“Có những nghệ sĩ khiến người nghe hài lòng với cá tính táo bạo và hoang dã của mình, một số khác khiến họ tôn kính với những phát hiện trong tổng phổ; hiếm người đạt được cả hai điều đó. Cortot có một tầm nhìn vượt ra ngoài học thuật hoặc sân khấu để đến một chân trời sáng tạo rộng lớn hơn mà từ đó chính những nhà soạn nhạc cũng có thể được truyền cảm hứng.” – Stephen Hough

Là một trong những nghệ sĩ piano quan trọng nhất trong giai đoạn đầu thế kỷ 20, Cortot được biết đến với một phong cách chơi nhạc độc đáo, không giống với bất kỳ ai. Ông nổi tiếng là một người luôn chơi sai nốt nhạc, nhưng bất chấp điều đó, những tác phẩm dưới đôi bàn tay ông, vẫn tạo ra được sức hút kỳ kiệu, được kết hợp giữa quyền lực trí tuệ, sự duyên dáng tao nhã, nam tính và đầy chất thơ. Người nghe vẫn chấp nhận và hứng thú với phong cách của ông như nhà phê bình âm nhạc Harold C. Schonberg của New York Times đã viết: “Chúng ta chấp nhận chúng, như chúng ta chấp nhận những vết sẹo hoặc khiếm khuyết trong bức tranh của một bậc thầy già cả”. Vì sự hợp tác của Cortot với phát xít Đức trong Thế chiến thứ hai đã khiến tên tuổi ông ít nhiều bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, đứng dưới góc độ nghệ thuật mà nhận xét, Cortot chắc chắn là nghệ sĩ piano tài năng nhất mà nước Pháp từng sản sinh ra. Bên cạnh đó, ông còn được biết đến như là một trong những giảng viên piano hàng đầu. Nhiều tên tuổi lớn từng là học sinh của ông như Dinu Lipatti, Samson François hay Vlado Perlemuter. Cortot có chung đẳng cấp với Sergei Rachmaninov hay Artur Schnabel, những người khổng lồ của nghệ thuật trình diễn piano đầu thế kỷ 20.

Alfred Denis Cortot sinh ngày 26/9/1877 tại Nyon, vùng đất nói tiếng Pháp của Thuỵ Sĩ trong một gia đình có bố là người Pháp và mẹ là người Thuỵ Sĩ. Mặc dù rất gắn bó với nơi sinh ra mình nhưng Cortot chỉ mang quốc tịch Pháp. Không giống như nhiều nghệ sĩ huyền thoại khác, cậu bé Alfred, em út với hai người chị và một người anh, không tỏ ra có năng khiếu hay sở thích đối với cây đàn piano. Tuy nhiên, mẹ cậu lại muốn Alfred trở thành một nghệ sĩ piano. Năm 1882, cả gia đình chuyển đến Geneva để lũ trẻ có cơ hội được hưởng một nền giáo dục toàn diện hơn. Hai chị gái của Alfred đều được học âm nhạc tại Conservatoire de musique de Genève và có trách nhiệm về dạy lại cho đứa em út của mình. Chị cả Léa dạy piano và Annette phụ trách lý thuyết âm nhạc. Cortot nhớ về thuở thơ ấu này: “Họ đã mang đến cho việc học cơ bản piano một ý nghĩa hình ảnh khiến tôi quên đi khía cạnh trừu tượng của những khái niệm mà họ dạy tôi để đặt nó sang bên cạnh của thực tại, trong một bầu không khí huyền diệu, phù hợp để mê hoặc bản chất mơ mộng của tôi và cắt đứt khỏi tất cả những thứ gây xao nhãng khác. Tôi mang ơn sự tiếp xúc ban đầu này mà sau đó được gọi là, và đôi khi không quá tự mãn: “chủ nghĩa biểu hiện của tôi””. Alfred không phải là một thần đồng nhưng làm việc một cách chăm chỉ và kỷ luật. Cả gia đình tập trung tất cả cho việc học của Alfred. Như nhà phê bình âm nhạc Bernard Gavoty đã tóm tắt lại giai đoạn này: “Tại nhà Cortot, một đứa trẻ mang trên đôi vai nhỏ bé của mình hoài bão về một gia đình chăm chỉ. Năm người thân bên cạnh cậu đã hi sinh tất cả để em út được tiếp tục đi học. Mọi người đều đặt hết tâm huyết của mình vào đó. Thành công của Alfred sẽ là cứu cánh cho cả gia đình”.

Năm 1886, cả gia đình chuyển tới Paris với tham vọng để Alfred có thể theo học tại Conservatoire national supérieur de musique et de danse de Paris. Tuy nhiên, cậu đã trượt. Thật may mắn, Alfred đã gây được sự chú ý của giảng viên Émile Decombes và ông đã đề nghị được dạy cậu miễn phí. Decombes là nghệ sĩ rất nổi tiếng lúc bấy giờ, ông từng được nhận những lời khuyên trực tiếp từ Frédéric Chopin đồng thời còn là thầy giáo của Maurice Ravel và Erik Satie. Dưới sự đào tạo của Decombes, Alfred đã đỗ nhạc viện vào năm sau. Tại đây, Alfred được miêu tả là một cậu học trò cần cù, siêng năng nhưng phải rất vất vả mới có thể theo kịp các giáo trình của nhạc viện. Trong quá trình học, Alfred may mắn được gặp và biểu diễn Sonata piano số 23 “Appassionata” của Ludwig van Beethoven cho Anton Rubinstein, người được coi là một trong những nghệ sĩ piano xuất sắc nhất thế giới lúc bấy giờ. Rubinstein đã nói với cậu sau khi nghe xong màn trình diễn: “Cậu bé, đừng quên những gì tôi sẽ nói với cậu: Beethoven, cậu không làm việc, cậu tự tái tạo lại chính mình”. Bất chấp lời ngợi khen đến từ Rubinstein, Alfred vẫn thất bại ba lần trong cuộc thi cuối năm tại nhạc viện và phải tới lần thứ tư, năm 1896, với Ballad số 4 của Chopin, cậu mới giành được giải nhất. Năm 1897, Alfred có màn trình diễn đầu tiên cùng dàn nhạc trong Concerto piano số 3 của Beethoven cùng Concerts Colonne.

Ngoài Decombes, tại nhạc viện, Cortot còn theo học với Louis Diémer, người giúp anh tiếp cận với dàn nhạc và chơi piano một cách biểu cảm hơn. Tuy nhiên, người có ảnh hưởng lớn nhất đối với Cortot lại là Édouard Risler, lớn hơn anh 4 tuổi và đoạt giải nhất trong cuộc thi tại nhạc viện vào năm 1889. Chính Risler là người đã đưa Cortot đến với Chopin và bộ Etude của nhà soạn nhạc, những tác phẩm sẽ đi cùng Cortot cho đến cuối cuộc đời. Cortot nhớ lại: “Tôi đột nhiên cảm thấy âm nhạc đi vào trong tôi, không phải bằng những nốt nhạc, mà bằng câu thần chú của nó, khả năng tỏa ra, truyền những thứ không thể truyền đạt được. Risler đã tiết lộ cho tôi một thế giới ma thuật mà tôi chỉ biết đến diện mạo bên ngoài. Từ thời điểm đó, tôi hiểu âm nhạc khơi dậy điều gì và làm thế nào mà thiên chức của một nghệ sĩ biểu diễn có thể vượt qua nghề nghiệp của một người chơi piano. Tôi biết, tôi thấy, tôi tin, tôi đã vỡ mộng”. Cortot đã nói về Risler: “Anh ấy là anh trai tôi và là hình mẫu của tôi. Tôi nợ anh ấy tất cả mọi thứ”.

Với giải nhất tại nhạc viện, món quà mà Cortot yêu cầu là một chuyến đi tới Bayreuth. Tại đây, anh gặp lại Risler, người đã giới thiệu anh với Cosima, vợ của Richard Wagner. Việc phát hiện ra âm nhạc của Wagner là một cú sốc lớn đối với Cortot và anh quyết định phải trở thành nhạc trưởng. Cortot nhớ lại: “Tôi nôn nóng muốn được chỉ huy một bản giao hưởng của Beethoven, Passion của Bach và hơn bất cứ thứ gì, các vở opera của Wagner”. Anh làm trợ lý chỉ huy tại Bayreuth cho đến năm 1901. Trở lại nước Pháp, Cortot chơi nhạc tại các phòng khách ở Paris và dần dần khẳng định được tên tuổi. Anh đã thuyết phục được nữ bá tước Greffulhe hỗ trợ tài chính cho buổi biểu diễn độc tấu chính thức đầu tiên của mình tại Le Crépuscule des Dieux vào ngày 15/4/1902 và đó là một thành công. Năm 1903, anh thành lập một dàn nhạc của riêng mình mang tên Société des Concerts, chỉ huy lần đầu tiên Pháp các tác phẩm Götterdämmerung (Wagner), Ein Deutsches Requiem (Johannes Brahms) và Missa solemnis (Beethoven). Tuy nhiên, một số nhà bảo trợ đã rút lui khiến anh tiếp tục quay trở lại với công việc một nghệ sĩ piano vào năm 1905. Cũng khoảng thời gian này, cùng với Jacques Thibaud và Pablo Casals, Cortot đã thành lập nhóm tam tấu và có được thành công đáng kể khi đưa thể loại này ra khỏi phòng khách để đưa vào các phòng hoà nhạc, như để khẳng định vị thế của các trio piano. Nhóm tam tấu của họ tiếp tục biểu diễn cho đến tận năm 1930 và rồi tan rã vì lý do chính trị. Casals trách cứ các bạn diễn của mình vì đã không ủng hộ ông trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ phát xít trong cuộc nội chiến tại Tây Ban Nha. Cortot cũng có mối quan hệ thân thiết với Gabriel Fauré, anh đã biểu diễn nhiều tác phẩm của ông. Fauré đã sáng tác Nocturne số 7 và 9 để dành tặng Cortot. Ngoài công việc biểu diễn, Cortot cũng bắt đầu giảng dạy tại nhạc viện Paris, ngôi trường anh đã theo học trước kia. Những học sinh đầu tiên của anh là Yvonne Lefébure, Magda Tagliaferro và Clara Haskil. Tuy nhiên, anh tỏ ra không thích Haskil và chỉ dạy cô trong một khoảng thời gian rất ngắn. Trong suốt cuộc đời mình, Cortot luôn tổ chức hài hoà việc biểu diễn và giảng dạy đan xen nhau.

Khoảng thời gian giữa hai cuộc Thế chiến là đỉnh cao trong sự nghiệp của Cortot. Chính trong giai đoạn này, ông đã viết hầu hết các cuốn sách về phương pháp sư phạm của mình cũng như cuốn La Musique française de piano – tập hợp những bài viết của ông về các tác phẩm của César Franck, Claude Debussy, Maurice Ravel và nhóm Les Six. Cortot cũng biên tập lại các tác phẩm của Chopin, Debussy và Robert Schumann, đưa vào đó những chú thích tỉ mỉ về kỹ thuật cũng như kiến giải về tác phẩm. Số lượng các buổi hoà nhạc và thu âm của ông là rất lớn, dưới cả tư cách nghệ sĩ piano và chỉ huy dàn nhạc. Cortot nhanh chóng trở thành một biểu tượng của văn hóa của Pháp và không ngần ngại ủng hộ chính sách đối ngoại của Đệ tam Cộng hòa. Ông cũng nhanh chóng trở thành nghệ sĩ nổi tiếng trên trường quốc tế mà đất nước thành công nhất chính là nơi Cortot bắt đầu sự nghiệp của mình. Tại Đức, Cortot được tôn vinh là “nghệ sĩ piano vĩ đại nhất trong thời đại” hay “diễn giải viên có thẩm quyền nhất của Schumann”. Còn Cortot cũng dành sự tôn trọng tuyệt đối đối với nước Đức: “Là quê hương của các nhà soạn nhạc”. Cuối năm 1918, Cortot có chuyến lưu diễn tại Mỹ, ông đã biểu diễn cùng một số dàn nhạc hàng đầu tại đây như Boston Symphony Orchestra, New York Philharmonic và đặc biệt là với Philadelphia Orchestra và Leopold Stokowski trong Concerto piano số 3 của Rachmaninov dưới sự chứng kiến của chính nhà soạn nhạc. Cortot đã được đánh giá: “Alfred Cortot khám phá chiều sâu tinh thần của âm nhạc. Theo cách chân thực nhất và không bị tác động, ông là một trong những nghệ sĩ piano thơ mộng nhất”. Sau khi trở về từ Mỹ, cùng với Auguste Mangeot, giám đốc của tạp chí âm nhạc Le Monde musical, Cortot đã thành lập École normale de musique de Paris (nay mang tên Cortot), một trường âm nhạc tư thục hướng tới tất cả các sinh viên nước ngoài. Trường bao gồm một chương trình giảng dạy hoàn chỉnh, với sự nghiên cứu chuyên sâu về các loại nhạc cụ, lý thuyết âm nhạc, tổng phổ, lịch sử âm nhạc, thực hành biểu diễn và phương pháp sư phạm. Những tên tuổi lớn đã tham gia giảng dạy tại đây như Wanda Landowska, Jacques Thibaud, George Enescu, Arthur Honegger hay Nadia Boulanger.

Mối quan tâm của ông đối với Wagner nói riêng và âm nhạc Đức nói chung đã định hình phong thái chơi và cách tiếp cận diễn giải của Alfred Cortot. Ta có thể nghe thấy nét thanh lịch tân cổ điển và sự nhẹ nhàng đặc trưng của phong cách Pháp nhưng ông khao khát đạt tới những gì là đỉnh cao của chủ nghĩa Lãng mạn Đức. Cortot nói với các học trò của mình: “Chúng ta sẽ tuyên chiến với nghệ thuật trang trí, một trò chơi có kỹ thuật hoàn hảo đến từng chi tiết nhưng không có linh hồn”. Sự hòa quyện các phong cách của Alfred Cortot đặc biệt rõ ràng trong âm nhạc của Chopin mà ông đã thu âm rất nhiều, điển hình là các Etude và Prelude: lãng mạn một cách mãnh liệt, thậm chí là bốc đồng nhưng không bao giờ khoa trương. Cortot có độ nhạy vượt trội về màu sắc của âm thanh, thích nhịp độ nhanh và nổi tiếng với rubato đặc trưng của mình, thay đổi nhịp điệu thường xuyên. Mặc dù rất yêu thích âm nhạc Đức nhưng ông hiếm khi biểu diễn chúng, chỉ với ngoại lệ là các tác phẩm của Schumann. Cốt lõi trong danh mục của Cortot là âm nhạc Chopin, sau đó là các nhà soạn nhạc Pháp. Cortot không bao giờ chơi các tác phẩm của những nhà soạn nhạc Nga, ngoại trừ Rachmaninov và tự giới hạn mình với một vài tác phẩm đòi hỏi kỹ thuật điêu luyện của Franz Liszt. Nổi tiếng về những nốt nhạc sai, không đúng với tổng phổ nhưng bằng tài năng tuyệt vời của mình, Cortot lại biến chúng thành nét đặc trưng không lẫn với bất kỳ ai, dường như ông đang ứng tác bản nhạc mà mình đang chơi. Stephen Hough đã có cái nhìn thú vị về chủ đề này: “Một nghệ sĩ piano cao chót vót, người có tầm nhìn âm nhạc bất cẩn (theo nghĩa vô tư), dường như đơn giản là không lo lắng rằng các nốt nhạc trên bàn phím đôi khi không khớp với những gì trên trang in. Không vấn đề. Giống như một con đại bàng bầm dập, ông vẫn bay lên cao hơn gần như tất cả”.

Thế chiến thứ hai nổ ra, Cortot tham gia vào chính phủ Vichy và điều này khiến ông trở thành “đối tượng giận dữ” của công chúng cũng như khiến hình ảnh ông bị hoen ố. Ông bắt đầu một sáng kiến để an ủi cho những người lính trên tiền tuyến thông qua âm nhạc, phụ trách tổ chức bảo trợ L’action artistique aux armées vào tháng 11/1939. Đến năm 1941, ông phụ trách đời sống âm nhạc Pháp, cuối cùng trở thành chủ tịch Ủy ban tổ chức âm nhạc chuyên nghiệp của Vichy, nơi cấp giấy phép cho bất kỳ ai muốn hoạt động như một nhạc sĩ chuyên nghiệp. Những giấy phép như vậy không được cấp cho người Do Thái. Cùng năm đó, ông tiếp tục sự nghiệp của riêng mình với tư cách nghệ sĩ piano và nhạc trưởng, thường xuyên xuất hiện tại các sự kiện do Đức tài trợ và bắt đầu từ năm 1942, chơi nhạc trên khắp Đức Quốc xã, trong đó có những buổi biểu diễn cùng Wilhelm Furtwängler và Berlin Philharmonic. Cortot tuyên bố sau chiến tranh rằng ông đã sử dụng vị thế của mình để bảo vệ người Do Thái và các thành viên kháng chiến. Tuy nhiên, điều này không đúng với trường hợp của Perlemuter, một trong những học trò tài năng nhất của ông, người đã bị Gestapo truy nã. Perlemuter và vợ cuối cùng đã trốn được đến Thuỵ Sĩ nhưng không hề có bất cứ sự trợ giúp nào từ Cortot. Cả Haskil cũng vậy. Sau này, khi đối mặt với người học trò cũ của mình và được hỏi tại sao ông không giúp đỡ, Alfred Cortot trả lời: “Bạn bè không thông báo cho tôi”. Mặc dù vậy, một số nghệ sĩ Do Thái khác đã làm chứng rằng Cortot đã có những sự trợ giúp nhất định với họ.

Ngay sau khi Paris được giải phóng, ngày 2/9/1944, Cortot đã bị bắt. Tuy nhiên, chỉ ba ngày sau ông đã được thả với sự bảo lãnh của Claude Delvincourt, giám đốc Nhạc viện Paris, người cho rằng Cortot đã góp phần bảo vệ văn hoá Pháp. Cortot cũng tự bào chữa cho mình: “Tôi đã cống hiến 50 năm cuộc đời của mình cho việc giúp đỡ nước Pháp. Khi tôi được yêu cầu tham gia vì quyền lợi của các đồng chí của mình, tôi cảm thấy mình không thể từ chối. Tôi đại diện cho lợi ích của chính phủ Pháp ít hơn lợi ích của nước Pháp. Tôi chưa bao giờ tham gia vào chính trị. Tôi chỉ tìm cách dành thời gian của mình cho nghệ thuật”. Tuy nhiên, tháng 10/1944, ông phải xuất hiện trong một phiên toà và nhận án cấm mọi hoạt động liên quan đến âm nhạc trong vòng một năm. Nhiều tổ chức, trong đó có Société des Concerts du Conservatoire đã tuyên bố ngừng hợp tác với Cortot. Ngay sau khi lệnh cấm được dỡ bỏ, ông đã cố gắng trở lại với đời sống âm nhạc. Nhưng trong một chương trình tại Théâtre des Champs-Élysées vào tháng 1/1947, khi đang biểu diễn, một cuộc bạo động đã xảy ra, khán giả thét vào mặt Cortot: “Mày có dành điều đó cho người bạn Hitler của mày không”? Hiệp hội các nhạc sĩ tại Paris đã cấm thành viên của họ biểu diễn cùng Cortot và ông đã khởi kiện họ. Ông đã phải đến sống ở Thuỵ Sĩ để thoát khỏi cảm giác tồi tệ. Phải đến năm 1949, nước Pháp mới tha thứ cho ông. Ông đã chinh phục khán giả Paris một lần nữa trong chương trình đặc biệt tại Salle Pleyel vào ngày 17/10/1949, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày mất của Chopin với các tác phẩm của nhà soạn nhạc.

Lúc này, sức khoẻ của ông đã giảm sút, đặc biệt căn bệnh đục thuỷ tinh thể đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị lực. Bất chấp điều đó, lịch biểu diễn của Cortot vẫn dày đặc tại châu Âu, Mỹ và cả Nhật Bản. Đôi mắt và những ngón tay bắt đầu phản bội Cortot, chúng không còn tuân theo sự chỉ đạo của ông nữa. Năm 1956, tại ngôi trường của ông, buổi biểu diễn các tác phẩm của Chopin, Schumann bị coi là thảm hoạ. Năm 1957, mọi thứ dường như đã đến giới hạn, Cortot ăn mừng thắng lợi vụ kiện kéo dài với Hiệp hội các nhạc sĩ tại Paris bằng buổi hoà nhạc tại chính nơi ông từng bị la ó, Théâtre des Champs-Élysées với hai trong số những thành công lớn nhất của mình: Concerto piano của Schumann và Variations symphoniques của Franck. Mọi người đều nhận ra rằng ông không kiểm soát được hai tác phẩm đã bảo đảm cho những chiến tích vang dội của Cortot trên toàn thế giới trong quá khứ. Tuy nhiên, Cortot vẫn không chịu ngừng lại, vợ ông tin rằng ông muốn chết trên sân khấu. Bà đã phải nhờ đến bạn bè khuyên nhủ ông. Cuối cùng thì Cortot cũng tạm dừng lại. Ông nhớ về những tháng ngày vinh quang của mình và cố gắng khắc phục những khác biệt. Năm 1958, Cortot đến thăm và giảng hoà với Marguerite Long, được cho là người chủ mưu trong cuộc bạo động vào tháng 1/1947. Nhưng sự thanh thản thực sự chỉ đến với Cortot từ người bạn thân Casals. Trước đó Casals đã lên án Cortot vì đã thờ ơ với cuộc nội chiến tại Tây Ban Nha và sau đó còn tiếp tục biểu diễn tại Đức và tham gia chính quyền Vichy.

Sự ân xá cuối cùng mà Cortot chờ đợi đã đến khi Casals mời ông tham dự liên hoan Prades vào năm 1958, đây là nơi tụ hội của các nghệ sĩ hàng đầu, những nghệ sĩ chống phát xít. Ngày 10/7, cùng Casals, Cortot đã biểu diễn 12 biến tấu trên chủ đề “Cây sáo thần” dành cho violin và piano và Sonata cello số 3 của Beethoven. Khán phòng chật kín và thật kỳ diệu, Cortot đã giành lại tất cả những gì thuộc về mình. Chương trình kết thúc, Casals tiến lại và ôm hôn Cortot. Họ nắm tay nhau chào khán giả trong tiếng vỗ tay không ngừng nghỉ. Đó có lẽ là những gì mà Cortot đã tìm kiếm sau nhiều năm. Tuy nhiên, đây chính là buổi biểu diễn cuối cùng của Cortot. Bốn năm cuối cùng của cuộc đời, Cortot sống tại Lausanne, Thuỵ Sĩ. Năm 1962, ông bị mắc bệnh ung thư phổi và đa xơ cứng động mạch. Tại bệnh viện, ông nửa mê nửa tỉnh. Nằm trên giường bệnh, cánh tay trái bị liệt, những lúc tỉnh táo, tay phải vẫn cố gắng lặp đi lặp lại một đoạn khó trong Etude của Chopin. Cortot qua đời ngày 15/6/1962 ở tuổi 84. Câu nói cuối cùng của ông với vợ mình là: “Khán phòng có chật kín không”. Ngày 18/6, một buổi tưởng niệm Cortot được tổ chức tại nhà thờ Saint-Roch, Paris với một số lượng lớn người đã tham dự. Ông được chôn cất vào ngày 19/6 tại làng Le Villars, bên cạnh cha mẹ, các chị gái và anh trai của mình.

Tên tuổi Cortot trước hết gắn liền với Chopin. Nhà văn Stefan Zweig đã nói: “Khi đôi bàn tay của Cortot không còn nữa, Chopin sẽ chết lần thứ hai”. Giống như Schnabel, Cortot đại diện cho một thời đại đã qua, giai đoạn mà âm nhạc là môn nghệ thuật đầy khát vọng và những màn trình diễn các nốt nhạc hoàn hảo không phải là tất cả. Alfred Brendel ngưỡng mộ “cách chơi ba chiều” của ông: “Nghệ sĩ piano duy nhất thỏa mãn trí óc, giác quan và cảm xúc của tôi một cách cân bằng”. Và để tổng kết lại, có lẽ nhận xét của Murray Perahia, một tín đồ khác của Cortot là hoàn toàn chính xác và đầy đủ: “Ông đại diện cho một kiểu chơi piano đã gần như biến mất: tự do, bốc đồng, cá nhân, táo bạo; nhưng đồng thời, tinh tế và thông minh… Đầu tiên và quan trọng nhất, ông ấy nghĩ âm nhạc “phải sống””.

Cobeo