Thông tin chung
Opera: Turandot
Âm nhạc: Giacomo Puccini (sau đó được Franco Alfano hoàn thành).
Kịch bản: Giuseppe Adami và Renato Simoni.
Thời gian sáng tác: Puccini đang sáng tác dở dang Turandot thì qua đời vào năm 1924. Alfano đã hoàn thành tác phẩm vào năm 1926.
Công diễn lần đầu: Tại La Scala, Milan, vào ngày 25/4/1926 với nhạc trưởng là Arturo Toscanini. Buổi biểu diễn ngừng lại ở thời điểm mà Puccini dừng bút.
Độ dài: Khoảng 2h.
Nhân vật/Loại giọng:
Turandot, Công chúa: Soprano
Calaf, Con trai của Timur: Tenor
Lìu, Một cô gái nô lệ: Soprano
Timur, Vị vua bị phế truất của Tartary: Bass
Altoum, Hoàng đế, cha của Turandot: Tenor
Ping, Tể tướng: Baritone
Pang, Tổng quản: Tenor
Pong, Bếp trưởng: Tenor
Một vị quan Mãn Thanh: Baritone
Hoàng tử Ba Tư: Tenor
Thành phần dàn nhạc: 3 flute (flute 3 kiêm piccolo), 2 oboe, English horn, 2 clarinet, bass clarinet, 2 bassoon, contrabassoon, 4 horn, 3 trumpet, 3 trombone, bass trombone, timpani, cymbals, gong, triangle, snare drum, bass drum, tam-tam, glockenspiel, xylophone, bass xylophone, tubular bell, Chinese gong, celesta, pipe organ, 2 harp và dàn dây. Ngoài ra trên sân khấu còn có 2 alto saxophone, 6 trumpet, 4 trombone, wood block và gong.
Hoàn cảnh sáng tác
Vào năm 1919, một năm sau buổi công diễn Il Trittico, Puccini lại một lần nữa đau đáu để tìm chủ đề cho vở opera tiếp theo. Như mọi khi, quá trình này đầy vất vả, và điều đó cũng không dễ dàng gì đối với hai tác giả kịch bản: Giuseppe Adami, người đã từng cộng tác cùng Puccini trong La Rondine và Il Tabarro và nhà báo người Ý kiêm chuyên gia sân khấu Venice Renato Simoni. Vào ngày 23/10/1919, Puccini viết cho Adami: “Thế nào, anh và Simoni đã bắt đầu đối mặt với đề tài chưa? Hãy dồn hết sức lực, cả con tim và khối óc để sáng tạo ra điều gì đó khiến cả thế giới phải khóc”. Ba người cùng nhau nghiền ngẫm hàng loạt vở kịch và tiểu thuyết, trong đó có The Taming of the Shrew (Thuần hóa cô nàng đanh đá) của William Shakespeare và Oliver Twist (Charles Dickens), mà Adami và Simoni thậm chí còn đã phác thảo kịch bản và lời cụ thể cho màn I.
Cuối cùng, Simoni đề xuất vở kịch Turandot của Carlo Gozzi, được sáng tác vào năm 1762. Gozzi có một thói quen là viết những vở kịch của mình dựa trên những truyện cổ tích. Sự khởi đầu của Turandot có thể được tìm thấy trong Haft Peykar, một sử thi thế kỷ 12 của nhà thơ Ba Tư Nizami. Câu chuyện này vốn rất quen thuộc. Trong nhiều thập kỷ, vô số nhà soạn nhạc và biên kịch đã chuyển thể nó theo góc nhìn nghệ thuật riêng. Friedrich Schiller đã dịch vở kịch sang tiếng Đức vào năm 1801, và bản dịch này được Andrea Maffei, nhà thơ và bạn thân của Giuseppe Verdi, dịch ngược lại sang tiếng Ý vào năm 1863. Ngoài ra, Giuseppe Giacosa, một trong những cộng sự thường xuyên của Puccini, cũng từng viết vở kịch riêng về đề tài này mang tên Il Trionfo d’Amore năm 1875, trong đó nhân vật theo đuổi người yêu không những phải giải câu đố mà còn phải trèo lên một ngọn núi. Trong suốt thế kỷ 19, nhiều nhà soạn nhạc, bao gồm cả thầy của Puccini, Antonio Bazzini, cũng đã từng chuyển thể câu chuyện này lên sân khấu opera. Trước đó, Carl Maria von Weber cũng sáng tác phần âm nhạc cho vở kịch Turandot của Schiller.
Việc câu chuyện Turandot đã từng bị “xào nấu” vô số lần trên sân khấu opera trước đó hoàn toàn không khiến Puccini bận tâm. Trong sự nghiệp của mình, đã có một ví dụ cho thấy ông chỉ chấp nhận một đề tài khi có bằng chứng rõ ràng về thành công trước đó của nó. Đó chính là là Manon Lescaut (1893), được ông sáng tác chưa đầy một thập kỷ sau khi Manon của Jules Massenet ra đời (1884). Vào đầu mùa xuân năm 1920, một Puccini đầy hài lòng và tự tin đã viết cho Simoni: “Tôi đã đọc Turandot; tôi thấy rằng sẽ tốt hơn nếu không từ bỏ đề tài này… Hãy chỉnh sửa lại để câu chuyện trở nên linh hoạt và hiệu quả. Trên hết, hãy làm nổi bật niềm đam mê yêu đương của Turandot, thứ bấy lâu nay đã bị đè nén dưới lớp tro tàn của niềm kiêu hãnh lớn lao. Tóm lại, tôi tin rằng Turandot là vở kịch gần gũi và mang tính con người nhất trong toàn bộ tác phẩm của Gozzi”.
Những gì cuối cùng ra đời từ Turandot của Puccini lại nghiêm túc hơn rất nhiều so với nguyên tác của Gozzi, người từng xem đó chỉ là trò tiêu khiển: “một câu chuyện nhảm nhí, thiếu phép màu và những biến hóa”. Thêm vào đó, Gozzi đã viết vở kịch của mình nhằm chiều lòng khán giả Venice. Chẳng hạn, câu trả lời cho câu đố cuối cùng của Turandot phản ánh rõ bối cảnh địa phương: “Hãy nói tên con thú vương giả khiến cả thế gian run rẩy”, công chúa thách thức. Calaf đáp: “Quyền lực lớn nhất trong vũ trụ, chính là Sư tử của Venice”! Trong khi đó, Puccini lại hình dung ra điều gì đó mang tính phổ quát hơn và trong bản libretto của Adami và Simoni, chỉ còn lại bộ khung cốt truyện của vở hài kịch Gozzi: Một vị hoàng tử lưu lạc nơi đất khách, tránh bị chém đầu nhờ giải được câu đố và giành được nàng công chúa lạnh lùng. Hơn nữa, trong bản chuyển thể này, nhân vật chính mang tên Turandot trở thành hình mẫu của “người phụ nữ mới”: bí ẩn và khó nắm bắt, rời xa kiểu nữ chính quen thuộc như Mimì hay Tosca. Còn thế giới của nàng là “nhà hát của trí tưởng tượng”: một Bắc Kinh hoàng gia màu tím vào lúc hoàng hôn, dần tan biến trong ánh trăng. Hình ảnh mặt trăng bao trùm khung cảnh, gợi liên tưởng đến chiếc đầu bị chặt trong Pierrot Lunaire (1912) của Arnold Schoenberg, một tác phẩm đã từng làm Puccini say mê. Những ai muốn đương đầu với thử thách của các câu đố phải đánh vào chiếc cồng, một biểu tượng khác của mặt trăng và bản thân nhạc cụ này như phát sáng trong thứ ánh sáng mờ kỳ ảo. Các câu đố được đặt ra vào ban đêm, nhưng Calaf lại thề sẽ chiến thắng vào ban ngày: “Không, không, trên môi nàng ta tôi sẽ thốt ra lời ấy khi ánh sáng bừng lên!… Bình minh sẽ là lúc tôi chiến thắng”!
Câu chuyện của Turandot vì thế được triển khai như một chu kỳ khép kín, được thể hiện bằng hình ảnh “hoàng hôn, bình minh”, trong khi âm nhạc cũng truyền tải sự đối lập giữa đêm và ngày – tiếng trống xử tử vang dội, góc cạnh trong aria “In questa reggia” của Turandot ở màn II và cảnh ba câu đố ở một phía; đối lập là vẻ dịu dàng đau thương của Liù và chất lãng mạn nghẹt thở trong “Nessun dorma” ở phía bên kia. Mặt trời tỏa ánh sáng rực rỡ lên đoạn kết đầy hân hoan, khi đám đông vui vẻ hô vang: “Tình yêu! Ôi Mặt trời! Cuộc sống! Vĩnh cửu!” Đó chính là cái kết mà Puccini đã thiết kế. Trong một bức thư gửi Adami ngày 9/7/1922, ông viết: “Tôi muốn sự lạnh lùng của Turandot tan chảy trong suốt bản song ca; cụ thể là tôi muốn một khoảnh khắc ân ái đầy thân mật trước khi hai người xuất hiện trước công chúng… Cặp đôi kết thúc trong trạng thái mê ly, hoan hỉ, trước ánh sáng rực rỡ của mặt trời…”.
Turandot của Giacomo Puccini hội tụ đầy đủ những yếu tố hoành tráng của một vở opera: những hợp xướng sôi nổi, cảnh trí rực rỡ, dàn dựng công phu và nhiều màn trình diễn thanh nhạc gây choáng ngợp. Tuy nhiên, công việc sáng tác này lại kéo dài và mệt mỏi, điều vốn là đặc trưng trong quy trình làm việc của Puccini, người không chỉ thường xuyên gặp khó khăn trong việc khởi đầu mà còn rất miễn cưỡng khi phải buông bỏ một bản thảo cuối cùng. Trong suốt 40 năm, ông chỉ sáng tác 12 vở opera. Tệ hơn nữa, ông liên tục than phiền trong quá trình làm việc. Những bức thư ông gửi cho Adami và Simoni gần như là tiếng than khóc: “Tôi buồn và nản lòng! Chỉ nghĩ đến Turandot! Chính vì Turandot mà tôi cảm thấy như một linh hồn lạc lối trong cõi mịt mờ!”, ông viết vào tháng 9/1921 và đến tháng 3/1924: “Tôi nghĩ đến Turandot từng giờ, từng phút và toàn bộ âm nhạc tôi đã viết cho đến nay bỗng hóa thành trò đùa, chẳng còn làm tôi hài lòng nữa”. Nhà nghiên cứu âm nhạc Claudio Sartori, từng gọi Turandot là “vở opera đã giết chết Puccini”. Ông được chẩn đoán mắc ung thư thanh quản và vào ngày 4/11/1924, ông đến Brussels để xạ trị, nhưng đã qua đời tại đó vào ngày 29/11. Bản song ca và đoạn kết vẫn chưa được hoàn tất. Ông để lại 36 trang phác thảo trên 23 tờ giấy cho phần kết của Turandot.
Puccini đã đề nghị Riccardo Zandonai là người hoàn thiện tác phẩm. Tuy nhiên, con trai ông Tonio lại không đồng ý. Cuối cùng Alfano là người được lựa chọn sau khi Vincenzo Tommasini (người hoàn thành Nerone (Arrigo Boito) sau khi nhà soạn nhạc qua đời) và Pietro Mascagni từ chối. Nhà xuất bản của Puccini, Tito Ricordi đã quyết định chọn Franco Alfano vì vở opera La leggenda di Sakùntala của ông tương đồng với Turandot về bối cảnh và dàn nhạc. Phiên bản đầu tiên của Alfano bị Ricordi và Arturo Toscanini chỉ trích gay gắt vì khá xa rời những phác thảo của Puccini, thậm chí còn sửa cả kịch bản. Phiên bản thứ hai, gần với những gì Puccini để lại đã được chấp nhận. Toscanini đã cắt ngắn khoảng ba phút và đây là những gì mà chúng ta thường nghe thấy ngày nay.
Tóm tắt nội dung
Thời gian: Thời xa xưa.
Địa điểm: Bắc Kinh.
Màn I
Trước cung điện của nhà vua.
Một viên quan đang đọc một chỉ dụ: bất cứ hoàng tử nào muốn cưới được công chúa Turandot thì người đó phải trả lời ba câu đố và nếu không trả lời được, anh ta buộc phải chết (“Popolo di Pechino!”). Nạn nhân cuối cùng cho đến lúc này của Turandot là hoàng tử xứ Ba Tư, anh ta sẽ bị hành hình khi mặt trăng lên. Các thần dân của kinh thành khát máu này không ngừng hối thúc tiến hành cuộc hành hình và trong đám đông hỗn độn ấy, có một người con gái nô lệ – Liù đang van xin sự giúp đỡ khi ông chủ cao tuổi của cô bị đẩy ngã. Ngay lúc đó, một chàng trai trẻ tuổi đã nhận ra ông ta chính là Timur, người cha đã lưu lạc từ lâu của mình và là ông vua đã bị đánh bại của xứ Tartary. Timur kể cho Calaf rằng từ sau khi thất bại, chỉ có Liù còn trung thành với ông. Chàng trai trẻ đã hỏi cô lý do cho việc làm đó. Cô gái đã nói chính là vì có một lần đã từ rất lâu rồi, Calaf đã mỉm cười với cô (“Signore, ascolta!”). Trong lúc này, dân chúng vẫn hò hét đòi tiến hành cuộc hành quyết. Mặt trăng đã lên cao. Tất cả bỗng chìm trong một sự im lặng đáng sợ. Nạn nhân bất hạnh đi đến nơi thi hành án, trước vẻ đẹp trai và thương tâm của hoàng tử xứ Ba Tư, đám đông kêu gọi Turandot hay tha mạng cho anh (“O giovinetto!”). Rồi Turandot cũng xuất hiện, với một điệu bộ lạnh nhạt, nàng ra lệnh tiến hành cuộc hành hình. Đám đông chỉ nghe thấy một tiếng kêu chết chóc từ xa. Calaf bị tác động mạnh trước sắc đẹp của công chúa và anh đã quyết định sẽ cưới được cô. Calaf sải bước tới gần cái cồng và tuyên bố mình sẽ là người cầu hôn tiếp theo (“Non piangere, Liù!”). Ngay khi đó, những cận thần của Turandot, Ping, Pang và Pong đã cố gắng thuyết phuc chàng trai trẻ từ bỏ quyết định của mình, thêm vào đó là lời cầu xin của Timur và cô hầu gái đang đẫm lệ Liù (“Ah! Per l’ultima volta!”). Bất chấp những lời can ngăn của mọi người, Calàf đánh vào chiếc cồng định mệnh và gọi to tên Turandot.
Màn II
Cảnh 1: Một phòng trong cung điện. Trước khi mặt trời mọc.
Trong lâu đài của mình, Ping, Pang và Pong kêu than cho triều đại đẫm máu của Turandot, cầu mong cho tình yêu sẽ chinh phục được trái tim băng giá của cô để hoà bình có thể trở lại với vương quốc này. Tâm trí họ lang thang về những ngôi nhà yên bình ở nông thôn, quê hương của họ (“Ola, Pang! Ola Pong!”). Và khi công chúng tụ tập lại để nghe Turandot đặt câu hỏi cho người thách thức mới, họ phải quay về với thực tế cay nghiệt (“Ho una casa nell’Honan”).
Cảnh 2: Cung điện. Bình minh.
Vị hoàng đế già Altoum, đang ngồi trên ngai vàng trong một cung điện nguy nga, tráng lệ, đề nghị Calaf từ bỏ lời thách thức nhưng vô ích (“Un giuramento atroce”). Ngay lúc đó, Turandot bước vào và kể câu chuyện về tổ tiên của mình là công chúa Lou-Ling, bà đã bị giết một cách hung bạo do chính hoàng tử đã chinh phục được bà. Vì thế giờ đây để trả thù, Turandot chống lại tất cả đàn ông với quyết tâm không ai có thể chiếm hữu được mình (“In questa reggia”). Rồi Turandot đặt câu hỏi đầu tiên: “Cái gì sinh ra vào mỗi buổi tối và chết vào lúc bình minh”? “Hy vọng”, Calàf đã trả lời đúng. Mất tự tin, Turandot tiếp tục đặt câu hỏi: “Cái gì đỏ rực và ấm áp như ngọn lửa, nhưng không phải là lửa”? Sau một giây im lặng, Calaf trả lời: “Máu”. Turandot run rẩy. Đám đông reo hò, khiến Turandot nổi giận và đặt tiếp câu hỏi thứ ba: “Cái gì giống như băng nhưng nó vẫn cháy”? Sự căng thẳng lan khắp không gian cho tời khi Calaf hét lên câu trả lời một cách đắc thắng: “Turandot!” (“Gelo che ti dà foco”). Và khi đám đông đang vui vẻ chúc mừng chàng trai, công chúa van xin cha mình đừng bỏ rơi cô cho người khách lạ. nhưng Altoum khăng khăng rằng lời thề là thiêng liêng và Turandot có bổn phận phải thực hiện (“Figlio del cielo!”). Calàf đã rất rộng lượng đặt ra một câu hỏi cho Turandot, nếu công chúa có thể biết tên anh vào lúc bình minh hôm sau thì anh sẽ chấp nhận hi sinh mạng sống của mình. Altoum tuyên bố rằng ông hy vọng mình có thể gọi Calaf là con trai khi mặt trời mọc trở lại.
Màn III
Cảnh 1: Khu vườn trong cung điện. Đêm.
Từ xa, cận thần của Turandot tuyên bố một mệnh lệnh: không một ai trong kinh thành Bắc Kinh này được ngủ cho tới khi Turandot biết được tên của người khách lạ, nếu không người đó sẽ bị chết một cách đau đớn (“Cosi comanda Turandot”). Anh tưởng tượng ra niềm vui sướng sắp đến với mình (“Nessun dorma!”) Trong khi Ping, Pang và Pong thì cố gắng trong tuyệt vọng khuyên anh hãy rút lại lời đề nghị của mình (“Tu che guardi le stelle”). Và trong lúc đám đông sợ hãi đe doạ Calaf và nói đủ những lời cay độc hòng biết tên anh thì quân lính dẫn Liù và Timur tới. Thật sự hoảng sợ, Calaf cố gắng thuyết phục dân chúng rằng cả hai đều không biết bí mật của anh. Thế rồi Turandot xuất hiện và yêu cầu Timur trả lời (“Quel nome!”). Liù khóc lóc nói rằng chỉ có cô mới biết nhận dạng của người khách lạ. Mặc dù bị tra tấn, Liù vẫn im lặng. Ấn tượng trước sự chịu đựng của cô gái, Turandot đã hỏi tại sao cô phải giữ bí mật đó. Liù đã trả lời rằng đó là vì: “Tình yêu” (“Tanto amore segreto”). Turandot ra lệnh cho quân lính tra tấn mạnh hơn nữa nhưng Liù đã nắm được một con dao găm và tự kết liễu cuộc đời (“Tu che di gel sei cinta”). Timur vô cùng đau khổ. Khi Timur cảnh báo rằng các vị thần sẽ bị xúc phạm vì cái chết của Liù, đám đông im lặng, vô cùng sợ hãi và xấu hổ. Timur đau buồn cùng đám đông đi theo thi thể của Liù. Turandot ở lại một mình với Calaf, người cuối cùng đã chinh phục được cô. Anh ôm cô trong tay và buộc cô phải hôn mình (“Principessa di morte!”). Lần đầu tiên được nếm trải cảm xúc nồng nàn, Turandot bật khóc (“Che è mai di me?… Del primo pianto”). Hoàng tử giờ đây chắc chắn biết chiến thắng thuộc về mình nên đã nói cho Turandot biết tên của anh (“So il tuo nome!”).
Cảnh 2: Cung điện. Bình minh.
Turandot và Calaf tiến đến ngai vàng của Hoàng đế. Turandot hô to tên của người khách lạ: “Tình yêu!” (“Diecimila anni al nostro Imperatore!”). Đám đông hát vang và tung hô đôi tình nhân (“O sole! Vita! Eternità”).
Turandot ra mắt tại La Scala vào ngày 25/4/1926 dưới sự chỉ huy của Toscanini. Giữa màn III, mọi thứ ngừng lại. Toscanini quay về phía khán giả và tuyên bố: “Vở opera kết thúc tại đây, vì tại thời điểm này, bậc thầy đã qua đời”. Có thông tin cho rằng chính Puccini đã yêu cầu Toscanini thực hiện điều này. Vở opera đầy đủ với phần bổ sung của Alfano chỉ được bắt đầu từ buổi biểu diễn thứ hai.
Việc miêu tả những vùng đất và con người xa xôi là điều không xa lạ với Puccini. Trong số 12 vở opera của Puccini (Il Trittico tính là ba vở riêng biệt), chỉ có ba vở diễn ra tại nước Ý. Cả Madama Butterfly và Turandot đều lấy bối cảnh ở châu Á, còn La Fanciulla del West (Cô gái miền tây) diễn ra ở miền tây nước Mỹ xa xôi không kém. Trong mọi trường hợp, Puccini cố gắng đắm mình trong âm nhạc của từng địa phương và kết hợp những giai điệu có sẵn vào vở opera. Một người bạn của Puccini là nam tước Edoardo Fassini-Camossi, một nhà ngoại giao nhiều năm tại Trung Quốc là chủ sở hữu của một hộp nhạc chứa đầy các giai điệu đất nước này. Qua đó cũng như tham khảo từ Jules A. van Aalst, một người nổi tiếng với việc ghi chép lại lịch sử âm nhạc và vũ đạo Trung Quốc, Puccini đã đưa nhiều giai điệu vào trong âm nhạc của Turandot. Nhờ đó, Turandot có nhiều khác biệt so với những tác phẩm trước của Puccini. Nhạc trưởng Adriano Lualdi nhận xét rằng Puccini đã rẽ sang một hướng đi mới: “Không một vở opera gần đây nào của Puccini mà cảm hứng và động lực hướng tới cái mới lại xúc động và hiện hữu một cách thường trực như trong Turandot”.
Ba nhân vật chính: Turandot, Calaf và Liù đều có những aria tuyệt vời dành riêng cho mình. Ở Turandot là “In questa reggia”, khoẻ khoắn và mạnh mẽ. Đây chính là hình tượng “người phụ nữ mới” mà Puccini muốn khắc hoạ. Nhà soạn nhạc đòi hỏi một soprano kịch tính, rực lửa mới có thể hoá thân vào vai diễn này. Bên cạnh những Isolde, Brünnhilde trong opera của Richard Wagner, Turandot cũng là một Wagnerian thực thụ, yêu cầu những gì hoành tráng và rực rỡ nhất mà một soprano có thể đạt được. Với Calaf, “Nessun dorma” chắc chắn là điều được nhắc đến trước tiên. Aria này đã trở nên quá quen thuộc, vươn ra khỏi địa hạt opera để đến với đông đảo khán giả đại chúng. Nhưng trước đó, “Non piangere, Liù!… Ah! Per l’ultima volta!” trong màn I cũng là một màn khoe giọng hoàn hảo, nơi mà ở đó, sức mạnh trong giọng hát được bộc lộ, xuyên thấu qua một dàn nhạc, dàn hợp xướng đông đảo. Hình ảnh nhân vật nam chính từng bước tiến tới rồi gõ thẳng vào chiếc cồng tạo nên một ấn tượng khó phai mờ trong lòng khán giả. Còn Liù, đó là hình ảnh nữ chính quen thuộc trong opera của Puccini. Với “Signore, ascolta!” và “Tu che di gel sei cinta”, ta thấy được vẻ yếu đuối tương đồng với Mimì hay Cio-Cio-San.
Rất nhiều lời khen ngợi đã dành cho Turandot, nhưng có lẽ chúng chủ yếu dành cho phần âm nhạc chứ không phải về kịch bản. Thậm chí sự qua đời của Liù và ngay sau đó Calaf hôn Turandot đã tạo nên sự giận dữ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Puccini không thể hoàn thành tác phẩm do nhà soạn nhạc vẫn còn băn khoăn về chính cái kết này, ông chưa tìm ra cách giải quyết trọn vẹn câu chuyện. Puccini gặp phải mâu thuẫn lớn giữa lý tưởng lãng mạn và thực tế bi kịch. Điều này đã gây ra những cuộc tranh luận rất dài. Từ khi Turandot công diễn, đã có nhiều nhà soạn nhạc khác từng thử sức mình trong việc hoàn thiện tác phẩm, thay thế những gì mà Alfano đã từng thực hiện. Một số nhà soạn nhạc thậm chí đã hướng tới một cái kết hợp lý hơn, ví dụ như để Calaf bị Turandot hành quyết. Đã có nhiều phiên bản được dàn dựng, trong đó phần chỉnh sửa của Luciano Berio vào năm 2002 được hậu duệ của cả Puccini và Ricordi chấp nhận.
Cobeo



