Thông tin chung

Tác giả: Alexander Borodin.
Tác phẩm: Giao hưởng số 2 giọng Si thứ
Thời gian sáng tác:Năm 1869-1976. Năm 1979, nhà soạn nhạc đã sửa lại một số chỗ.
Công diễn lần đầu: Công diễn lần đầu ngày 10/3/1877 dưới sự chỉ huy của Eduard Nápravník. Phiên bản cuối cùng dược biểu diễn vào ngày 4/3/1879 với nhạc trưởng là Nikolai Rimsky-Korsakov.
Độ dài: Khoảng 27 phút.
Cấu trúc tác phẩm:
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Allegro moderato
Chương II – Scherzo. Molto vivo
Chương III – Andante
Chương IV – Finale. Allegro
Thành phần dàn nhạc: piccolo, 2 flute, 2 oboe (oboe 2 kiêm English horn), 2 clarinet, 2 bassoon, 4 horn, 2 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, trangle, tambourine, bass drum, cymbals và dàn dây.

Hoàn cảnh sáng tác

Sau thành công của bản giao hưởng đầu tiên vào năm 1869, Borodin đã bắt tay vào sáng tác Giao hưởng số 2 của mình. Tuy nhiên, mùa hè năm đó, ông đã tạm dừng để chuyển sang vở opera Prince Igor. Mặc dù vậy, mùa hè năm 1870, Borodin lại bỏ dở vở opera để quay lại với bản Giao hưởng số 2. Ông viết thư cho vợ mình: “Hiếm được một cảnh nào… Nhưng dù sao, vở opera đối với anh là một cái gì đó không tự nhiên… Bên cạnh đó, bản chất của anh là viết lời và các bản giao hưởng; những hình thức giao hưởng thu hút anh”. Ông cũng an ủi vợ mình rằng các chất liệu âm nhạc sẽ không bị lãng phí vì nó sẽ được sử dụng trong bản giao hưởng mới. Chương I được Borodin sáng tác phẩn lớn trong tháng 4/1870. Vào mùa xuân năm 1971, ông phác thảo chương II và III, hoàn thành chương I và tới tháng 10, Borodin bắt tay vào chương cuối.

Việc sáng tác bản giao hưởng của Borodin lại bị gián đoạn khi giám đốc Hhà hát Hoàng gia, Stephan Gedenov đề nghị ông tham gia vào dự án vở opera-ballet cực kỳ hoành tráng Mlada với những thành viên khác trong nhóm Hùng mạnh: César Cui, Modest Mussorgsky và Nikolai Rimsky-Korsakov. Borodin đã sử dụng nhiều chất liệu âm nhạc trong Prince Igor để đưa vào dự án mới này. Tuy nhiên, vì chi phí quá đắt đỏ đã khiến việc dàn dựng Mlada không bao giờ trở thành hiện thực. Một lần nữa Borodin lại quay trở về với bản Giao hưởng số 2 của mình.

Như chúng ta đã biết, công việc sáng tác âm nhạc chỉ là một thú vui của Borodin. Công việc chính của ông là một giáo sư y khoa và hoá học. Mùa thu năm 1872, Sa hoàng Alexander II thông qua một sắc lệnh cho phép phụ nữ tham gia các khoá học y tế nâng cao. Là người ủng hộ cho sắc lệnh này, Borodin trở thành người sáng lập trường Y dành cho phụ nữ và thực hiện một số bài giảng dạy tại đây. Mặc dù rất bận rộn nhưng tháng 5/1873, Borodin cũng hoàn thành phần piano cho bản giao hưởng. Trong những năm sau đó, công việc y học cuốn lấy Borodin và ông cũng trở lại với vở opera của mình. Cuối cùng năm 1875, ông cũng hoàn thành bản Giao hưởng số 2.

Mùa thu năm 1876, Russian Musical Society tỏ ý quan tâm đến bản giao hưởng của Borodin. Tuy nhiên, lúc này ông chợt phát hiện ra mình đã đánh mất tập bản thảo. Sau đó Borodin chỉ tìm thấy 2 chương giữa và phải ngồi viết lại chương I và IV. Có lẽ vì lý do này, bản giao hưởng được cuốn theo một hơi thở mới mẻ tự nhiên, liền mạch, thoát khỏi quy trình tạm bợ mà Borodin đã tạo ra trong hầu hết các tác phẩm khác của mình. Cuối cùng, bản giao hưởng cũng được biểu diễn ra mắt vào ngày 10/3/1877. Ngay khi ra đời, tác phẩm đã làm dấy lên cuộc tranh cãi về giá trị của các yếu tố văn hoá dân gian Nga và các hình thức âm nhạc phương Tây truyền thống, điều thường xuyên xảy ra tại Nga trong giai đoạn này. Bản giao hưởng được khán giả tỏ ra khá yêu thích, tuy nhiên, Rimsky-Korsakov cho rằng bè đồng quá dày đã có ảnh hưởng tiêu cực tới tác phẩm.

Năm 1877, Borodin tới Đức để làm việc với Đại học Jena. Ông có ghé qua Weimar để thăm Liszt. Họ đã cùng nhau chơi hai bản giao hưởng của Borodin trên piano bốn tay. Liszt là một người rất hâm mộ âm nhạc của Borodin và chính ông đã sắp xếp một số buổi biểu diễn các bản giao hưởng của Borodin, biến chúng thành các bản giao hưởng đầu tiên của một nhà soạn nhạc Nga được biểu diễn ở nước ngoài. Khi Borodin bày tỏ về việc sửa đổi bản Giao hưởng số 2, Liszt đã can ngăn: “Lạy Chúa! Không được chạm vào nó. Sự chuyển giọng của tác phẩm không quá mức cũng không bị lỗi. Bản năng nghệ thuật của anh là như vậy, không cần sợ hãi khi nó độc đáo. Đừng nghe những người sẽ ngăn cản anh làm theo cách riêng của mình. Anh đang đi đúng hướng… Bản Giao hưởng số 2 là một sáng tác hoàn toàn mới. Không ai đã làm bất cứ điều gì giống như nó. Và nó hoàn toàn hợp lý trong cấu trúc… Hãy làm việc theo cách của mình và đừng để ý đến bất kỳ ai”.

Mặc dù vậy, nghe theo lời khuyên của Rimsky-Korsakov, Borodin đã chỉnh sửa lại đôi chỗ trong tác phẩm, giảm đi sức nặng của bè đồng. Phiên bản này đã được Rimsky-Korsakov chỉ huy lần đầu vào ngày 4/3/1879. Một lần nữa, ông tinh chỉnh tác phẩm lần cuối vào năm 1886 trước khi bản giao hưởng được xuất bản.

Bản Giao hưởng số 2 giọng Si thứ của Borodin được coi là tác phẩm lớn nhất được nhà soạn nhạc hoàn thành và là một trong những bản nhạc xuất sắc nhất của ông cũng như là bản giao hưởng hay nhất của nhóm Hùng mạnh. Nó có nhiều điểm tương đồng với Prince IgorMlada, những tác phẩm đã làm gián đoạn việc sáng tác bản giao hưởng của Borodin. Mối quan hệ với thế giới anh hùng của Prince Igor khiến nhà phê bình âm nhạc Vladimir Stasov đặt biệt danh cho tác phẩm là bản giao hưởng “Anh hùng”, một tên gọi mà giờ đây hầu như đã bị lãng quên.

Phân tích

Chương I tác phẩm mở đầu bột phát mạnh trên bè dây, một tuyên ngôn đáng nhớ xuất hiện. Chủ đề này là tín hiệu bí mật cho các thành viên của Les Apaches, một nhóm các nhà sáng tạo trẻ ở Paris, bao gồm Maurice Ravel, một người hâm mộ Borodin cuồng nhiệt. Họ sẽ huýt sáo motif này như một lời chào hỏi nhau trên đường phố. Chương nhạc được viết ở hình thức sonata. Kèn đồng và kèn gỗ mang đến màu âm tối hơn, thể hiện phong cách của một tinh thần hiệp sĩ. Sau khi chủ đề chính được lặp lại, chủ đề hai xuất hiện, dựa trên các bài hát dân gian “The Terrible Tsar” và “The Nightingale”, dễ dàng được nhận ra vì tính chất dịu dàng của nó. Phần phát triển giới thiệu một điệu gallop có ảnh hưởng đến các phân mảnh của chủ đề vào tạo cảm giác hiệp sĩ cho chương nhạc dẫn đến một phần tái hiện với các nốt dài hơn, phần phối khí đậm đặc hơn khiến nó được chú ý nhiều hơn trước đó.

Chương II là một khúc scherzo sử dụng một hợp âm trên kèn đồng để chuyển từ giọng chính Si thứ sang giọng xa Pha trưởng. Sau đó nhanh chóng chuyển thành một chuỗi các giai điệu nhanh, sáng, nhẹ nhàng. Chương nhạc được viết ở nhịp cực kỳ bất thường 1/1 với tốc độ rất nhanh, được ghi chú 108/1 nhịp. Đây là nơi để những nghệ sĩ horn thể hiện kỹ thuật điêu luyện của họ trong những nốt nhạc được lặp đi lặp lại rất nhanh. Phần trio tương phản mở đầu với màn độc tấu của oboe, sau đó là clarinet, tạo ra một giai điệu không thể cưỡng lại được từ Prince Igor. Trên thực tế, chúng đều xuất phát từ hai bài dân ca “The Terrible Tsar” và “The Nightingale”.

Chương III Andante mở đầu với những nốt rải của harp và pizzicato của dàn dây với một đoạn độc tấu của clarinet, một trong những giai điệu thanh bình nhất của Borodin. Đây là nơi tập trung cốt lõi cảm xúc của tác phẩm. Sau đó, giai điệu horn ấm áp chiếm ưu thế, nhưng rồi một cuộc cạnh tranh đã diễn ra. Âm nhạc chuyển sang giọng thứ, chủ đề đầu tiên được xuất hiện trở lại trên kèn gỗ. Chương nhạc mang phong thái trữ tình thừa hưởng từ phần trio trong chương trước nhưng được thể hiện dưới một lăng kính dịu dàng hơn. Âm nhạc phát triển trong niềm đam mê, đạt đến cao trào tuyệt vời trước khi rút lui để lặng lẽ chia sẻ những suy ngẫm giữa các nhạc cụ hơi khác nhau, chơi lại giai điệu của phần horn độc tấu phần đầu chương nhạc, dẫn đến một coda đi thẳng vào chương cuối.

Chương IV thể hiện một lễ hội tưng bừng với một chủ đề chính nổi bật diễn ra trên 2 nhịp 3/4 và 2/4 (do đó nghe như thể ở nhịp 5/4), được trang trí bằng những nhạc cụ bộ gõ phong phú. Chủ đề hai bắt đầu như một bài hát trữ tình trầm lắng, nhưng sớm được mở rộng thành lễ kỷ niệm. Trong phần phát triển có một nét nhạc gợi lại phần mở đầu của bản giao hưởng nhưng điều này sớm dẫn đến một sự trau chuốt cực kỳ vui vẻ và không thể ngăn cản của hai chủ đề chính. Năng lượng tràn đầy của nó xuyên suốt qua cả phần tái hiện và coda. Âm nhạc luôn được khơi gợi với sức sống nhịp nhàng và sự hồn nhiên du dương của các giai điệu dân gian Nga.

Stasov cho biết Borodin đã hình thành một câu chuyện cho bản giao hưởng. Chương I là sự tập hợp các chiến binh và vị anh hùng Nga. Chương III miêu tả Boyan, người đàn ông huyền thoại xuất hiện trong sử thi The Lay of Igor’s Campaign của người Rus (một cộng đồng dân tộc thiểu số tại Đông Âu thời trung cổ). Chương IV là bữa tiệc của các anh hùng trong sự hân hoan của các dân tộc. Ông không đưa ra chú thích cho chương II. Nhà âm nhạc học Peter Brown nhận xét về tác phẩm: “Bản Giao hưởng số 2 được chứng minh là tác phẩm tuyệt vời của Borodin. Dù có những hạn chế về kỹ thuật của Borodin với tư cách là một nhà soạn nhạc, nhưng chúng không được bộc lộ trong bản giao hưởng này. Sức mạnh, sự vui tươi, trữ tình và sống động được kết hợp trong mỗi chương nhạc đã tạo nên sức hấp dẫn”.

Ngọc Tú tổng hợp