“Dù mọi thứ khác có thể tầm thường và khó chịu, thì ngay cả một công việc nhỏ bé nhất trong âm nhạc cũng cuốn hút đến mức khiến ta quên hết thành thị, nông thôn, trái đất và mọi thứ trần tục – đó thực sự là một món quà ban phúc của Chúa.” – Felix Mendelssohn

Felix Mendelssohn đã sống trong một thời kỳ chuyển giao quan trọng trong lịch sử âm nhạc phương Tây. Đó là sự chuyển mình từ vẻ duyên dáng và sự trang nghiêm của truyền thống Cổ điển, vốn đạt đến đỉnh cao qua các sáng tác của Joseph Haydn và Wolfgang Amadeus Mozart sang phong cách đầy cảm xúc và kịch tính của chủ nghĩa Lãng mạn, được phát triển trong các tác phẩm của Ludwig van Beethoven và Carl Maria von Weber và về sau là Richard Wagner cùng Johannes Brahms, cùng rất nhiều nhà soạn nhạc khác. Nổi bật là một thần đồng từ khi còn rất nhỏ, trưởng thành theo thời gian, Mendelssohn có những đóng góp vô cùng nổi bật cho sự phát triển của đời sống âm nhạc Đức, không chỉ bằng các tác phẩm của mình mà còn từ việc gần như một mình phục dựng các sáng tác của Johann Sebastian Bach, đưa bậc thầy này trở thành một nhà soạn nhạc vĩ đại, từ đó ảnh hưởng đến chính khái niệm âm nhạc kể từ đó. Bằng cách kết hợp vào các sáng tác của mình những yếu tố đa dạng từ di sản âm nhạc trong quá khứ với những đóng góp độc đáo của riêng mình, Mendelssohn đã tạo nên một ngôn ngữ âm nhạc mang đậm dấu ấn cá nhân. Ngoài ra, không thể không kể đến công lao của nhà soạn nhạc trong việc biến Leipzig thành trung tâm âm nhạc mới ở châu Âu thông qua việc khuếch trương ảnh hưởng của Leipzig Gewandhaus Orchestra cũng như thành lập Leipzig Conservatory (ngày nay là Đại học Âm nhạc và Sân khấu Leipzig) – nhạc viện đầu tiên của nước Đức. Ảnh hưởng của ông đối với âm nhạc, thông qua số lượng lớn tác phẩm được sáng tác và những nỗ lực không mệt mỏi trong việc biểu diễn, chỉ huy, giảng dạy và phục hưng những tinh hoa của quá khứ, đã để lại dấu ấn khó phai mờ cho mãi đến tận ngày nay.

Felix Mendelssohn sinh ngày 3/2/1809 tại Hamburg, Đức, trong một gia đình Do Thái giàu có. Cha cậu, ông Abraham là một chủ ngân hàng còn mẹ, bà Lea là nhạc sĩ, nhà quảng bá âm nhạc, thường xuyên tổ chức những bữa tiệc trà với mục đích tụ họp nghệ thuật. Ông nội Felix, Moses là một triết gia nổi tiếng, người rất có uy tín tại nước Đức. Gia đình Mendelssohn đã từ bỏ đạo Do Thái, cải sang đạo Tin lành và toàn bộ bốn người con của họ (chị gái Fanny, Felix, em gái Rebecka và em trai Paul) hoàn toàn được nuôi dưỡng mà không có sự giáo dục tôn giáo nào cho đến khi trưởng thành. Cái họ Bartholdy được nhà Mendelssohn thêm vào từ năm 1822 nhằm thể hiện sự quay lưng lại với truyền thống: “Không thể có một Mendelssohn theo đạo Thiên chúa cũng như không thể có một Khổng Tử theo đạo Do Thái”. Khi bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của mình, Felix không hoàn toàn từ bỏ cái tên Mendelssohn như ông Abraham yêu cầu, nhưng để tỏ lòng tôn trọng cha mình, anh đã ký tên vào các bức thư và in danh thiếp của mình bằng mẫu “Mendelssohn Bartholdy”. Qua những trao đổi giữa chị em nhà Mendelssohn, chúng ta biết được rằng họ đều không thích cái họ này.

Năm 1811, cả gia đình chuyển đến sinh sống tại Berlin. Abraham và Lea đã dành cho những đứa con của mình sự giáo dục tốt nhất có thể. Họ được lớn lên trong một môi trường trí thức. Nhiều vị khách danh tiếng đã tham dự trong những buổi tiệc trà được bà Lea tổ chức như Georg Wilhelm Friedrich Hegel, Heinrich Heine, Louis Spohr, Niccolò Paganini, Alexander và Wilhelm von Humboldt hay nhà toán học Peter Gustav Lejeune Dirichlet, người sau này trở thành chồng của Rebecka). “Cả châu Âu đến phòng khách của họ” là nhận xét chính xác về gia đình Mendelssohn lúc bấy giờ. Bà Lea chính là người thầy âm nhạc đầu tiên của các con mình. Sau đó, họ theo học piano với Ludwig Berger tại Berlin. Từ năm 1819, Felix và Fanny học sáng tác và đối âm cùng Carl Friedrich Zelter. Zelter là người vô cùng ngưỡng mộ di sản âm nhạc của gia đình Bach. Và có lẽ điều này đã góp phần quan trọng trong việc hình thành thị hiếu âm nhạc của Mendelssohn. Thể hiện rõ trong sự gắn bó của nhà soạn nhạc với âm nhạc Baroque và giai đoạn đầu của thời kỳ Cổ điển, thông qua các fugue và chorale. Dưới sự giới thiệu của Zelter, Mendelssohn được làm quen với Johann Wolfgang von Goethe, lúc này đã ngoài 70 tuổi. Goethe rất thán phục trước tài năng của người bạn trẻ tuổi: “Thần đồng âm nhạc… có lẽ ngày nay không còn hiếm nữa; nhưng những gì cậu bé này có thể làm khi ứng tác hoặc chơi nhạc thị tấu thật sự gần như kỳ diệu và tôi đã không thể tin rằng điều đó lại có thể xảy ra ở một độ tuổi nhỏ như vậy”. Mendelssohn đã phổ nhạc một số bài thơ của Goethe cũng như sáng tác một số tác phẩm dựa trên nguồn cảm hứng đến từ nhà thơ lỗi lạc này như overture Meeresstille und glückliche Fahrt (Biển lặng và chuyến đi may mắn) và cantata Die erste Walpurgisnacht (Đêm Walpurgis đầu tiên). Bản Tứ tấu piano số 3 mà Felix sáng tác năm 1825 được dành tặng cho Goethe.

Felix có lẽ đã lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng trong một buổi hoà nhạc khi mới chín tuổi với vai trò đệm piano cho hai horn. Ngay từ khi còn nhỏ, Felix đã thể hiện là một nhà soạn nhạc có sức sáng tạo dồi dào. Từ năm 12- 14 tuổi, Mendelssohn đã viết 13 bản giao hưởng dành cho dàn dây, cùng với một số tác phẩm thính phòng khác. Tác phẩm đầu tay của cậu là một bản tứ tấu piano, được xuất bản khi Felix mới 13 tuổi. Đến năm 1824, khi mới 15 tuổi, cậu đã hoàn thành bản giao hưởng viết cho dàn nhạc đầy đủ, giọng Đô thứ. Các tác phẩm này, hầu hết được biểu diễn tại nhà trong khuôn khổ những buổi hòa nhạc riêng, với một dàn nhạc tư nhân phục vụ cho giới trí thức tinh hoa ở Berlin, điều dễ hiểu vì gia đình Felix cũng như bạn bè và cộng sự của cha mẹ cậu, đều là những người giàu có. Mùa thu năm 1825, Felix đã hoàn thành bản octet dành cho 4 violin, 2 viola và 2 cello, đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc của nhà soạn nhạc. Không chỉ có hình thức độc đáo, bản octet còn toát ra hơi thở của chủ nghĩa Lãng mạn, lúc này còn khá mới mẻ trong đời sống âm nhạc. Một năm sau, kiệt tác overture Giấc mộng đêm hè ra đời, được học giả George Grove ca ngợi: “Điều kỳ diệu nhất về sự trưởng thành sớm mà thế giới từng thấy trong âm nhạc”. Tuy nhiên, năm 1827, Felix chứng kiến thất bại đầu tiên trong cuộc đời nghệ thuật của mình. Vở opera Die Hochzeit des Camacho (Đám cưới Camacho), được cậu sáng tác khi 15 tuổi đã thất bại trong lần ra mắt. Báo chí đã chỉ trích gay gắt. Điều này đã khiến cậu chán ghét cả opera lẫn báo chí. Mendelssohn không bao giờ đề cập đến thể loại này một lần nào nữa.

Bà nội của Mendelssohn, Bella Salomon, một nhà sưu tập âm nhạc nổi tiếng đã tặng cháu trai mình bản sao tác phẩm St Matthew Passion (Bach), lúc này đã gần như bị lãng quên. Dưới sự giúp đỡ của Zelter và những người bạn, ngày 11/3/1829, tại Singakademie, Berlin, Mendelssohn đã chỉ huy tác phẩm này. Đây là buổi biểu diễn vô cùng quan trọng, đánh dấu mốc thời gian âm nhạc Bach thực sự hồi sinh tại châu Âu và mang lại danh tiếng to lớn cho Mendelssohn khi ông mới vừa bước qua tuổi 20. Mendelssohn đã dành quãng thời gian dài sau đó để đi du lịch khắp châu Âu, khởi đầu là London, sau đó là những địa danh nổi tiếng khác như Vienna, Rome, Milan… Tại bất cứ nơi đâu, ông cũng dành thời gian tiếp xúc với những nhân sĩ nổi tiếng tại địa phương và nghiên cứu âm nhạc nơi đây. Đó là nguồn cảm hứng lớn lao để Mendelssohn chắt lọc vào những tuyệt phẩm của mình sau này như các bản giao hưởng số 3, 4 và Overture Hebrides. Trở về Đức vào năm 1832, Mendelssohn tiếp tục tôn vinh âm nhạc Baroque bằng cách trình diễn vở oratorio Israel in Egypt (George Frideric Handel) tại lễ hội âm nhạc Lower Rhenish, Düsseldorf. Trở thành một nhân vật uy tín trong đời sống âm nhạc Đức, Mendelssohn nhận được lời mời đảm nhận những cương vị quan trọng như chỉ đạo nghệ thuật của nhà hát Opera Munich biên tập tạp chí âm nhạc danh tiếng Allgemeine musikalische Zeitung và giám đốc Leipzig Gewandhaus Orchestra. Mendelssohn quyết định đảm nhận lời đề nghị sau cùng, bắt đầu từ năm 1835.

Tại Leipzig, Mendelssohn tập trung vào việc phát triển đời sống âm nhạc nơi đây bằng cách làm việc với dàn nhạc, nhà hát opera, dàn hợp xướng. Ông chia các buổi hoà nhạc thành ba phần chính: các tác phẩm của mình, âm nhạc thế kỷ 18 và các nhà soạn nhạc đương thời. Các tác phẩm từ khắp châu Âu đã được gửi đến cho Mendelssohn. Wagner tức giận vì Mendelssohn đã làm thất lạc bản giao hưởng đầu tiên của ông. Robert Schumann thì háo hức để Mendelsoshn công diễn bản Giao hưởng số 9 của Franz Schubert mà ông vừa phát hiện ra. Chắc chắn, vào thời điểm này, Leipzig đã trở thành một trong những trung tâm âm nhạc quan trọng nhất tại châu Âu. Năm 1837, Mendelssohn cưới Cecile Jeanrenaud, con gái một mục sư đạo Tin lành. Họ có với nhau năm người con. Khi Friedrich Wilhelm IV lên ngôi vua Phổ vào năm 1840, ông có tham vọng biến Berlin thành một trung tâm văn hoá. Người đầu tiên được nhà vua nghĩ tới chính là Mendelssohn. Với vị thế vững chắc của mình tại Leipzig, nhà soạn nhạc đến Berlin với sự miễn cưỡng. Mendelssohn đã đề xuất nhiều ý tưởng cũng như sáng tác một số tác phẩm, trong đó đáng chú ý có phần âm nhạc dành cho vở kịch Giấc mộng đêm hè (nối tiếp overture nổi tiếng ra đời trước đó). Tuy nhiên, nhiều lời hứa của triều đình dành cho Mendelssohn đã không bao giờ được thực hiện, điều khiến cho nhà soạn nhạc thất vọng trở về Leipzig. Năm 1843, Mendelssohn thành lập Nhạc viện Leipzig, ngôi trường đầu tiên dạy nhạc một cách bài bản, chính quy tại Đức. Những giảng viên tại đây, ngoài Mendelssohn còn có các tên tuổi khác như Schumann, nghệ sĩ piano từng là thầy giáo Ignaz Moscheles, nghệ sĩ violin Joseph Joachim và Ferdinand David, người bạn thân thiết được sinh ra cùng trong một ngôi nhà với Mendelssohn tại Hamburg và là concertmaster của Leipzig Gewandhaus Orchestra.

Mendelssohn có một mối liên hệ mật thiết và gần gũi với nước Anh. Trong suốt cuộc đời mình, ông đã tới Anh 10 lần với tổng thời gian lưu trú khoảng 20 tháng. Ông sáng tác, biểu diễn và biên tập nhiều tác phẩm thời kỳ Baroque, đặc biệt là các oratorio của Handel và tác phẩm dành cho organ của Bach cho một số nhà xuất bản tại Anh. Trong những bức thư gửi về gia đình, Mendelssohn không ngừng bày tỏ sự vui mừng và hân hoan khi trở thành nhân tố quan trọng trong đời sống âm nhạc tại đây: “Chưa bao giờ có mùa diễn nào như thế này – chúng tôi chưa từng đi ngủ trước 1 giờ rưỡi sáng, mọi giờ trong mỗi ngày đều kín lịch từ ba tuần trước đó, và trong vòng hai tháng tôi đã tiếp xúc với âm nhạc nhiều hơn toàn bộ phần còn lại của năm”. Nữ hoàng Anh Victoria và chồng bà Albert, đều là những nhà soạn nhạc nghiệp dư, rất quý mến và kính trọng Mendelssohn.

Schumann nhận định về Mendelssohn: “Là Mozart của thế kỷ 19, nhà soạn nhạc rực rỡ nhất, người có cái nhìn sáng suốt nhất về những mâu thuẫn của thời đại và là người đầu tiên hoà giải được chúng”. Lời đánh giá này làm nổi bật hai đặc điểm cốt lõi trong phong cách sáng tác cũng như quá trình sáng tác của Mendelssohn. Đầu tiên, cảm hứng âm nhạc của ông bắt nguồn từ thành thạo kỹ thuật và khả năng diễn giải tinh tế các phong cách của những bậc thầy đi trước, dù ông cũng hoàn toàn nhận thức và phát triển những yếu tố Lãng mạn sơ khai có trong âm nhạc của Beethoven và Weber. Nhà nghiên cứu âm nhạc James Garratt bình luận rằng, từ những năm đầu sự nghiệp, Mendelssohn đã cho thấy rõ sự gắn bó của mình với âm nhạc thời kỳ trước là một yếu tố định hình tính sáng tạo của ông. Bản thân nhà soạn nhạc cũng thừa nhận điều này: trong những lần gặp gỡ với Goethe, ông từng viết rằng mình đã “trình diễn lịch sử âm nhạc” cho nhà thơ: “Mỗi sáng, trong khoảng một tiếng, tôi phải chơi nhiều tác phẩm của các nhà soạn nhạc lớn theo trình tự thời gian và giải thích cho ông ấy biết họ đã đóng góp như thế nào vào sự tiến bộ của âm nhạc”. Thứ hai, nhận định của Schumann cũng cho thấy rằng Mendelssohn chủ yếu quan tâm đến việc làm sống lại và tiếp nối di sản âm nhạc mà ông kế thừa, hơn là tìm cách thay thế nó bằng những hình thức hay phong cách mới, hoặc sử dụng các kỹ thuật phối khí hiện đại hơn. Chính điều đó khiến Mendelssohn khác biệt rõ rệt so với nhiều nhà soạn cùng thời đại như Wagner, Hector Berlioz và Franz Liszt. Berlioz thì nhận xét rằng Mendelssohn “có lẽ đã nghiên cứu âm nhạc của người đã khuất quá sâu sắc”.

Về khía cạnh này, có thể nói Mendelssohn là một nhà bảo thủ. Nhà phê bình âm nhạc Richard Taruskin nhận xét: “Ông không bao giờ vượt ra khỏi phong cách thời niên thiếu đầy chín chắn của mình… Ông vẫn giữ quan điểm bảo thủ về mặt phong cách, không cảm thấy cần phải gây chú ý bằng cách thể hiện sự mới mẻ “mang tính cách mạng”. Suốt sự nghiệp ngắn ngủi của mình, ông luôn trung thành một cách thoải mái với hiện trạng âm nhạc – tức là với các hình thức “cổ điển”, được thời đại của ông định nghĩa. Phiên bản chủ nghĩa Lãng mạn của ông, vốn đã hiện diện ngay từ những tác phẩm đầu tay, chủ yếu thể hiện qua lối viết nhạc họa hình khá truyền thống, mang tính khách quan (dù được trau chuốt một cách tuyệt mỹ)”. Mendelssohn không có tham vọng tạo ra sự khiêu khích như Berlioz, muốn nhấn mạnh cao trào cảm xúc ở cuối chương nhạc, thậm chí sẵn sàng kéo dài phần coda để đạt được điều đó hoặc Liszt, người làm một cuộc cách mạng thật sự khi lồng ghép hình thức sonata 2 phần vào trong sonata piano của mình. Mendelssohn đơn giản là điều chỉnh lại sự cân đối giữa các phần trong hình thức sonata, chúng được chuyển tiếp một cách khéo léo hơn, được biến đổi về hoà âm hoặc giai điệu và không hề lặp lại một cách máy móc. Nhờ vậy, chương nhạc tiến triển hợp lý về mặt biểu cảm, dẫn đến một cao trào ở cuối mà không cần phá vỡ cấu trúc cổ điển. Nhà âm nhạc học Greg Vitercik đã tổng kết hiệu quả này: “Mendelssohn đã đồng hóa quỹ đạo năng động của “hình thức bên ngoài” với sự triển khai logic của câu chuyện âm nhạc”. Nói cách khác, mạch cảm xúc của chương nhạc không tách rời cấu trúc hình thức, mà được lồng ghép hài hoà vào trong đó. Như Mendelssohn đã nói: “Bản chất của cái đẹp là sự thống nhất trong đa dạng”.

Quan điểm âm nhạc của Mendelsssohn được chính nhà soạn nhạc bộc lộ khi ông trả lời người bạn trước ý tưởng chuyển soạn nhiều Bài ca không lời (tám tập, mỗi tập gồm sáu tiểu phẩm dành cho piano độc tấu được sáng tác trong suốt cuộc đời nhà soạn nhạc) sang lied: “Điều mà âm nhạc tôi yêu thích thể hiện, đối với tôi không phải là những ý nghĩ quá mơ hồ để tôi không thể diễn đạt bằng lời, mà ngược lại, chúng quá rõ ràng”. Trong suy nghĩ của Mendelssohn, âm nhạc không phải là thứ thay thế cho lời nói khi chúng ta cạn vốn từ mà ngược lại, nó diễn đạt những điều quá tinh tế đến mức lời nói không thể lột tả được. Với tín điều đó, Mendelssohn luôn tỏ ra cảnh giác với sự cấp tiến của nhiều đồng nghiệp. Ông thân thiện với Berlioz và Liszt nhưng giữ khoảng cách và không ngần ngại phản đối thẳng thắn các tác phẩm của họ. Nhận định về Liszt, Mendelssohn khẳng định các tác phẩm của Liszt kém cỏi hơn trình độ biểu diễn của ông. Còn với Berlioz, Mendelssohn từng chê bai overture Les francs-juges: “Phần phối khí là một mớ hỗn độn kinh khủng đến mức sau khi cầm bản tổng phổ, chúng ta nên rửa tay”. Một điều đáng chú ý trong phong cách sáng tác của Mendelssohn là ông thường xuyên sửa chữa lại các tác phẩm của mình, đặc biệt là trong năm bản giao hưởng. Điều này dẫn đến việc phiên bản cuối cùng được hoàn thành có mốc thời gian khác biệt so với số thứ tự của chúng. Bản đầu tiên được ông sáng tác khi 15 tuổi, cho thấy sự ảnh hưởng rõ rệt từ Beethoven và Weber. Sau này, Mendelssohn đã thay thế chương 3 bằng phần Scherzo được mở rộng lấy từ octet. Bản Giao hưởng số 2 “Lobgesang” (Khúc ca ngợi) được sáng tác và biểu diễn vào năm 1840 không được nhà soạn nhạc đánh số mà nhà xuất bản thêm vào sau đó. Bản Giao hưởng số 3 “Scottish” được chỉnh sửa rất nhiều lần, bắt đầu từ năm 1829 nhưng trên thực tế là giao hưởng được trình diễn cuối cùng của nhà soạn nhạc. Bản giao hưởng số 4 Italy và số 5 Reformation (Cải cách) thậm chí còn không được xuất bản.

Ngày 13/3/1845, một trong những tác phẩm vĩ đại nhất của Mendelssohn cũng như nền âm nhạc cổ điển thế giới, bản Concerto violin được trình diễn. Đây là bản nhạc được ông dành tặng cho người bạn từ thưở nhỏ David. Tác phẩm được Mendelssohn ấp ủ trong một khoảng thời gian rất dài, bắt đầu từ năm 1838. David đã tiên đoán trước sự vĩ đại của tác phẩm: “Đây sẽ là một điều tuyệt vời! Có rất nhiều bản nhạc dành cho violin và dàn nhạc, nhưng mới chỉ có một bản concerto lớn, thực sự tuyệt vời (Beethoven) và bây giờ sẽ có hai bản”! Đây cũng là tác phẩm mang tính cách mạng nhất của Mendelssohn. Đầu tiên là sự xuất hiện chủ đề chính do nhạc cụ độc tấu biểu diễn thay vì một phần giới thiệu dài của dàn nhạc. Sau đó là sự xuất hiện cadenza ở vị trí bất thường với sáng tác do chính tác giả thực hiện thay vì để nghệ sĩ tự do sáng tạo. Thêm vào đó là sự liền mạch giữa các chương nhạc, được chơi không ngừng nghỉ. Những giai điệu nhẹ nhàng, tha thiết đầy sức lôi cuốn đặc trưng cho phong cách của Mendelssohn tạo cho bản nhạc một sức hút vô cùng mãnh liệt. Sau thời điểm này, Mendelssohn tập trung vào sáng tác oratorio Elijah, được Lễ hội Âm nhạc Birmingham đặt hàng. Tác phẩm này được mô phỏng theo các tính chất âm nhạc của Bach và Handel nhưng vẫn phản ánh được đặc trưng của Mendelssohn qua cách sử dụng sắc thái trữ tình của dàn nhạc và dàn hợp xướng. Elijah được công diễn vào ngày 26/8/1846 tại Birmingham.

Là người yêu thích không khí gia đình, Mendelssohn luôn tỏ ra yêu thương và gần gũi với những người thân. Sau cái chết của người cha (1835), bảy năm sau mẹ ông qua đời (1842), sức khoẻ của Mendelssohn ngày càng yếu dần và ông sống khép mình hơn. Và khi Fanny, chị gái và cũng là người bạn thân thiết nhất của ông qua đời ngày 14/5/1847, Mendelssohn bị khủng hoảng và suy sụp hoàn toàn. Ông đi nghỉ dưỡng tại Thuỵ Sĩ, tránh mọi hoạt động nơi đông người. Tại đây, Mendelssohn hoàn thành bản Tứ tấu dây số 6, tác phẩm lớn cuối cùng của ông.

Mendelssohn cũng gắng gượng để cho xuất bản toàn bộ những sáng tác của Fanny, người mà vì những định kiến xã hội không thể trở thành nhà soạn nhạc dù sở hữu năng khiếu âm nhạc tuyệt vời. Chưa đầy sáu tháng sau, ngày 4/11/1847, nhà soạn nhạc qua đời ở tuổi 38 tại Leipzig vì một loạt cơn đột quỵ. Cả ông nội, cha mẹ và Fanny đều mất vì căn bệnh tương tự. Tang lễ của Mendelssohn được tổ chức tại nhà thờ Paulinerkirche, Leipzig và di hài ông chôn cất ở nghĩa trang Dreifaltigkeitsfriedhof I, Berlin bên cạnh những thành viên khác trong gia đình. Mendelssohn từng miêu tả cái chết: “hy vọng vẫn còn âm nhạc, nhưng không còn nỗi buồn hay sự chia ly nữa”.

Là nghệ sĩ đa tài nhất trong lịch sử âm nhạc, Mendelssohn đạt được những thành tựu rất cao trong tất cả những lĩnh vực mà ông tham gia. Từ sáng tác, biểu diễn piano, organ, chỉ huy dàn nhạc, giảng dạy, phê bình, quản lý âm nhạc, Mendelssohn đều để lại dấu ấn đậm nét, điều biến ông trở thành một trong những nhân vật quan trọng nhất trong đời sống nghệ thuật châu Âu vào đầu thế kỷ 19. Không chỉ có vậy, ông còn được biết đến như một hoạ sĩ màu nước tài ba. Mendelssohn thường vẽ lại những khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp trong những chuyến du lịch của mình. Để lại một di sản lớn với 750 tác phẩm, một số lớn trong đó không được nhà soạn nhạc cho phép xuất bản khi ông còn sống, Mendelssohn thể hiện sức sáng tạo dồi dào ở rất nhiều thể loại khác nhau. Được hoan nghênh và kính trọng trong suốt cuộc đời tuy nhiên, sau khi Mendelssohn mất, một phong trào bài Do Thái bùng lên ở châu Âu. Nguồn gốc của nhà soạn nhạc được khơi lại và mang ra chỉ trích. Một trong những người đi đầu chính là Wagner. Trong bài luận Das Judenthum in der Musik (Tính Do Thái trong âm nhạc) được xuất bản trên tờ Neue Zeitschrift für Musik (Tạp chí Âm nhạc mới) vào ngày 3/9/1850, Wagner, dưới bút danh K. Freigedank chỉ trích các nghệ sĩ Do Thái, ở đây là Mendelssohn và Giacomo Meyerbeer, có thể đạt được trình độ kỹ thuật điêu luyện, nhưng tác phẩm của họ cuối cùng lại không thể đồng điệu sâu sắc với tinh thần nghệ thuật đích thực. Sự khác biệt này xuất phát từ quan điểm bên ngoài cố hữu của các nghệ sĩ Do Thái đối với các truyền thống văn hóa châu Âu, điều này ngăn cản họ sáng tạo nghệ thuật phản ánh chân thực tinh thần của những truyền thống này. Cùng với đó là sự bùng nổ những tác phẩm hoành tráng, kịch tính ngày càng phổ biến trong suốt thế kỷ 19, điều khiến cho các sáng tác của Mendelssohn với vẻ đẹp duyên dáng và kích thước khiêm tốn ngày càng bị coi là lỗi thời và tầm thường. Tình trạng này kéo dài và càng trở nên trầm trọng dưới thời Đức Quốc xã, Mendelssohn bị mô tả như một “tai nạn nguy hiểm” trong lịch sử âm nhạc, người đã đóng vai trò quyết định trong việc làm cho nền âm nhạc Đức thế kỷ 19 trở nên “suy đồi”. Nhiều bức tượng của ông tại Đức bị phá huỷ. Từ những năm 1950, danh tiếng của Mendelssohn đã được phục hồi, đưa ông trở lại vị thế của một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại và là nhân vật có ảnh hưởng nhất của nền âm nhạc châu Âu trong nửa đầu thế kỷ 19.

Cobeo