CHƯƠNG XXI – THĂM VERDI – GIÃ TỪ AMBROISE THOMAS

 

Henri Cain, người đã cùng chúng tôi đi London, đến gặp tôi tại Khách sạn Cavendish, phố Germin, nơi tôi đang ở.

Chúng tôi hội họp trong vài giờ để cùng xem xét các đề tài phù hợp mà tôi có thể soạn nhạc trong tương lai. Cuối cùng, chúng tôi thống nhất chọn câu chuyện cổ tích Cô bé Lọ Lem [Cendrillon].

Tôi trở lại Pont-de-l’Arche, nơi ở mới của vợ chồng tôi, để làm việc tại đó trong suốt mùa hè.

Nơi ở của chúng tôi rất thú vị; nó thậm chí còn có giá trị lịch sử thực sự.

Một cánh cửa đồ sộ, xoay quanh những bản lề khổng lồ, mở ra con đường dẫn tới một tòa nhà cũ có sân hiên bao quanh, từ đó có thể trông xuống thung lũng sông Seine và sông Andelle. Đó vốn là vùng Normandy xinh đẹp, nơi đem đến cho chúng tôi quang cảnh tuyệt vời là những vùng đồng bằng tươi tắn và tráng lệ cũng như những đồng cỏ trù phú trải dài tới tận chân trời xa ngút tầm mắt.

Nữ công tước xứ Longueville, nhân vật danh tiếng trong Nội chiến Fronde, từng sống trong tòa nhà này, đó là nơi ở dành cho các tình nhân của bà. Nữ công tước, với lối nói chuyện thật êm ái cùng cử chỉ, nét mặt và âm giọng tạo nên một sự hài hòa tuyệt vời, quyến rũ tới độ một nhà văn phải Giăng-xen cùng thời đã viết rằng “bà là nữ diễn viên hoàn hảo nhất trên thế giới”, – người phụ nữ lộng lẫy hơn tất thảy này đã tìm thấy ở đó nơi che chở cho sự quyến rũ và vẻ đẹp hiếm có của mình. Ta phải tin rằng họ không hề cường điệu về bà bởi Victor Cousin đã trở thành “người tình sau khi chết” của bà như chúng ta gọi (cùng với Công tước Coligny, Marcillac, Công tước La Rochefoucauld và Turenne vĩ đại; dù có thể thấy mình kém nổi bật hơn), bởi triết gia chiết trung lừng danh đã đề tặng bà một tác phẩm chắc chắn là đáng ngưỡng mộ về phong cách mà vẫn được coi là một trong những tác phẩm hoàn chỉnh nhất của tri thức hiện đại.

Là con gái một thân vương xứ Orléans thuộc gia tộc Bourbon-Condé, những bông huệ bà được thừa hưởng có thể được nhìn thấy trên các viên đá đỉnh vòm cửa sổ của lâu đài nhỏ của chúng tôi.

Có một phòng khách lớn màu trắng với đồ gỗ cổ được chạm khắc tinh xảo và được chiếu sáng bởi ba cửa sổ mở ra sân hiên. Đó là một kiệt tác được bảo tồn hoàn hảo từ thế kỷ mười bảy.

Có ba cửa sổ cùng chiếu sáng cho căn phòng nơi tôi làm việc và nơi chúng tôi có thể chiêm ngưỡng chiếc lò sưởi, một tuyệt tác thực sự của nghệ thuật theo phong cách Louis XIV. Tôi đã tìm thấy ở Rouen một chiếc bàn lớn cùng niên đại. Tôi cảm thấy thoải mái khi dùng nó để sắp xếp các tờ nhạc trong tổng phổ của mình.

Chính tại Pont-de-l’Arche một sáng nọ tôi hay tin bà Carvalho qua đời. Cái chết của bà chắc hẳn đã khiến nghệ thuật ca hát và nghệ thuật sân khấu chìm sâu trong tang tóc, bởi bà đã là hiện thân của hai nghệ thuật này trong nhiều năm bằng tài năng bậc thầy của mình. Đây cũng là nơi tôi được đón giám đốc Léon Carvalho đến thăm. Ông chịu tác động nghiệt ngã từ cái chết của vợ mình khi nỗi mất mát không thể bù đắp này đè nặng lên ông, làm lu mờ phần nào sự hiển hách mà người nghệ sĩ vĩ đại đã đóng góp một cách vẻ vang để làm nên tên tuổi mình.

Carvalho đến thỉnh cầu tôi hoàn thành tổng phổ Cô bán căng-tin, tác phẩm mà Benjamin Godard đang sáng tác nhưng tình trạng sức khỏe của ông khiến người ta sợ rằng ông sẽ không thể hoàn thành.

Tôi khước từ lời thỉnh cầu đó một cách rất rõ ràng. Tôi biết Benjamin Godard, tôi biết sức mạnh tâm hồn cũng như sự phong phú và sống động trong cảm hứng của ông; do vậy tôi yêu cầu Carvalho giữ kín chuyện thăm viếng này và để Benjamin Godard hoàn thành tác phẩm của mình.

Ngày hôm đó kết thúc bằng một sự việc khá buồn cười. Tôi tìm thuê một cỗ xe lớn trong vùng để đưa các vị khách của mình tới nhà ga. Vào giờ đã định, đến trước cửa nhà tôi là một cỗ xe bốn bánh có ít nhất mười sáu lò xo, được trang trí bằng sa-tanh màu xanh da trời mà người ta có thể leo lên bằng chiếc thang ba bậc gập lại được khi cửa đóng. Hai con ngựa trắng gầy gò và hốc hác, những con nghẽo thực sự, được thắng vào đó.

Những vị khách của tôi ngay lập tức nhận ra cỗ xe mang dáng vẻ thời tiền sử này vì đã từng bắt gặp nó đang đưa các vị chủ nhân đi dạo ở Rừng Boulogne. Công chúng ác ý thấy họ lố bịch đến mức đặt cho họ các biệt danh mà, vì lẽ lịch sự, cho phép tôi tránh nhắc đến. Tôi sẽ chỉ nói rằng chúng được vay mượn từ vốn từ vựng động vật học.

Chưa bao giờ những con phố của thành phố nhỏ yên bình và tĩnh lặng này lại vang lên những tràng cười sảng khoái đến vậy. Những tràng cười này đâu chỉ dừng lại khi đến nhà ga… và tôi chẳng dám thề rằng sau đó chúng không tiếp diễn!

…

Carvalho quyết định dàn dựng Cô gái xứ Navarre ở Paris, tại Nhà hát Opéra-Comique, và tác phẩm được trình diễn vào tháng 5 năm 1895.

Tôi đi Nice và hoàn thành Cô bé Lọ Lem tại Khách sạn Suede ở đó. Chúng tôi được các vị chủ nhân thú vị là ông bà Roubion hết lòng chiều chuộng.

Khi đã ổn định ở Nice, tôi trốn đến Milan trong mười ngày để chỉ dẫn cho các nghệ sĩ đang diễn tập Cô gái xứ Navarre của tôi tại nhà hát La Scala đáng ngưỡng mộ. Sắm vai chính là nghệ sĩ nổi tiếng và được yêu mến khắp nước Ý, Lison Frandin.

Vì biết Verdi ở Gênes, tôi đã tranh thủ lúc đi qua thành phố này trên hành trình tới Milan để ghé thăm ông.

Khi đến tầng một dinh thự Doria cổ kính, nơi ông sống, tôi đã có thể đọc thấy, trong một hành lang tối tăm và trên một tấm biển đóng đinh trên một cánh cửa, cái tên tỏa sáng bằng biết bao hồi ức về nhiệt huyết và vinh quang: Verdi.

Đích thân ông ra mở cửa cho tôi. Tôi đứng im không thốt nên lời. Rồi sự đón tiếp niềm nở ân cần cũng như sự chân thành và quý phái toát ra từ toàn bộ con người có vóc dáng cao lớn này đã khiến chúng tôi nhanh chóng thân nhau.

Tôi đã trải qua những khoảnh khắc quyến rũ khó tả khi ở bên ông, cùng ông hàn huyên một cách giản dị mà ngọt ngào trong phòng ngủ, sau đó là trên ban công phòng khách trông ra cảng Gênes, và xa hơn nữa là biển cả trải dài tới đường chân trời. Tôi có ảo tưởng rằng ông chính là một Doria đang tự hào chỉ cho tôi xem hạm đội chiến thắng của mình.

Khi sắp sửa rời đi, ý nghĩ này cứ lởn vởn trong đầu tôi: “giờ đây mình đã đến thăm Verdi, mình đã ở Ý!…”

Khi định cầm lên chiếc va li mà mình đã đặt ở một góc tối trong phòng đợi rộng lớn, nơi nổi bật là những chiếc ghế bành cao mạ vàng theo phong cách Ý thế kỷ 18, tôi nói với ông rằng nó chứa những bản thảo chưa bao giờ rời xa tôi mỗi khi tôi du hành. Verdi, đột ngột giật lấy hành lý của tôi, nói với tôi rằng ông cũng hành động giống hệt tôi khi không bao giờ muốn rời xa tác phẩm mình đang sáng tác. Tôi sẽ thích thú hơn biết bao nếu chiếc va li của tôi đựng nhạc của ông thay vì của tôi! Bậc thầy thậm chí còn tiễn tôi ra tận xe, sau khi đã băng qua khuôn viên dinh thự quý phái của mình.

…

Khi trở lại Paris vào tháng 2, tôi vô cùng xúc động khi hay tin thầy Ambroise Thomas của tôi đang ốm nặng.

Dù không được khỏe, thầy đã không quản ngại cái lạnh để tham dự một liên hoan được tổ chức tại Nhà hát Opéra, nơi người ta biểu diễn toàn bộ phần mở đầu [prologue] tuyệt vời kinh khủng trong vở Françoise de Rimini.

Phần mở đầu được biểu diễn lại lần nữa và Ambroise Thomas được hoan nghênh nhiệt liệt.

Người thầy lừng lẫy của tôi càng xúc động hơn trước sự đón nhận này, bởi thầy vẫn chưa quên việc người ta từng tỏ ra tàn nhẫn thế nào với tác phẩm tuyệt đẹp này tại Nhà hát Opéra.

Ambroise Thomas rời nhà hát và trở về căn hộ của mình trong Nhạc viện và đi ngủ. Và thầy không bao giờ trở dậy nữa…

Ngày hôm đó, bầu trời trong xanh không một gợn mây, mặt trời chiếu thứ ánh sáng dịu dàng hết mực vào căn phòng nơi người thầy tôn kính của tôi đang nằm và vuốt ve tấm màn che giường bệnh. Những lời cuối cùng thầy nói là để chào thiên nhiên tươi tắn đang muốn mỉm cười với thầy lần cuối. Chết trong thời tiết đẹp thế ư!… thầy chỉ nói vậy rồi thôi.

Nơi quàn quan tài được bố trí trong tiền sảnh có những cây cột mà tôi đã kể là qua một cầu thang lớn sẽ dẫn đến lô chủ tọa, chiếc lô mà thầy đã làm vinh dự bằng sự hiện diện của mình trong 25 năm.

Hai ngày sau, tôi thay mặt Hiệp hội tác giả và nhà soạn nhạc sân khấu đọc điếu văn trong tang lễ của thầy. Tôi đã mở đầu như sau:

“Người ta kể rằng một vị vua của nước Pháp, khi nhìn thấy thi hài nằm trên nền đất của một lãnh chúa quyền uy trong triều đình của ngài, đã không khỏi thốt lên: “Ông ấy cao lớn thật!” Vậy nên người an nghỉ nơi đây, trước mặt chúng ta, là một trong những người mà tầm vóc chỉ được đánh giá chính xác sau khi qua đời.

“Chứng kiến ông qua đời một cách thật giản dị và bình thản trong giấc mơ nghệ thuật của mình, ai trong chúng ta, vốn quen cảm thấy luôn có ông bên cạnh một cách đầy nhân ái và bao dung, đã nhận ra rằng ông cao lớn đến mức chúng ta phải ngước mắt lên để nhìn thấy mặt ông?…”

Lúc đó, tôi cảm thấy nước mắt lưng tròng và giọng nói như tắt lịm, nghẹn ngào vì xúc động. Tuy nhiên tôi đã dằn lòng nén lại nỗi đau để có thể đoc tiếp điếu văn. Tôi biết mình sẽ còn nhiều thời gian để khóc!

Trong hoàn cảnh này, tôi rất đau lòng khi phải chứng kiến ánh mắt ghen tị của những người đã coi tôi là kẻ kế vị thầy tôi tại Nhạc viện. Không lâu sau đó chuyện đúng như vậy đã xảy ra và tôi được triệu tập đến Bộ Công huấn. Bộ trưởng khi ấy là đồng nghiệp của tôi tại Học viện – nhà sử học lỗi lạc Rambaud và người đứng đầu Viện Mỹ thuật với tư cách giám đốc là Henry Roujon, người từ hồi trở thành thành viên Viện Mỹ thuật đã được bầu làm thư ký thường trực của Viện Hàn lâm Pháp ngữ.

Vị trí lãnh đạo Nhạc viện đã được đề nghị trao cho tôi. Các con thân yêu ơi, các con biết là cha đã từ chối vinh dự này bởi không muốn làm gián đoạn đời sống sân khấu vốn đòi hỏi phải dành toàn bộ thời gian.

Năm 1905, những đề nghị tương tự cũng được đưa ra với tôi. Tôi cũng từ chối vì những lý do tương tự.

Dĩ nhiên tôi đã nộp đơn từ chức giáo sư sáng tác tại Nhạc viện. Vả lại tôi từng chấp thuận giữ công việc này chỉ vì nó đưa tôi đến gần hơn với vị giám đốc mà tôi vô cùng yêu quý.

Rốt cuộc cũng được tự do và mãi mãi thoát khỏi xiềng xích, tôi cùng vợ lên đường vào những ngày đầu mùa hè để đến vùng núi Auvergne.

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch