Tác giả: Joseph Haydn.
Tác phẩm: Giao hưởng số 45 giọng Pha thăng thứ “Từ biệt”, Hob. I:45
Thời gian sáng tác: Năm 1772.
Độ dài: Khoảng 25 phút.
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Allegro assai
Chương II – Adagio
Chương III – Menuet – Trio: Allegretto
Chương IV – Finale: Presto – Adagio
Thành phần dàn nhạc: 2 oboe, bassoon, 2 horn và dàn dây.

Năm 1766, Haydn trở thành Kapellmeister của gia tộc Esterházy. Cũng trong năm này, Hoàng thân Nikolaus Esterházy cho xây một điền trang khổng lồ để làm nơi nghỉ mùa hè tại Esterháza, Hungrary với cung điện, nhà hát, nhà thờ, công viên và thường được so sánh với Versailles. Để tương xứng với công trình đồ sộ này, Esterházy đã mở rộng biên chế của dàn nhạc. Điều này khiến công việc của Haydn càng bận rộn hơn. Là Kapellmeister, Haydn phải chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ nhạc công trong dàn nhạc.
Mùa hè năm 1772, Esterházy đi nghỉ tại Esterháza cùng với dàn nhạc của mình. Tuy nhiên, không giống với những lần trước, người nhà của họ không được đi cùng. Cho đến tận mùa thu, hoàng thân chưa hề có ý định trở về Eisenstadt, Áo, thậm chí còn cho biết sẽ dự định ở lại thêm vài tháng. Nhớ nhà, nhớ gia đình, các nhạc công đến gặp Haydn đề nghị ông ngỏ lời với hoàng thân, cho phép họ về sớm.
Quyết định giúp đỡ họ (Haydn và violin số 1 của dàn nhạc Luigi Tomasini được mang theo gia đình), nhưng thay vì nói với hoàng thân, Haydn lựa chọn một cách thông minh và thú vị hơn nhiều: ông sáng tác một bản giao hưởng. Vậy là một tác phẩm có cách thức trình diễn độc đáo nhất trên thế giới, bản giao hưởng “Từ biệt” đã ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Trong chương cuối của bản giao hưởng, từng nhạc công sau khi chơi xong phần của mình, lặng lẽ thổi tắt ngọn nến trên giá nhạc và đi vào sau sân khấu, lần lượt như vậy cho đến khi chỉ còn lại 2 violin cuối cùng do Haydn và Tomasini chơi. Một lời đề nghị kín đáo nhưng hiệu quả. Esterházy đã hiểu thông điệp, ông đứng lên và nói: “Nếu bọn họ phải rời đi, chúng ta cũng phải đi thôi”. Ngay ngày hôm sau, mọi người được trở về Eisenstadt.
Tuy nhiên, kể cả không có màn chia tay ly kỳ trong phần cuối, bản giao hưởng số 45 của Haydn vẫn là một tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao và rất đáng chú ý. Các chương nhạc trước đó cũng chứa đầy những khoảnh khắc thú vị. Tác phẩm đánh dấu buổi bình minh trong thời kỳ trưởng thành của Haydn. Ông sáng tác tác phẩm ở giọng Pha thăng thứ, bản giao hưởng hiếm hoi ở giọng thứ của Haydn và là giọng Pha thăng thứ duy nhất trong toàn bộ các bản giao hưởng thế kỷ 18, điều này tạo cho âm nhạc một màu sắc u sầu rất đặc trưng, ngay cả khi thiếu sự phong phú về mặt nhạc cụ (chỉ có oboe, bassoon và horn cùng dàn dây).

Hợp âm Pha thăng thứ 3 nốt được chơi rải đi xuống trên bè violin 1 là chất liệu âm nhạc chính của chương I Allegro assai ở nhịp 3/4, phía dưới chúng – những nốt nhạc đảo phách giận dữ trên bè violin 2 là điển hình cho phong cách Sturm und Drang (Bão táp và Xung kích), một trào lưu nghệ thuật điển hình của Đức trong thế kỷ 18. Chù đề 2 xuất hiện nhưng không hề tương phản mà gần như hoà nhập với chủ đề chính vì không có nhiều sự khác biệt giữa 2 chủ đề, ngoại trừ được viết ở giọng Đô thăng thứ. Trong phần tái hiện xuất hiện chủ đề 3 thay vì giữ nguyên hình thức sonata và đưa chủ đề 1 xuất hiện trở lại trong phần cuối chương nhạc.

Chương II Adagio ở nhịp 3/8 được viết ở giọng liên quan La trưởng. Thông thường cấu trúc điển hình cho một bản giao hưởng của Haydn là chương I nhanh ở dạng sonata, chương II chậm, chương III là một khúc minuet và Trio, chương 4 nhanh. Nhưng ở bản giao hưởng này, chương II cũng được viết ở dạng sonata. Những chiếc violin chơi tắt tiếng tạo nên một motif “như những tiếng nấc nhẹ” trầm tư và ảm đạm. Âm nhạc xen kẽ giọng trưởng và thứ, gợi lên thứ âm nhạc đầy cảm xúc của Schubert sau này. Có lẽ chương nhạc thể hiện nỗi nhớ nhà của những nhạc công. Họ đang rất muốn sum họp với gia đình.

Chương III Minuet ở giọng Pha thăng trưởng, nhịp 3/4. Hiếm khi một nhà soạn nhạc đưa những thứ kỳ lạ hoặc mạo hiểm trong chương nhạc này. Nhưng Haydn là một ngoại lệ. Pha thăng trưởng là giọng hiếm gặp, đây có lẽ là chương nhạc duy nhất ở giọng này trong thời kỳ của Haydn. Và ngay trong ô nhịp thứ 3, âm nhạc đã chuyển sang giọng Rê trưởng – cách sử dụng nhiều giọng trong một câu nhạc cực kỳ hiếm gặp trong thời Haydn và chỉ phổ biến trong âm nhạc Lãng mạn vài chục năm sau đó.

Chương IV bắt đầu với phần Presto nhanh với sự xuất hiện của các chất liệu âm nhạc trong các chương trước, giống như một sự tổng kết. Phần Presto được viết ở hình thức sonata và kết thúc ở giọng Pha thăng thứ. Phần Adagio nổi tiếng được viết ở giọng La trưởng, nhịp 3/8. Sự xuất hiện của phần này cũng là một sự khác biệt. Thông thường sẽ là một coda dẫn đến kết thúc tác phẩm. Nhưng ở đây, Haydn tạo ra một đoạn nhạc chậm rãi để thông báo với hoàng thân về nguyện vọng của những nhạc công. Lần lượt từng nhạc công sau khi chơi xong phần của mình sẽ thổi tắt ngọn nến và rời khỏi sân khấu: bắt đầu là horn 2, sau đó là oboe 1, các nhạc công dây ngồi phía sau, bassoon, oboe 2, horn 1, rồi các double bass, cello, viola. Cuối cùng chỉ còn lại 2 violin còn lại trên sân khấu. Một màn trình diễn độc nhất vô nhị.

Âm nhạc của Haydn chắc chắn sẽ tiếp tục tồn tại, với những lựa chọn và phong cách mang tính cách mạng của mình. Ông được biết đến với trái tim nhân hậu và sáng tạo, người đã đồng cảm với những nhạc công của mình và lựa chọn một phương thức xin phép độc đáo tới hoàng thân Esterházy với một bản giao hưởng. Là người định hình kỷ nguyên Cổ điển với những bản giao hưởng, tứ tấu đàn dây và các sáng tác khác của mình, Haydn chắc chắn là một trong những nhà soạn nhạc quan trọng nhất trong lịch sử âm nhạc.

Cobeo