Tác giả: Sergei Rachmaninov.
Tác phẩm: Rhapsody trên chủ đề Paganini, Op. 43
Thời gian sáng tác: 3/7/1934-18/8/1934.
Công diễn lần đầu: Ngày 7/11/1934 tại Lyric Opera House, Baltimore với tác giả chơi piano và Leopold Stokowski chỉ huy Philadelphia Orchestra.
Độ dài: Khoảng 22-24 phút.
Cấu trúc tác phẩm: Bao gồm 24 biến tấu dựa trên caprice cuối cùng trong tập 24 caprice cho violin độc tấu, Op. 1 của Niccolò Paganini. Mặc dù tác phẩm chỉ gồm 1 chương duy nhất, nhưng có thể chia ra 3 phần (những biến tấu không chú thích đều ở giọng La thứ).
Phần I: Giới thiệu: Allegro vivace – Biến tấu 1: (Precedente) – Chủ đề: L’istesso tempo – Biến tấu 2: L’istesso tempo – Biến tấu 3: L’istesso tempo – Biến tấu 4: Più vivo – Biến tấu 5: Tempo precedente – Biến tấu 6: L’istesso tempo – Biến tấu 7: Meno mosso, a tempo moderato – Biến tấu 8: Tempo I – Biến tấu 9: L’istesso tempo – Biến tấu 10: L’istesso tempo.
Phần II: Biến tấu 11: Moderato – Biến tấu 12: Tempo di minuetto (Rê thứ) – Biến tấu 13: Allegro (Rê thứ) – Biến tấu 14: L’istesso tempo (Pha trưởng) – Biến tấu 15: Più vivo scherzando (Pha trưởng) – Biến tấu 16: Allegretto (Si giáng thứ) – Biến tấu 17: (Allegretto) (Si giáng thứ) – Biến tấu 18: Andante cantabile (Rê giáng trưởng).
Phần III: Biến tấu 19: A tempo vivace – Biến tấu 20: Un poco più vivo – Biến tấu 21: Un poco più vivo – Biến tấu 22: Marziale. Un poco più vivo (Alla breve) – Biến tấu 23: L’istesso tempo – Biến tấu 24: A tempo un poco meno mosso (La thứ – La trưởng).
Thành phần dàn nhạc: Piano độc tấu, piccolo, 2 flute, 2 oboe, English horn, 2 clarinet, 2 bassoon, 4 horn, 2 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, triangle, snare drum, cymbal, bass drum, glockenspiel, harp và dàn dây.

Sau khi rời nước Nga vào năm 1917, để có thể nuôi sống gia đình, Rachmaninov hầu như chỉ tập trung vào việc biểu diễn piano và sáng tác rất ít. Lịch trình biểu diễn dày đặc, các vấn đề về sức khoẻ cũng như nỗi nhớ nhà dẫn đến việc sáng tác của ông gặp rất nhiều khó khăn. Tác phẩm lớn đầu tiên của ông sau khi lưu vong là bản Concerto piano số 4 gặp phải sự đón nhận hờ hững càng khiến Rachmaninov trở nên hoài nghi vào năng lực của mình. Cuối cùng ông cũng tìm thấy sự ổn định khi xây cho gia đình một ngôi nhà ven hồ Lucerne, Thuỵ Sĩ vào những năm 1930. Ở đây, vào mùa hè năm 1934, ông đã tìm thấy nguồn cảm hứng, “làm việc theo nghĩa đen từ sáng đến tối” để sáng tác ra một trong những kiệt tác của đời mình, sánh ngang với những tác phẩm xuất sắc nhất của ông trước đó.

Trong tất cả các caprice của Paganini, caprice số 24 có lẽ được các nhà soạn nhạc khác yêu thích hơn cả. Liszt có một chuyển soạn cho piano. Brahms cũng vậy, nhưng đi xa hơn Liszt khi thực hiện hàng loạt biến tấu trên chủ đề này. Nhưng với Rhapsody trên chủ đề Paganini dành cho piano và dàn nhạc, Rachmaninov còn đưa sự sáng tạo và niềm đam mê đến một phạm vi rộng hơn nữa khi ngoài piano, đã đưa cả một dàn nhạc lớn vào và tạo ra 24 biến tấu (24 biến tấu trên caprice số 24). Trên thực tế, Rhapsody không có gì nổi bật về mặt cấu trúc tác phẩm – bao gồm phần giới thiệu, chủ đề và 24 biến tấu. Nhưng trong đó, Rachmaninov đã có những suy nghĩ riêng, rất độc đáo khi ông đã có sự sáng tạo rất tinh tế như đảo ngược chủ đề của Paganini thành một chủ đề mới, trữ tình hoặc kết hợp với chủ đề Dies irae chết chóc trong nhiều biến tấu của tác phẩm.

Tác phẩm được ra mắt vào ngày 7/11/1934 tại Lyric Opera House, Baltimore với tác giả chơi piano và Leopold Stokowski chỉ huy Philadelphia Orchestra và ngay lâp tức nhận được sự tán thưởng nồng nhiệt từ phía công chúng. Phản ứng tích cực đến nỗi Rachmaninov đã sửng sốt: “Bằng cách nào đó, thật đáng ngờ khi Rhapsody đã có được thành công tới tất cả mọi người”. Ba năm sau khi ra mắt tác phẩm, biên đạo múa nổi tiếng Michel Fokine đưa ra một đề nghị hợp tác với Rachmaninov. Đáp lại, Rachmaninov đưa ra một gợi ý về Rhapsody và đưa ra một phác thảo kịch bản. Không có bằng chứng nào cho thấy những ý tưởng này nảy ra trong tâm trí Rachmaninov trước hay sau khi ông sáng tác tác phẩm này. Ông đã giải thích Rhapsody kể câu chuyện về Paganini, cuộc đối đầu của Paganini với quỷ dữ và tình yêu bi đát xảy ra với một người phụ nữ. Fokine đã biến Rhapsody thành một vở ba lê, thành công rực rỡ tại buổi ra mắt tại London năm 1939, mặc dù kịch bản có phần khác biệt so với những gì Rachmaninov đưa ra.

Rhapsody bắt đầu với một đoạn giới thiệu ngắn và thật bất ngờ lại không dẫn đến chủ đề chính mà là biến tấu 1: một nét giai điệu của Paganini được tối giản. Sự khởi đầu độc đáo này có thể được lấy cảm hứng từ chương cuối bản giao hưởng số 3 “Eroica” của Beethoven, khi chủ đề và các biến tấu được bắt đầu theo cùng một cách. Sau đó, bè violin chơi chủ đề chính và piano chơi các nốt đơn giản của biến tấu đầu tiên. Tại thời điểm này, Rachmaninov đã nói: “Paganini xuất hiện với chúng ta lần đầu tiên”. Các biến tấu tiếp theo mang đến cho nghệ sĩ piano cơ hội thể hiện trình độ kỹ thuật điêu luyện của mình.

Sau đó âm nhạc chậm lại, biến tấu 7 giới thiệu cho chúng ta một chất liệu âm nhạc mới: chủ đề “Dies irae”. Dies irae là một bản thánh ca truyền thống thời trung cổ của đạo Thiên chúa dành cho người chết được miêu tả là “ngày giận dữ”, phán quyết cuối cùng vào ngày tận thế của thế giới. Kể từ khi Berlioz sử dụng nó trong chương “Giấc mơ về đêm hội Sabbath” của bản Giao hưởng Ảo tưởng, “Dies irae” đã trở thành biểu tượng của sự chết chóc và thế lực ma quỷ trong âm nhạc. Đây là một giai điệu đã ám ảnh Rachmaninov, ông đã sử dụng nó vài lần trong các tác phẩm của mình (có lẽ nổi tiếng nhất trước đó là trong thơ giao hưởng Đảo tử thần).

Một cách tài tình, Rachmaninov đã khám phá ra “Dies irae” có liên hệ với chủ đề Paganini theo cách mà cái này có thể là biến tấu của cái kia. Trong phiên bản ballet, Rachmaninov đã cho biết: “Tất cả các biến tấu Dies irae đều dành cho linh hồn ác quỷ… Lần đầu tiên xuất hiện trong biến tấu 7”. Ở đây, âm nhạc chậm lại và chúng ta nghe thấy tiếng piano đơn giản, hài hoà của Dies irae được đệm với tiếng bassoon và cello chơi pizzicato. Các biến tấu tiếp theo ngày càng trở nên ma quái, với một biến tấu được bè dây chơi col legno (dùng phần gỗ của vĩ để kéo dây), tạo hiệu ứng rùng rợn đặc biệt. Chắc chắn như vậy vì Rachmaninov đã giải thích: “Biến tấu 8, 9, 10 – tiến trình của linh hồn ác quỷ”.

“Biến tấu 11 là sự biến đổi sang địa hạt của tình yêu”, Rachmaninov tiếp tục, “Biến tấu 12 – khúc minuet – lần đầu tiên người phụ nữ xuất hiện…”. Biến tấu 11 bắt đầu với tiếng tremolo nhẹ nhàng của bè dây, đệm cho piano chơi hầu như là ứng tác và các quãng âm giai nửa cung cao. Phần minuet chậm rãi, duyên dáng được nghệ sĩ piano chơi trên tiếng đệm pizzicato tinh tế của bè dây. “Toàn bộ phần giữa từ biến tấu 11 đến 18 – là dành cho tình yêu”. Những biến tấu này chứa đựng những tính chất và tâm trạng đa dạng từ chủ nghĩa anh hùng của biến tấu 14 cho đến sự dịu dàng của biến tấu 18, phần nổi tiếng nhất của toàn bộ Rhapsody. Rachmaninov luôn nhấn mạnh rằng trong bất kỳ tác phẩm nào của mình, dù là một prelude ngắn hay bản giao hưởng dài, đều phải có một cao trào. Trong trường hợp của bản Rhapsody, đó chính là biến tấu thứ 18. Biến tấu này nghe rất khác với chủ đề gốc đến mức chúng gần như không liên quan đến nhau, một vẻ đẹp quyến rũ và nồng nàn hương vị Nga. Trên thực tế, đây chính là sự “đảo ngược” chủ đề của Paganini. Nếu chúng ta cầm chủ đề này trước gương, chúng ta sẽ có được biến tấu 18.

“Biến tấu 19 là chiến thắng của nghệ thuật Paganini, những nốt pizzicato ma quỷ”. Thật vậy, Rachmaninov đã ghi chú những đoạn nhạc xen kẽ với piano là “quasi pizzicato” (hầu như là pizzicato) cho thấy rằng ông đã có ý tưởng như vậy khi soạn nó. Trong các biến tấu sau, sự căng thẳng tăng lên khi nghệ sĩ độc tấu thực hiện những đoạn nhạc với độ khó kinh hoàng hơn bao giờ hết. Cuối cùng, “bị đánh bại”, “Paganini xuất hiện lần cuối cùng trong 12 ô nhịp đầu của biến tấu 23 và sau đó, cho đến cuối là chiến thắng của những kẻ chinh phục”. Biến tấu 23 bắt đầu với sự trở lại của chủ đề chính trên piano và sau 12 ô nhịp, bị dàn nhạc bất ngờ cắt ngang, điều này mở ra sự thay đổi giọng đột ngột, chói tai của chủ đề. Bản Rhapsody kết thúc với một đoạn nhại lại khá kỳ quặc của chủ đề Dies irae chiến thắng trên toàn bộ dàn nhạc. Khi Paganini có thể đã ngã xuống, nghệ sĩ piano được cười cuối cùng, kết thúc tác phẩm bằng một cái nháy mắt và mỉm cười.

Rhapsody trên chủ đề Paganini là một trong những tác phẩm cuối cùng của Rachmaninov. Sau này ông hầu như chủ yếu tập trung vào biểu diễn, chỉ sáng tác thêm hai tác phẩm là Giao hưởng số 3, Op. 44 và Những điệu nhảy giao hưởng, Op. 45. Âm nhạc của ông, như Rachmaninov đã tóm tắt ngay trước khi qua đời ở Beverly Hill: “Trong những sáng tác của tôi, không có nỗ lực nào để tạo ra sự nguyên bản hoặc Lãng mạn hoặc Chủ nghĩa dân tộc hoặc bất kỳ cái gì khác. Tôi viết ra giấy thứ âm nhạc mà tôi cảm nhận trong mình, tự nhiên nhất có thể. Tôi là một nhà soạn nhạc Nga và mảnh đất nơi tôi sinh ra đã ảnh hưởng tới cách nhìn và khí chất của tôi. Âm nhạc của tôi là sản phẩm của tính cách đó và vì vậy nó là âm nhạc Nga. Tôi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Tchaikovsky và Rimsky-Korsakov; nhưng tôi không bao giờ, với kiến thức tốt nhất của mình, bắt chước bất kỳ ai. Những gì tôi cố gắng sáng tác là viết xuống những gì đơn giản và trực tiếp nhất trong trái tim tôi. Nếu ở đó là tình yêu, buồn bã hoặc tín ngưỡng, tâm trạng đó sẽ trở thành một phần của âm nhạc và nó sẽ trở thành tươi đẹp, cay đắng hoặc tôn giáo”.

Ngọc Tú (nhaccodien.info) tổng hợp

Nguồn:
nyphil.org
utahsymphony.org
houstonsymphony.org
indianapolissymphony.org