, Maazel vẫn duy trì một phong thái làm việc cũ theo truyền thống là dành phần lớn thời gian cho dàn nhạc trong suốt mùa diễn, thay vì chỉ gắn bó trong khoảng hơn chục tuần lễ và dành phần còn lại cho những nhạc trưởng khách mời như thông lệ tại thời điểm đó. Năm 1977, ông trở thành nhạc trưởng khách mời chính của Orchestre National de France, cương vị mà Maazel nắm giữ cho đến năm 1988.

Những diễn giải của Maazel mang tính cá nhân cao và không phải lúc nào cũng thuyết phục được người khác, như Alex Ross đã nhận xét trên The New Yorker: “Ông ấy là không thể đoán trước. Những màn trình diễn của ông tôi được chứng kiến trong nhiều năm qua trải dài từ hấp dẫn đến phản cảm, với một vài sắc thái rất khó diễn tả ở phần giữa”. Maazel được mọi người tôn sùng vì kỹ năng sử dụng đũa chỉ huy cũng như trí nhớ phi thường, rất hiếm khi sử dụng tổng phổ khi biểu diễn. Nhưng ông cũng thường bị chỉ trích vì đã sử dụng khả năng tuyệt vời của mình để làm biến dạng những câu nhạc và sắp xếp lại sự cân bằng nội tại để phục vụ cho một tầm nhìn khác thường. John Rockwell đã viết trên New York Times: “Ông ấy rõ ràng là một người tài giỏi, có lẽ quá xuất sắc để hài lòng với việc tái tạo vô tận các tiết mục tiêu chuẩn. Dường như ông cũng là một người lạnh lùng và có lẽ sự lạnh lùng đó đã phủ lên công việc của ông một lớp băng… Khi ông ấy toả sáng, sẽ mang đến cho ký ức những màn trình diễn tuyệt vời nhất, say mê nhất, sâu sắc nhất. Khi ông ấy giỏi, đơn giản ông ấy là một trong những nhạc trưởng vĩ đại nhất mọi thời đại. Tuy nhiên, một cách đầy bí ẩn, cực khó dự đoán khi nào ông ấy sẽ giỏi, và giỏi trong tác phẩm nào”. Nổi tiếng từ khi còn quá trẻ, Maazel được biết đến là một người tự tin, cứng đầu và kiêu ngạo. Vì vậy, trong quá trình làm việc, ông luôn có những va chạm với nhạc công cũng như những người quản lý dàn nhạc. Năm 1982, Maazel chia tay Cleveland Orchestra mà như ông tự đánh giá: “mối quan hệ ít nhiều vẫn còn rạn nứt cho đến cuối cùng”.

Năm 1980, Maazel trở thành nhạc trưởng đầu tiên không phải người Áo chỉ huy buổi hoà nhạc Chào đón năm mới định kỳ của Vienna Philharmonic. Năm 1982, ông trở thành nhạc trưởng Mĩ đầu tiên làm tổng giám đốc của Vienna State Opera với nhiệm kỳ 4 năm. Mâu thuẫn đã xảy ra khi Maazel cho biết “các vở opera sẽ một lần nữa được chỉ huy theo phong cách của Mahler và Strauss”, điều khiến ban quản lý nhà hát, vốn mong muốn nhiều sự đổi mới hơn nữa phật lòng. Maazel rời đi vào năm 1984. Ông tuyên bố mình được giải phóng, trở về công việc của một nhạc trưởng tự do như những năm đầu sự nghiệp: “Tôi đã làm việc với tư cách là một nhà quản lý âm nhạc cũng như nhạc trưởng trong 20 năm, và trong thời gian đó, tôi đã dành gần như toàn bộ sự chú ý của mình cho các tổ chức mà tôi làm việc – sáu năm ở Berlin, mười ở Cleveland, ba ở Vienna. Tôi đã chỉ huy 132 dàn nhạc, nhưng trong 20 năm qua, tôi không chỉ huy nhiều hơn bảy hoặc tám dàn nhạc. Vì vậy, bây giờ tôi rất vui khi được đi vòng quanh thế giới, gặp gỡ những người mới chỉ biết đến tôi qua băng đĩa và truyền hình. Tôi giống như một đứa trẻ được rời khỏi trường học”. Tuy nhiên, ông không cưỡng lại được lời mời của Pittsburgh Symphony Orchestra khi đồng ý trở thành cố vấn âm nhạc vào năm 1984. Năm sau, chức danh của ông được nâng cấp thành chỉ huy khách mời chính và cuối cùng năm 1988, trở thành giám đốc âm nhạc. Cũng trong năm này, từ cương vị nhạc trưởng khách mời chính, Maazel trở thành giám đốc âm nhạc của Orchestre National de France. Nhưng giờ đây, ông không dành quá nhiều thời gian cho một dàn nhạc nào và có xu hướng tự do hơn. Maazel ghi dấu ấn đậm nét tại London khi chỉ huy trọn bộ 9 bản giao hưởng của Beethoven trong một chương trình kéo dài 10 tiếng rưỡi đồng hồ vào năm 1988.

Khi Herbert von Karajan chia tay Berlin Philharmonic vào năm 1989, Maazel được coi là một trong những ứng cử viên đầy tiềm năng. Tuy nhiên cuối cùng Claudio Abbado mới là người được lựa chọn. Maazel đã huỷ bỏ các chương trình của mình với Berlin Philharmonic với lý do Abbado cần có thêm thời gian để xây dựng dàn nhạc chứ không phải vì tức giận. Năm 1993, Maazel trở thành nhạc trưởng chính của Bavarian Radio Symphony Orchestra, thay thế cho Colin Davis. Với mức lương 3,8 triệu đô la Mĩ/năm, Maazel là chỉ huy dàn nhạc được trả lương cao nhất thế giới tại thời điểm đó. Nghệ sĩ double bass của dàn nhạc Otmar Kopold thán phục: “Ông ấy chắc chắn là một thiên tài – thiên tài với mọi nghĩa của từ này. Với kỹ thuật hoàn hảo của mình, ông ấy đã truyền tải cảm giác an toàn không thể lay chuyển cho dàn nhạc”. Cùng với dàn nhạc, Maazel đã tạo ra một cột mốc quan trọng khi tổ chức các chương trình hoà nhạc quy mô lớn, tập trung vào tác phẩm của duy nhất một nhà soạn nhạc. Khán giả Munich đã tán thưởng và nhiệt tình hưởng ứng với trọn bộ các bản giao hưởng của Beethoven (1995 và 2000), Johannes Brahms (1998), Richard Strauss (1998), Mozart và Anton Bruckner (1999) cũng như Schubert (2001). Maazel chia tay dàn nhạc và khán giả Munich với một chu trình các bản giao hưởng của Mahler vào năm 2002.

Trong thập niên 90, Maazel quay trở lại với thú vui thời trai trẻ là công việc sáng tác. Đó là các tác phẩm Âm nhạc dành cho cello và dàn nhạc (được Mstislav Rostropovich đặt hàng), Âm nhạc dành cho flute và dàn nhạc (được Jean-Pierre Rampal đề nghị) và Âm nhạc dành cho violin và dàn nhạc do chính ông biểu diễn. Ông cũng sáng tác vở opera 1984, dựa theo tiểu thuyết của George Orwell, được ra mắt tại Royal Opera House vào ngày 3/5/2005 với sự tham gia của Simon Keenlyside và Diana Damrau. Ngoài ra, Maazel còn chuyển soạn một số trích đoạn từ Der Ring des Nibelungen (Wagner) cho dàn nhạc với thời lượng khoảng 70 phút, lấy tên gọi Chiếc nhẫn không lời. Với Chiếc nhẫn không lời này, Maazel đã có sự quay lại cùng New York Philharmonic vào ngày 16/11/2000, sau khoảng hơn 23 năm gián đoạn, trong chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới nhân dịp sinh nhật lần thứ 70 của ông. Chương trình này đã nhận được nhiều đánh giá tích cực đến nỗi chỉ hai tháng sau, New York Philharmonic thông báo Maazel sẽ trở thành giám đốc âm nhạc tiếp theo của dàn nhạc từ năm 2002. Dấu ấn đậm nét nhất của ông trong nhiệm kỳ này là chuyến lưu diễn lịch sử tới Bắc Triều Tiên vào ngày 26/2/2008, đánh dấu việc lần đầu tiên một dàn nhạc Mĩ xuất hiện tại đất nước này kể từ sau cuộc Chiến tranh Triều Tiên, một sự kiện văn hoá quan trọng. Maazel cho biết: “Tôi luôn tin rằng nghệ thuật, về bản chất, và những người biểu diễn chúng, nghệ sĩ, có vai trò rộng lớn hơn trong những khu vực công cộng. Nhưng nó phải hoàn toàn phi chính trị, phi đảng phái và tự do ngôn luận. Đó là vị trí cao nhất có thể; mang các dân tộc và nền văn hóa của họ lại với nhau trên một nền tảng chung, nơi gốc rễ của sự trao đổi hòa bình có thể không thể cảm nhận được nhưng không thể thay đổi”.

Maazel vẫn luôn hoạt động không ngừng nghỉ cho đến khi đã ngoài 80 tuổi. Năm 2013, ông đã chỉ huy 102 buổi hòa nhạc, biểu diễn 72 tác phẩm tại 28 thành phố của 16 quốc gia. Đến đầu năm 2014, ông phải huỷ bỏ toàn bộ các chương trình do sức khoẻ yếu đồng thời từ chức giám đốc âm nhạc của Munich Philharmonic mà ông đã nhận kể từ mùa diễn 2012-2013. Maazel qua đời ngày 13/7/2014 tại điền trang Castleton, Virginia vì những biến chứng của bệnh viêm phổi, hưởng thọ 84 tuổi. Tại nơi đây, từ năm 2009, Maazel đã thành lập liên hoan âm nhạc Castleton đồng thời là trường học mùa hè cho hơn 500 nhạc công và ca sĩ trẻ triển vọng. Maazel đã mô tả việc làm việc với họ là một “công việc còn hơn cả tình yêu – là niềm vui”. Ông đã cống hiến 75 năm cho âm nhạc và để lại một di sản đồ sộ với hơn 300 bản ghi âm của rất nhiều nhà soạn nhạc khác nhau. Cùng với đó là một cá tính nổi bật với sự lạnh lùng và không khoan nhượng như Deborah Borda, người từng là giám đốc điều hành của cả Los Angeles và New York Philharmonic đã nhận xét: “Ông ấy bị thiên tài sâu sắc và cảm nhận về âm nhạc của mình cô lập một phần. Ông không né tránh những quyết định khó khăn hay theo đuổi thẩm mỹ của riêng mình”. Tất cả những điều đó đã tạo nên một diện mạo không thể lẫn vào đâu được của “thần đồng chỉ huy” Lorin Maazel.

Cobeo