“Đối với tôi, ca hát là sự kết hợp của những nốt nhạc và tầm nhìn. Tôi phải nhìn thấy hình ảnh khi tôi hát, và khi tôi không có những hình ảnh đó trong đầu, tôi không thoải mái. Ca hát phải là một niềm đam mê, như lời cầu nguyện của con chiên mộ đạo, người luôn trăn trnhaccodien.vn/wp-admin/post-new.phpở tìm cách trau dồi lời cầu nguyện của mình để thông điệp trở nên rõ ràng hơn. Tôi không phải là một người sùng đạo – hoàn toàn không phải – nhưng tôi biết nó như thế nào. Trong ca hát, mọi thứ phải diễn ra trong tinh thần, trong tâm hồn.” – Martti Talvela

Martti Talvela có thể được coi là một trong những ca sĩ Phần Lan quan trọng nhất mọi thời đại và là một trong những giọng bass vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Với vóc dáng cao lớn, vạm vỡ và một giọng bass sâu thẳm, dày dặn, Talvela sừng sững trên sân khấu và chinh phục mọi khán giả, đặc biệt trong những vai diễn đòi hỏi uy quyền và sức mạnh như Boris Godunov (Boris Godunov, Modest Mussorgsky), Sarastro (Die Zauberflöte, Wolfgang Amadeus Mozart), Grand Inquisitor (Don Carlo, Giuseppe Verdi) hay các vai bass trong opera của Richard Wagner. Talvela còn thường xuyên xuất hiện trên sân khấu trong các ca khúc thính phòng, nổi bật với lied của Franz Schubert, Robert Schumann, romance của những nhà soạn nhạc Nga và không thể kể đến các bài hát của nhạc sĩ đồng hương Jean Sibelius. Với tài năng và những thành tựu phi thường của mình, Talvela đã góp phần quan trọng để đưa vị thế của đất nước Phần Lan trở nên nổi tiếng hơn trong thế giới nhạc cổ điển.

Martti Talvela sinh ngày 4/2/1935 tại Hiitola, Phần Lan trong một gia đình nông dân có 10 người con, Martti là đứa con thứ tám. Cả cha và mẹ cậu bé đều tham gia nhiệt tình trong dàn hợp xướng địa phương. Cha Martti còn là một nghệ sĩ violin nghiệp dư. Martti từng kiếm được khoản tiền đầu tiên lúc mới lên 5 tuổi khi cậu bé hát cho những người dân xung quanh. Tình yêu opera đã đến với Martti trong một lần được xem Boris Godunov với giọng bass người Nga Ivan Petrov trong vai chính. Trong thời gian diễn ra cuộc Chiến tranh Mùa đông (tháng 11/1939-3/1940) và Chiến tranh Tiếp diễn (tháng 6/1941-9/1944), gia đình họ phải di tản qua nhiều địa phương, cuối cùng định cư tại làng Tönnönkoski, Orimattila, cách Helsinki gần 100km về phía Bắc. Sau khi tốt nghiệp trung học, năm 1952, Martti đến Savonlinna với mong muốn trở thành giáo viên tiểu học tại trường cao đẳng sư phạm ở đó. Tại đây, anh quen Annukka Kääriäinen, người sau này sẽ trở thành vợ của Martti. Annukka là người ủng hộ nhiệt thành và đóng góp những lời khuyên mang tính lý trí trong con đường sự nghiệp của chồng, người không phải lúc nào cũng có được những suy nghĩ thấu đáo.

Niềm đam mê ca hát của Talvela đã xuất hiện từ rất sớm, nhưng phải đến khi học đại học, anh mới bắt đầu tiếp thu kiến thức và nền tảng âm nhạc. Trong kỳ nghỉ hè của mình, anh bắt đầu học hát. Ngoài ra, với vóc dáng cao lớn (khoảng 2m), anh còn tham gia luyện tập quyền anh, bộ môn mà Talvela cũng có được những thành công nhất định. Chính những buổi rèn luyện như vậy đã giúp cho Talvela có được sức chịu đựng cần thiết cho những vai diễn phức tạp và khó khăn nhất của mình sau này. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1956, Talvela tham gia nghĩa vụ quân sự bắt buộc và trở thành giáo viên tiểu học từ năm 1957 đồng thời theo học thanh nhạc một cách bài bản hơn. Đầu năm 1960, Talvela giành giải nhất trong cuộc thi hát mang tên Vaasa do trường đại học Klemetti-Opisto tổ chức. Tuy nhiên, anh vẫn chưa thực sự tự tin khi bước lên sân khấu. Trong cuộc trả lời phỏng vấn sau đó, Talvela thú nhận: “Tôi mắc chứng sợ sân khấu khủng khiếp; tôi cảm thấy đau bụng trước khi xuất hiện tại Vaasa”. Nhận được nhiều lời đề nghị biểu diễn, anh đã quyết tâm từ bỏ công việc dạy học để theo đuổi âm nhạc. Tháng 3/1960, Talvela đã có được vai diễn đầu tiên trong sự nghiệp của mình khi anh hát trong Sparafucile (Rigoletto, Verdi) tại Nhà hát opera quốc gia Phần Lan, Helsinki. Các nhà phê bình nhất trí tuyên bố anh là phát hiện tuyệt vời và một tài năng đầy hứa hẹn, nhưng ban quản lý nhà hát rõ ràng không có cùng quan điểm. Họ từ chối cho Talvela tiếp tục biểu diễn. Tháng 11/1960, Talvela tổ chức một chương trình hoà nhạc tại nhạc viện Sibelius, Helsinki, trong đó anh hát các ca khúc của Schumann, Seppo Nummi và Yrjö Kilpinen cũng như một số aria. Thành công rất tuyệt vời. Trong số khán giả có Erik Tawaststjerna, nhà phê bình của Helsingin Sanomat, tờ báo rất có uy tín tại Phần Lan. Tawaststjerna đã đưa ra những nhận xét: “Chất lượng giọng hát của anh ấy hướng đến Metropolitan Opera. Tôi chưa bao giờ nghe thấy một giọng bass Phần Lan hát với chất giọng đầy nội lực, phong phú và đa dạng như vậy”. Tawaststjerna có góc nhìn rất chính xác, ông cũng là người đưa ra quan điểm nghiêm khắc: “Martti Talvela hoàn toàn cần phải phát triển kỹ thuật ca hát của mình đến mức hoàn toàn kiểm soát được”.

Bị cho là không xứng đáng với Nhà hát opera quốc gia Phần Lan, năm 1961, Talvela đến Stockholm để nâng cao trình độ biểu diễn của mình với giảng viên Martin Öhman và vào mùa thu, ông được nhận vào làm việc tại Nhà hát opera hoàng gia Stockholm. Với sự nổi bật trong Commendatore (Don Giovanni, Mozart), Talvela đã thu hút được sự chú ý của Wieland Wagner, cháu nội Richard Wagner, người đang nắm giữ cương vị giám đốc Liên hoan Bayreuth, liên hoan opera Wagner lớn nhất thế giới. Biết được tin xuất hiện một giọng bass mới đình đám ở Stockholm, Wieland đã mởi Talvela tới Tây Berlin để thử giọng và mùa hè năm 1962, Talvela đã hát trong Titurel (Parsifal, Wagner) tại liên hoan Bayreuth. Và từ tháng 9/1962, ông trở thành ca sĩ của Deutsche Oper, Berlin. Wieland nhận ra tài năng đặc biệt của Talvela và mời những thầy giáo thanh nhạc tốt nhất để dìu dắt ông. Wieland đặt ra những yêu cầu khắt khe với giọng bass trẻ. Talvela phải hát các vai tiếng Đức, tiếng Ý và sau đó là tiếng Pháp và tiếng Nga. Ông đã thể hiện một sự kiên trì và gan dạ khác thường. Tuy nhiên, thời gian đầu ở Đức tỏ ra vô cùng khó khăn đối với Talvela. Ông thường xuyên bị trầm cảm và tỏ ra nghi ngờ bản thân mình. Erwin Gripenberg, người mà Talvela sống tại nhà ông khi còn ở Stockholm đã nói: “Ở bên trong Martti có một sức mạnh và sự mong manh, một lòng tự trọng bẩm sinh và xu hướng tự đánh giá thấp bản thân, một trí thông minh bị mỉa mai, và ơn trời, tâm hồn ngây thơ của một đứa trẻ”.

Với sự khổ luyện bền bỉ và kiên định, Talvela nhanh chóng khẳng định được tài năng của mình và có được nhiều vai diễn quan trọng tại Deutsche Oper. Ngày 12/12/1963, Talvela có màn ra mắt tại La Scala trong Grand Inquisitor bên cạnh những tên tuổi lớn khác như Bruno Prevedi, Leyla Gencer, Ettore Bastianini, Fiorenza Cossotto và Nicolai Ghiaurov. Ghiaurov và Talvela đã tạo ra một màn đối đầu ngoạn mục trong “Il grande Inquisitor”, duet hiếm hoi dành cho 2 giọng bass. Một sức mạnh khủng khiếp thể hiện sự xung khắc kịch liệt. Sau màn biểu diễn Don Carlo tại Nhà hát Opera Düsseldorf vào năm 1964, lần này trong Philip II, Rheinische Post đã nhận xét rằng đó là sự hiện diện bùng nổ trên sân khấu và đa dạng trong giọng hát tuyệt vời. Giọng hát của Talvela đã được phát triển đầy đủ và toát ra một vẻ đẹp choáng ngợp. Không có gì ngạc nhiên khi tờ báo kết luận rằng Talvela đã trở thành một ca sĩ đẳng cấp thế giới. Ngày 16/5/1964, Talvela lần đầu xuất hiện tại Vienna State Opera trong Heinrich der Vogler (Lohengrin, Wagner) dưới sự chỉ huy của Karl Böhm. Năm 1966, Talvela gây xôn xao báo chí Đức khi tuyên bố sẽ không hát ở Bayreuth nữa. Ông muốn dành mùa hè của mình tại Anttola, Phần Lan. Tình bạn thân thiết giữa Talvela và Wieland đã rạn nứt vì Wieland không thể hiểu làm thế nào mà ai đó có thể từ bỏ Bayreuth vì mùa hè Phần Lan. “Nhưng cũng giống như bài hát, tôi cần hồ, cá và rừng của mình để được hạnh phúc”, người nông dân Phần Lan chính hiệu cho biết.

Talvela sở hữu một tính cách dứt khoát và không khoan nhượng, điều này đôi khi mang lại những xung đột lớn. Ông không cúi đầu trước bất cứ ai. Mối quan hệ giữa ông và Herbert von Karajan bắt dầu vào giữa những năm 1960 trong Boris Godunov với Talvela hát vai Pimen và tiếp tục sau đó là thành công tại lễ hội Phục sinh Salzburg năm 1968. Tuy nhiên, sau đó Talvela đã chấm dứt quan hệ với Karajan: “Bản chất tôi không phải là tay sai và Karajan cần những người như vậy tại cung điện của ông ấy, là những ai có được hạnh phúc trần gian chỉ từ cái chạm nhẹ vào chiếc áo choàng của ông ấy, vì vậy việc đưa ra quyết định thực sự là một công việc khá dễ dàng. Thật đáng tiếc, Karajan là một nhạc trưởng vô cùng tài ba và tạo ra âm nhạc ở đẳng cấp cao nhất. Nhưng thật an ủi khi biết rằng có những nhạc trưởng giỏi khác trên thế giới và cơ hội việc làm dường như không cạn kiệt vì điều này”, Talvela giải thích với Helsingin Sanomat vào ngày 30/3/1969. Talvela đã được cộng tác với những nhạc trưởng hàng đầu khác trong sự nghiệp của mình như Otto Klemperer, Georg Solti, George Szell, Leonard Bertstein và Lorin Maazel.

Tháng 2/1968, Talvela lần đầu tiên ra mắt khán giả Mỹ trong Requiem (Verdi) tại Cleveland và New York, đây cũng là một trong những phần biểu diễn tuyệt vời nhất trong sự nghiệp của ông. Ngày 7/10/1968, với Grand Inquisitor, ông ra mắt khán giả Metropolitan Opera và vẫn là bên cạnh Ghiaurov, đây cũng là lần xuất hiện đầu tiên tại nhà hát này của Claudio Abbado trong vai trò nhạc trưởng. Irving Kolodin đã bình luận trên Saturday Review: “Các ca sĩ mới hiếm khi khiến người ta quên đi màn ra mắt tại Metropolitan nhanh chóng như Talvela đã làm, hoặc khẳng định được quyền uy lâu dài trong một cảnh duy nhất. Tuy nhiên, với chiếc áo choàng đỏ rực làm tăng chiều cao ấn tượng của ông (6 feet, 7 inch) và âm thanh mạnh mẽ, tối phù hợp với bất kỳ ý tưởng hợp lý cho âm nhạc của vai diễn này, giọng bass của Phần Lan đã được ủng hộ chỉ sau một hoặc hai đoạn nhạc”. Ngày 9/91970, dưới sự chỉ huy của Solti, Talvela đã hát lần đầu tại Covent Garden trong Fasolt (Das Rheingold). Boris Godunov là vở opera đầu tiên mà Talvela thưởng thức và đương nhiên sẽ là một đỉnh cao mà ông muốn chinh phục. Tháng 1/1967, lần đầu tiên ông hoá thân vào vai diễn này tại Düsseldorf và sau đó mùa xuân năm 1971, tại Berlin và Munich. Süddeutsche Zeitung đánh giá Boris Godunov của Talvela là sự kết hợp giữa một nhân vật thống trị tuyệt đối, một khả năng nguyên bản mạnh mẽ với sự tuyệt vọng và kinh dị đến nghẹt thở. Trong suốt cuộc đời của mình, Talvela đã đóng vai này hơn 200 lần và là một Boris Godonov ấn tượng nhất trong thời kỳ của mình. Với Talvela, Mussorgsky là người vĩ đại nhất, ngôn ngữ âm nhạc của Mussorgsky hoàn toàn thuộc về Talvela. Ông cũng thường xuyên biểu diễn tập bài hát Những bài hát và điệu nhảy của Thần chết (Mussorgsky) dưới cả hai phiên bản (với piano và với dàn nhạc).

Talvela sở hữu một giọng hát đồ sộ, âm vực rộng và có thể mang đến các vai diễn của mình sự uy quyền, hào hoa và lịch lãm. Ông sở hữu những đường legato liền mạch, đầy biểu cảm và sự sâu thẳm đầy sức mạnh và huyền bí của một giọng bass profondo. Talvela được coi là diễn giải viên hoàn hảo cho những vai bi kịch và nghiêm túc, đặc biệt trong những vai thần thánh giọng bass của Wagner. Nhưng ông cũng thể hiện những khía cạnh hài hước tuyệt vời như trong Osmin (Die entführung aus dem Serail, Mozart) hay Kecal (Cô dâu bị đánh tráo, Bedřich Smetana). Cùng với opera, các ca khúc nghệ thuật đã trở thành sợi chỉ xuyên suốt trong sự nghiệp của Talvela. Tháng 4/1965, ông tổ chức một chương trình hoà nhạc tại Vienna với các bài hát của Mussorgsky, Sibelius, Sergei Rachmaninov và Kilpinen, nhà soạn nhạc Phần Lan đầu thế kỷ 20 với gần 800 ca khúc theo phong cách lied. Ông từng hơn 200 lần thực hiện các chương trình như vậy là nhà vô địch trong việc biểu diễn các ca khúc nghệ thuật của những nhà soạn nhạc đồng hương như Sibelius và Kilpinen.

Với đất nước Phần Lan, cái tên Talvela đã trở thành một niềm tự hào dân tộc và đồng nghĩa với sự thành công. Talvela là một người có tầm nhìn xa trông rộng và một nhà lãnh đạo bẩm sinh. Chỉ tập trung hoàn toàn vào giọng hát và nghệ thuật của bản thân là không đủ đối với ông, cho dù nó có mang lại bao nhiêu danh tiếng và tiền bạc đi chăng nữa. Ông muốn có cơ hội sử dụng kinh nghiệm và kỹ năng mà mình có được với tư cách là một ca sĩ nổi tiếng trên trường quốc tế để phát triển thế giới opera nói riêng và âm nhạc nói chung tại Phần Lan. Năm 1972, ông đảm nhiệm cương vị giám đốc nghệ thuật của liên hoan opera Savonlinna được diễn ra hàng năm. Talvela có tham vọng muốn đất nước của mình khiến thế giới phải ngạc nhiên về nguồn tài nguyên nghệ thuật phong phú, ông cho biết: “Điều tôi mong mỏi là có cơ hội cho thế giới thấy một quốc gia nhỏ bé của chúng ta có khả năng như thế nào, có được sự khác biệt và sức mạnh như thế nào”. Và Talvela thực sự đã nhanh chóng đưa liên hoan Savonlinna trở nên nổi tiếng quốc tế, chứng tỏ niềm tin của anh vào sức mạnh của âm nhạc Phần Lan không phải là không có cơ sở. Rất nhiều vở opera đã được tổ chức thành công ở đây, bao gồm các tác phẩm của chính những nhà soạn nhạc đương đại Phần Lan. Nổi bật có Viimeiset kiusaukset (Những cám dỗ cuối cùng) của Joonas Kokkonen, trong đó vai chính Paavo Ruotsalainen, nhà thuyết giáo, người đã trở thành lãnh đạo của phong trào tôn giáo Thức tỉnh ở Phần Lan vào đầu thế kỷ 19, được dành tặng cho chính Talvela.

Sức khoẻ của Talvela giảm sút vào năm 1974 khi ông bị chẩn đoán mắc bệnh gút và tiểu đường. Ngoài ra, ông thường xuyên bị cảm lạnh, viêm phế quản và viêm xoang. Cân nặng của ông cũng là vấn đề với trọng lượng lên đến 136kg. Nhưng những nguy cơ về bệnh tật không làm giảm đi xu hướng muốn làm tất cả mọi thứ của Talvela, dù là nhưng vai diễn opera khó khăn nhất hay chăn dắt một đàn cừu tại điền trang của mình. Một trong những đỉnh cao đối với sự nghiệp của Talvela đến vào mùa thu năm 1977, khi ông xuất hiện với Boris Godunov ở Leningrad và Moscow, đạt được thành công vang dội – ngay cả khi ông bị cảm lạnh nặng ở Moscow. Nhà phê bình kỳ cựu Mikhail Byalik đã nhận xét: “Đó là một trận động đất; trong tác phẩm này, một nghệ sĩ thiên tài đã đạt được tầm cao của thảm kịch”. Talvela gắn bó với liên hoan Savonlinna cho tới năm 1979. Khi chia tay, dường như Talvela cảm thấy nhẹ nhõm khi thoát khỏi cương vị giám đốc, đặc biệt là các mối quan hệ với các chính trị gia và những người có thẩm quyền quyết định vận mệnh của liên hoan. Ông cũng dần rút lui khỏi các cuộc biểu diễn quốc tế, tập trung vào những công việc đồng áng tại khu đất mới mua ở Inkilänhovi, Juva, cách Helsinki 270km về phía đông bắc.

Trong những năm 1980, dù đã giảm dần số buổi biểu diễn nhưng Talvela vẫn ghi dấu ấn của mình tại các nhà hát trên thế giới với những vai như Dosifei (Khovanshchina, Mussogrsky), Jacopo Fiesco (Simon Boccanegra, Verdi) hay Padre Guardiano (La forza del destino,Verdi) bất chấp việc ông từng hai lần lên cơn đau tim. Trong ông vẫn tràn trề sức sáng tạo. Năm 1989, Talvela được bổ nhiệm làm tổng giám đốc tại Nhà hát opera quốc gia Phần Lan, nơi chứng kiến bước khởi đầu cho sự nghiệp huy hoàng của ông, nhiệm kỳ 5 năm bắt đầu từ tháng 8/1992. Ông đã có những kế hoạch tuyệt vời và Talvela đã hứa rằng dưới sự lãnh đạo của mình, nhà hát mới được xây dựng sẽ trở thành sân khấu opera hàng đầu của châu Âu. Tuy nhiên, mọi thứ chưa được thực hiện thì đất nước Phần Lan nhận được một tin tức chấn động: Talvela đã qua đời ở tuổi 54 vào ngày 23/8/1989 tại trang trại của ông ở Juva trong khi đang tham dự đám cưới con gái mình vì một cơn đau tim. Báu vật quốc gia và là nhân vật nổi tiếng nhất của Phần Lan trong âm nhạc kể từ khi Sibelius mất đã vĩnh viễn ra đi.

Talvela đã là một thầy giáo trước khi trở thành ca sĩ. Nhưng ông chưa bao giờ thực sự dạy thanh nhạc. Tuy nhiên, Talvela vẫn có những lời khuyên bổ ích dành cho những ca sĩ trẻ. Để trở thành một nghệ sĩ opera, kỹ thuật là không đủ, giọng hát đẹp cũng như vậy. Tất nhiên những điều đó là quan trọng, nhưng điều giá trị nhất là phải thể hiện được thông điệp nghệ thuật. Nếu như không có điều này thì không thể trở thành ca sĩ. Thật bất hạnh nếu như sở hữu một giọng hát tốt với kỹ thuật điêu luyện nhưng không biết phải làm gì với chúng. Và cũng thật bất hạnh khi Talvela qua đời quá sớm, nếu như cuộc đời ông dài hơn, chắc chắn ông đã làm thêm được nhiều điều cho âm nhạc của Phần Lan cũng như của thế giới.

Ngọc Tú tổng hợp