Thông tin chung

Tác phẩm: Ngũ tấu piano giọng Mi giáng trưởng, Op. 44
Tác giả: Robert Schumann.
Thời gian sáng tác: Tháng 9-12/1842.
Công diễn lần đầu: Tại Gewandhaus, Leipzig vào ngày 8/1/1943. Trước đó có một buổi biểu diễn mang tính chất riêng tư vào ngày 6/12/1842.
Độ dài: 30 phút.
Đề tặng: Nhà soạn nhạc đề tặng vợ mình, nghệ sĩ piano Clara Schumann.
Cấu trúc tác phẩm: gồm 4 chương:
Chương I – Allegro brillante (Mi giáng trưởng)
Chương II – In modo d’una marcia (Đô thứ)
Chương III – Scherzo (Molto vivace) & Trio I – II ((Mi giáng trưởng)
Chương IV – Finale: Allegro ma non troppo (Mi giáng trưởng)

Hoàn cảnh sáng tác

Schumann là nhà soạn nhạc có thói quen sáng tác dựa trên niềm cảm hứng tuôn trào mãnh liệt. Năm 1840 là giai đoạn bùng nổ của Schumann trong việc viết ca khúc thính phòng, được gọi là Liederjahr (Năm của bài hát). Sau khi hoàn thành khoảng 130 bài hát, bao gồm năm tập liên khúc mà đỉnh cao là Dichterliebe (Tình yêu của thi sĩ), nhà soạn nhạc đã chuyển sang một giai đoạn mới, không hề kém cạnh Liederjahr cả về chất lượng và số lượng. Năm 1842, chỉ trong vòng khoảng tám tháng, Schumann đã sáng tạo ra những tác phẩm thính phòng tuyệt vời nhất trong sự nghiệp của mình. Đó là ba tứ tấu dây, Tứ tấu piano, Ngũ tấu piano và Tam tấu piano. Trong cuốn sách Khảo sát bách khoa về âm nhạc thính phòng của Walter Willson Cobbett có viết: “Các tác phẩm âm nhạc thính phòng của Schumann vào năm 1842 về nhiều mặt là những gì hoàn hảo nhất trong số các sản phẩm thiên tài của ông: thuần khiết và quyền lực nhất về vẻ đẹp, mạnh mẽ nhất về hình thức, cân bằng nhất về bản chất và thích ứng tốt nhất về phương tiện và quy trình kỹ thuật nhằm bộc lộ tư tưởng của nhà soạn nhạc. Có rất ít thứ mang tính thăm dò, thử nghiệm hoặc không chắc chắn khi cảm nhận. Dưới mọi góc độ, ông tiến tới, đầy bản lĩnh và tự tin về nghệ thuật âm nhạc thính phòng vốn khó khăn và tràn đầy thách thức”. Những tác phẩm thính phòng này được Schumann sáng tác sau khi đã nghiên cữu kỹ càng toàn bộ kho tàng tứ tấu dây quý giá của Joseph Haydn, Wolfgang Amadeus Mozart và Ludwig van Beethoven cũng như một số bản khác của thời kỳ Cổ điển.

Trong các sáng tác của năm 1842 này, Ngũ tấu piano nổi bật bởi vẻ đẹp, tính biểu cảm và sự gắn kết mạnh mẽ giữa các nhạc cụ quan trọng nhất của âm nhạc thính phòng. Đây chắc chắn là tác phẩm thính phòng vĩ đại nhất của Schumann. Nhìn rộng ra, nó còn ngự trị ở đỉnh cao nhất trong thánh đường âm nhạc thính phòng thế giới dựa trên sự uy nghi và tính vẹn toàn của nghệ thuật. Trước Schumann, không nhiều nhà soạn nhạc đã thử sức trong việc kết hợp một tứ tấu dây và piano. Cả Haydn, Mozart và Beethoven hoàn toàn không có một tác phẩm nào ở thể loại này. Có lẽ Lugi Boccherini là nhà soạn nhạc duy nhất tạo ra một chút dấu ấn. Tuy nhiên, cây đàn piano ở thời kỳ của Schumann đã có những cải tiến mạnh mẽ hơn nhiều với âm vực được mở rộng, âm lượng to hơn và sự ra đời của bàn đạp (pedal), trong đó có damper pedal (pedal vang) giúp âm thanh tiếp tục ngân dù nghệ sĩ đã buông tay trên phím đàn. Vào giai đoạn này, tứ tấu dây được khẳng định là thể loại âm nhạc thính phòng quan trọng nhất. Kết hợp thêm piano, Schumann đã khai thác tối đa hiệu quả của “hai nhạc cụ”, khiến biên độ cảm xúc được mở rộng, tạo nên một nguồn sức mạnh hiếm có. Sau khi hoàn thành ba bản tứ tấu dây, nhà soạn nhạc nảy ra ý tưởng để Clara cùng xuất hiện trên sân khấu trong một tác phẩm thính phòng. Vì vậy, bản ngũ tấu piano này ra đời.

Đã có nhiều nghiên cứu của các chuyên gia âm nhạc rằng Schumann đã chịu ảnh hưởng từ Tam tấu piano số 2 của Franz Schubert. Hai tác phẩm này có nhiều điểm tương đồng như cùng ở giọng Mi giáng trưởng, có một đoạn hành khúc tang lễ ở chương II và phần kết thúc trong chương cuối sử dụng lại chất liệu chủ đề của chủ đề trước đó, một kỹ thuật sáng tác được gọi là hình thức tuần hoàn. Một đánh giá khác nhận định rằng chính bản phối lại của Mozart cho concerto dành cho 3 piano và tứ tấu dây là nguồn tham khảo chính của Schumann. Đó chính là sự kết hợp giữa concerto và âm nhạc thính phòng, điều khiến bản ngũ tấu piano này trở nên nổi bật. Dường như đây là một concerto dành cho piano và tứ tấu dây khi piano đứng ở vị trí nổi bật chứ không náu mình khiêm tốn như chỉ là một trong tổng số năm thành viên. Trên thực tế không có một cadenza nào cho piano nhưng âm nhạc của nó vẫn tràn đầy những khoảnh khắc rực rỡ, đòi hỏi tài năng điêu luyện của một bậc thầy. Tứ tấu dây hiển nhiên chiếm vị trí thứ yếu, nhiều đoạn đơn giản chỉ là chơi đồng âm, các quãng tám hoặc những hợp âm đơn giản. Nhưng chính sự đối lập này, cùng với tính duyên dáng và quyến rũ đặc trưng của Schumann đã tạo nên một sự hấp dẫn tột độ mà hiếm tác phẩm thính phòng nào sánh bằng. Tác phẩm được phác thảo trong tháng 9 và hoàn thành vào tháng 12/1842. Felix Mendelssohn đã đưa tác phẩm này vào trong một chương trình biểu diễn có tính chất riêng tư vào ngày 6/12/1842, và Clara Schumann, người được đề tặng tác phẩm, đã lần đầu tiên đưa tác phẩm ra biểu diễn trước công chúng tại Gewandhaus, Leipzig vào ngày 8/1/1843.

Phân tích

Chương I

Chương I có rất nhiều sắc thái, ngay khi bắt đầu là một chủ đề chính táo bạo, bùng nổ rồi tan ra trong những giai điệu trữ tình. Chủ đề 2 là giai điệu dựa trên âm thanh của cây đàn cello hoà quyện với viola, lãng mạn đến tan chảy, mang tâm trạng điển hình cho nguồn cảm hứng mãnh liệt của bản ngũ tấu piano này. Phần phát triển hoàn toàn dựa trên chủ đề 1, piano chống đỡ lại dàn dây với những nốt móc đơn rất đặc trưng. Phần tái hiện theo truyền thống nhắc lại các chủ đề chính của chương nhạc, dẫn đến một coda ngắn, tràn đầy năng lượng. Chương nhạc này sử hữu nhiều chất liệu sẽ còn xuất hiện trong phần sau của tác phẩm.

Chương II

Chương II chậm là một hành khúc tang lễ nhẹ nhàng có hình thức rondo ABACABA, với những nhịp nhanh của giai điệu hành khúc đóng vai trò như điệp khúc, có hai đoạn chen tương phản nhau, nét đặc biệt là đoạn đầu tiên phóng khoáng ở giọng Đô trưởng, đoạn chen thứ hai xen ngang với sức mạnh bão tố ở giọng Pha thứ (Agitato), sở hữu những chùm ba bão táp của piano và những dự đoán u ám của dàn dây. Phần chuyển tiếp giữa hành khúc tang lễ và Agitato sử dụng lại giai điệu đã xuất hiện trước trong cuối phần trình bày ở chương đầu tiên với piano và violin chơi những quãng tám giảm dần. Đây là một trong những khoảnh khắc mà Schumann tạo ra sự thống nhất giữa các chương nhạc.

Chương III

Chương III là một khúc Scherzo, mở đầu khá dồn dập, được xây dựng gần như chỉ bằng những thang âm tăng và giảm dần. Chương này gồm có hai Trio. Trio đầu tiên là một canon trữ tình của violin và viola ở giọng Son giáng trưởng, Trio thứ hai được sáng tác theo gợi ý của Mendelssohn là một perpetuum mobile nhịp 2/4 quay cuồng ở giọng La giáng thứ với chất liệu âm nhạc gipsy Hungary quen thuộc và rất được yêu mến của Johann Brahms. Sau lần xuất hiện thứ ba và cũng là cuối cùng của phần Scherzo, một coda ngắn gọn được xây dựng từ các thang âm kết thúc chương nhạc, gợi nhắc lại phần Trio đầu tiên ở những ô nhịp cuối cùng.

Chương IV

Chương IV lại là một rondo, với một chủ đề kiên quyết được xuất hiện và tái hiện trong những giọng “buồn”: bắt đầu là giọng Son thứ, tiếp nối là Si thứ sau đoạn chen đầu tiên và ở giọng Son thăng thứ sau đoạn thứ hai. Phần phát triển là một đoạn đối thoại đầy kịch tính giữa piano và dàn dây. Chương cuối kết thúc một cách khéo léo đúng hơn là một tính toán tỉ mỉ, một coda viết theo hình thức phức điệu với chủ đề chính của phần đầu tiên tỏa sáng mang đến cảm giác đồng nhất trong toàn bộ tác phẩm, tạo nên hình thức tuần hoàn.

Nhà âm nhạc học người Đức Susan Youens nhận xét: “Trong tác phẩm này Schumann dường như muốn nói “bạn có thể có một dàn nhạc trong phòng khách của mình”. Rõ ràng, phạm vi biểu đạt và cường độ hoành tráng mà bản ngũ tấu piano mang lại đã vượt qua phạm trù của một tác phẩm thính phòng thông thường. Đây còn là sự mở đầu cho sự ra đời của hàng loạt các ngũ tấu piano sau đó như Brahms, Antonín Dvořák, César Franck, Gabriel Fauré, Edward Elgar hay Dmitri Shostakovich nhưng hiếm có bản nhạc nào có thể đạt được tầm vóc mà Schumann đã thực hiện với tác phẩm này.

Cobeo