“Chị ấy là một nhân vật không thể lặp lại, người đã đánh dấu một kỷ nguyên trong thế giới opera và ca khúc thính phòng, nhưng chị ấy cũng, và ở cùng một mức độ, là một người tinh tế, tràn đầy sự giản dị và nhân văn, người đã thể hiện khả năng làm chủ của mình với tinh thần của một nghệ sĩ phản đối danh hiệu ngôi sao.” – Giacomo Aragall

Victoria de los Ángeles sở hữu một giọng soprano trữ tình ngọt ngào và khả năng biểu cảm lôi cuốn vô song. Bà luôn hết mình trên sân khấu, thu hút được một số lượng lớn khán giả trung thành và say mê. Dải âm thấp ấm áp với màu sắc phong phú còn giúp de los Ángeles có thể dễ dàng hát được những vai diễn vốn dành cho mezzo-soprano như Rosina (Il barbiere di Siviglia, Gioachino Rossini) và Carmen (Carmen, Georges Bizet). Không chỉ có vậy, bà còn tham gia rất nhiều trong các chương trình hoà nhạc, biểu diễn các ca khúc thính phòng bằng tiếng Đức, Pháp và Tây Ban Nha. Trên sân khấu, mái tóc đen óng ả, đôi mắt long lanh và nụ cười tươi tắn cùng với giọng hát thiên thần của mình, de los Ángeles luôn khiến khán giả phải yêu mến. Toả sáng và nổi tiếng, nhưng khi rời xa ánh đèn sân khấu, bà lại trở về với tính cách vốn có của mình, dè dặt và nhút nhát, không bao giờ bộc lộ những câu chuyện đời tư. Đất nước Tây Ban Nha không hề thiếu những danh ca tài năng nhưng vị trí của de los Ángeles luôn ở hàng đầu và không thể thay thế.

Victoria de los Ángeles López García sinh ngày 1/11/1923 tại Barcelona, là người con thứ hai trong gia đình gốc Catalan. Cha của cô, ông Bernardo Lopez Gómez là gác cổng tại Đại học Barcelona còn mẹ cô Victoria García phụ trách dọn dẹp các lớp học. Victoria còn có một chị gái Carmen và cậu em trai José. Cả cha mẹ cô bé đều yêu thích âm nhạc và Victoria được học guitar từ khi còn rất nhỏ, một điều khá bình thường tại đất nước Tây Ban Nha này. Đó là một gia đình hạnh phúc, ngôi nhà của họ nằm ngay trong khuôn viên Đại học Barcelona. Victoria thường xuyên theo mẹ đi vào các lớp học và khi García bắt đầu công việc của mình, bà thường cất tiếng hát với một chất giọng tuyệt vời. Victoria lắng nghe đầy say mê và từ lúc nào không biết, cô bé đã mang trong mình khát khao được trở thành ca sĩ. Tuổi thơ của Victoria lớn lên trong âm nhạc. Môi trường tại Đại học Barcelona đã giúp cô bé luôn có được những căn phòng trống để Victoria có thể tự chơi piano, lắng nghe những người khác và thỉnh thoảng được xem những chương trình hoà nhạc miễn phí. Say mê opera, Victoria cố gắng tiết kiệm tiền để có thể mua được vé vào Gran Teatre del Liceu, nhà hát lớn nhất châu Âu lúc bấy giờ.

Mùa xuân năm 1936, chị gái Carmen, lớn hơn em gái mình ba tuổi, người say mê giọng hát của Victoria đã dẫn cô đến Conservatori Superior de Música del Liceu để thử giọng. Người lắng nghe hôm đó là soprano Mercedes Plantada đã tỏ ra rất ấn tượng và ngạc nhiên trước một giọng hát có vẻ đẹp kì lạ và được tuôn trào vô cùng tự nhiên. Tuy nhiên, lúc này Victoria mới 12 tuổi nên Plantada khuyên cô bé nên chờ đợi đến một thời điểm thích hợp hơn để có thể học hát một cách chuyên nghiệp. Tháng 7 năm đó, cuộc nội chiến Tây Ban Nha nổ ra và tiếp theo là ba năm vô cùng khốn khó và gian khổ. Khi chiến tranh chấm dứt, Carmen khăng khăng muốn em gái mình theo học tại nhạc viện trong khi ông Bernardo Lopez Gómez không đồng ý nhưng rồi cuối cùng cũng chấp nhận vì nhận thấy khát khao của Victoria. Tháng 6/1939, hai chị em quay lại Conservatori Superior de Música del Liceu một lần nữa. Lần này, người gặp gỡ họ là mezzo-soprano Dolores Frau. Sau khi chứng kiến màn thể hiện của Victoria, Frau chắc chắn rằng đây sẽ là một trong những ca sĩ vĩ đại nhất thế giới. Victoria đã được nhận vào học tại nhạc viện. Năm 1941, Carmen động viên em gái mình tham gia vào một cuộc thi hát dành cho các giọng ca trẻ được tổ chức trên Đài phát thanh Barcelona. Frau khăng khăng rằng cô học trò mình sẽ phải hát trích đoạn Sì. Mi chiamano Mimì (La Bohème, Giacomo Puccini). Cùng với đó và Un bel dì vedremo (Madama Butterfly, Puccini), Victoria đã giành được giải nhất. Chính Mimì và Madama Butterfly sau này đã trở thành một trong những vai diễn được yêu thích nhất của de los Ángeles, gắn bó với cô trong suốt cuộc đời nghệ thuật. Dưới sự hướng dẫn của Frau cũng như Plantada, chỉ trong ba năm, cô đã tốt nghiệp nhạc viện loại xuất sắc, vốn được chỉ định cho sáu năm học. Ngoài ra, cô còn theo học guitar với Gracià Tarragó, người sau này cũng như con gái mình Renata Tarragó đã thường xuyên đệm hát cho de los Ángeles.

Sau khi tốt nghiệp vào năm 1942, de los Ángeles tham gia vào Ars Musicae, một nhóm nhạc do Josep Maria Lamaña lãnh đạo, với danh mục trải dài từ Phục hưng, qua Baroque đến các tác phẩm thanh nhạc thính phòng của Đức, Pháp và Tây Ban Nha. Chính giai đoạn này đã tập trung sự chú ý của cô vào những tác phẩm xưa cũ, từ đó giúp de los Ángeles sau này xây dựng một danh mục biểu diễn đa dạng, bao gồm các vở opera của các nhà soạn nhạc Baroque như Claudio Monteverdi hay Henry Purcell, điều hiếm khi xuất hiện vào thời kỳ của cô. Tuy nhiên, một điều đáng chú ý là de los Ángeles tham gia vào Ars Musicae với tư cách nghệ sĩ flute chứ chưa một lần cô hát cùng nhóm nhạc này. Buổi ra mắt chính thức của de los Ángeles diễn ra vào ngày 19/5/1944 tại Palacio de la Música, Barcelona trong một chương trình gồm các ca khúc thính phòng. Vai diễn opera đầu tiên trong sự nghiệp đến với cô là Rosina (Le nozze di Figaro, Wolfgang Amadeus Mozart) tại Gran Teatre del Liceu vào ngày 15/1/1945. Trong những năm sau đó, cô dần dần nổi tiếng trên khắp đất Tây Ban Nha, danh mục biểu diễn ngày một mở rộng. Năm 1947, de los Ángeles tham gia Cuộc thi thanh nhạc quốc tế tại Geneva và đã giành được giải nhất, đánh dấu sự xuất hiện của mình bên ngoài quê hương. Ngay sau cuộc thi, cô nhận được điện thoại từ ban giám đốc La Scala, mời cô đến nhà hát để thử giọng nhưng de los Ángeles đã từ chối với lí do phải về thẳng nhà với bố mẹ! Năm 1948, cô đã tạo dựng được dấu ấn mạnh mẽ khi hát trong Salud (La vida breve, Manuel de Falla) tại chương trình phát thanh của đài BBC. Đây là vai diễn sẽ mãi gắn liền với tên tuổi de los Ángeles. Cũng trong năm này, cô ký với EMI một hợp đồng thu âm kéo dài 30 năm, nơi sẽ lưu giữ những di sản đáng trân trọng của de los Ángeles với hơn 80 bản thu âm, trong đó có 21 vở opera hoàn chỉnh.

Sự nghiệp quốc tế của bà bắt đầu tăng tốc. De los Ángeles cũng không phải hối tiếc vì đã từng từ chối La Scala bởi bà đã nhanh chóng có được buổi ra mắt của mình tại đây. Đầu tiên là một chương trình thính phòng và vào ngày 27/5/1950, de los Ángeles có được vai diễn đầu tiên của mình tại thánh đường opera thế giới với Ariadne (Ariadne auf Naxos, Richard Strauss). Ngay sau đó là các lần xuất hiện tại những nhà hát opera danh giá khác như Covent Garden vào ngày 5/12/1950 trong Manon (Manon, Jules Massenet) và Metropolitan Opera vào ngày 17/3/1951 với Marguerite (Faust, Charles Gounod). Điểm đáng chú ý tại ba nhà hát này là de los Ángeles đều tổ chức hát trong một chương trình thính phòng trước khi xuất hiện trên sân khấu opera. Một phần để công chúng nhìn nhận bà là chính mình trước khi xem de los Ángeles hoá thân vào một nhân vật nào đó, và một phần vì các buổi độc diễn luôn là ưu tiên hàng đầu trong suy nghĩ của bà. Ngay từ lần xuất hiện đầu tiên, de los Ángeles đã chinh phục khán giả New York. Virgil Thomson, nhà phê bình vốn nổi tiếng khó tính, đã nhận xét trên New York Herald Tribune: “Giọng soprano trữ tình của cô ấy có âm vực rộng rãi và được rèn luyện cả về tính linh hoạt và khả năng biến đổi màu sắc đầy biểu cảm. Ở giữa nó có sự ấm áp tuyệt vời và phần trên cùng của nó được truyền tải một cách hoàn hảo. Cô không hát sai cao độ, run rẩy hoặc tạo ra những âm thanh khó nghe hoặc thiếu độ chính xác trong các đoạn chạy nốt hoặc không truyền đạt được cả âm nhạc và tính kịch”. Với chất giọng tự nhiên, dịu dàng và rạng rỡ luôn khiến de los Ángeles trở thành lựa chọn hiển nhiên cho các nữ anh hùng mong manh và yếu đuối trong opera Ý và Pháp – Mimì và Madama Butterfly, Mélisande (Pelléas et Mélisande, Claude Debussy), Manon và Marguerite. Đây cũng là những nhân vật mà bà có thể dễ dàng hoá thân và do đó được khắc họa với niềm tin trọn vẹn. Bên cạnh những vai soprano trữ tình này, de los Ángeles còn được biết đến như là một Carmen xuất sắc. Với sự hoá thân của bà, đó là một Carmen thanh lịch, không thô lỗ và tục tĩu: “Ngay cả những phụ nữ giang hồ bình thường cũng có lòng kiêu hãnh và dè dặt. Họ luôn chung thủy với một người đàn ông tại một thời điểm, dù có gì xảy ra đi chăng nữa. Đó là Carmen của tôi”.

Ngay từ khi khởi đầu sự nghiệp, de los Ángeles đã có quan điểm nghệ thuật rõ ràng. Nhiều vai diễn mà hầu hết các soprano khác đều sẵn sàng biểu diễn cũng sẽ bị bà từ chối nếu như bà không tìm được ở đó sự đồng cảm. Điển hình là Tosca (Tosca, Puccini). De los Ángeles không thể tưởng tượng được một phụ nữ Công giáo từng giết một kẻ ghê tởm như Scarpia lại có thể chạm vào cây thánh giá ngay sau đó. Trong thập niên 50, de los Ángeles đã trở thành một trong những soprano nổi tiếng nhất thế giới, sánh ngang với những tên tuổi như Maria Callas hay Renata Tebaldi. Tạp chí Opera News miêu tả giọng hát của bà: “Sự kết hợp bắt tai giữa giọng điệu ấm áp, sang trọng, ngữ điệu hoàn hảo và sự phân câu bậc thầy” và “có một không hai trong các vai diễn khai thác được khả năng thể hiện cảm xúc cao trào của bà”. Cũng có một số lời chỉ trích nhằm vào bà, đánh giá rằng de los Ángeles thiếu đi sự bùng nổ đầy kịch tính và sở hữu một giọng hát có âm lượng nhỏ. Thomson đã phản đối: “de los Ángeles không phải là không có sức mạnh trong giọng hát. Cô ấy chỉ đơn giản là không ném nó vào bạn”. Những cảm xúc tinh tế, chân thành và khả năng kết nối trực tiếp với khán giả của de los Ángeles dường như được cảm nhận trực tiếp hơn nếu như thưởng thức tiếng hát của bà trong các chương trình thính phòng. Bà luôn chiếm được cảm tình của khán giả bằng sự giản dị, mộc mạc của mình. Vào cuối những chương trình độc tấu, cây đàn piano được đóng lại, de los Ángeles ngồi lên trên đó, ôm lấy guitar và hát cho khán giả nghe nhiều bài hát bằng tiếng Tây Ban Nha. Thomson cảm thán: “Giọng hát là một trong những vẻ đẹp tự nhiên hiếm có, học vấn hoàn hảo, nghệ thuật hạng nhất”. Không bao giờ phô trương, bà thường loại bỏ đi những nốt trang trí không cần thiết trong phần biểu diễn của mình. Điển hình như vai diễn Rosina (Il barbiere di Siviglia), bà là một trong những người trung thành nhất với tổng phổ của Rossini, được James Hinton nhận xét đầy hóm hỉnh: “Cô ấy – gần như theo nghĩa đen – không làm gì cả theo nghĩa thông thường là “hiệu quả””. Khả năng điều khiển hơi thở tuyệt vời cũng giúp bà dễ dàng xử lý những đoạn chạy nốt coloratura hoa mỹ.

Bà luôn yêu thích cuộc sống trầm lắng, lảng tránh những thứ xa hoa phù phiếm, là điển hình tiêu biểu cho phong cách anti-diva. De los Ángeles luôn giữ ánh đèn sân khấu xa rời cuộc sống đời tư của mình. Với bà, gia đình luôn là thứ quý giá nhất và bà luôn cố gắng dành thời gian để ở bên họ. Điều này luôn ở trong tâm trí của de los Ángeles ngay từ khi khởi đầu sự nghiệp mà tiêu biểu là lời từ chối cuộc gọi từ La Scala để có thể nhanh chóng trở về bên bố mẹ. Bà vẫn kiên định tín điều này trong suốt cuộc đời mình. Một câu chuyện nữa càng khẳng định điều này. Đêm Giáng sinh năm 1957, Tebaldi phải từ bỏ buổi biểu diễn tại Metropolitan Opera với vai Violetta (La Traviata, Giuseppe Verdi) để trở về Ý vì mẹ bà qua đời. Tổng giám đốc Rudolf Bing vội vã tìm đến de los Ángeles để hi vọng có được sự thay thế. Cuối cùng, de los Ángeles đã huỷ bỏ kỳ nghỉ của mình tại Barcelona để ở lại. Biết được đó là sự hi sinh lớn lao của bà, Bing đã tổ chức một bữa tiệc Giáng sinh hoành tráng ở hậu trường để cảm ơn de los Ángeles, với sự góp mặt của Vienna Choir Boys hát những bài thánh ca và truyền thống dành tặng cho bà.

Một trong những khoảnh khắc đáng tự hào nhất trong cuộc đời nghệ thuật của de los Ángeles là bà đã trở thành ca sĩ Tây Ban Nha đầu tiên vào vai chính một vở opera của Richard Wagner tại liên hoan âm nhạc Bayreuth. Năm 1961, bà vào vai Elisabeth (Tannhäuser). Màn trình diễn của bà tuyệt vời đến nỗi de los Ángeles được Wieland Wagner, giám đốc liên hoan, cháu trai của nhà soạn nhạc mời biểu diễn trong mùa diễn sau đó, cũng với vai tương tự. Mặc dù bà đã kết hôn với Enrique Magrina, một luật sư vào năm 1948 nhưng phải đến những năm 1960, họ mới có những đứa con của mình Juan Enrique và Alejandro, người bị chẩn đoán mắc hội chứng Down. Kể từ đó, de los Ángeles giảm dần những buổi hát trên sân khấu opera, tập trung nhiều hơn vào các chương trình thính phòng và dành thời gian chăm lo cho gia đình của mình. Những người thường đệm piano cho bà là Geoffrey Parsons, Gerald Moore và Alicia de Larrocha, nghệ sĩ piano cùng tuổi, cùng quê hương xứ Catalan. Với de los Ángeles, vai trò của người đệm piano cũng quan trọng như ca sĩ, mỗi người đóng góp 50% vào thành công của chương trình. Một đặc điểm nổi bật trong các chương trình thính phòng của de los Ángeles là sự rộng lớn về danh mục biểu diễn, từ lied Đức đến mélodie Pháp, và từ aria cổ điển của Ý đến các bài hát quê hương, thỉnh thoảng có những chuyến du ngoạn vào các ca khúc truyền thống Anh khi bà biểu diễn tại đây. Chương trình có sự đa dạng đáng kể, nhưng sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho từng bài hát đã cho phép bà thực hiện những thay đổi này mà không hề phải tỏ ra nỗ lực. Bà luôn bước ra sân khấu với nụ cười ấm áp và rạng rỡ như để nhấn mạnh rằng, sự xuất hiện của mình ở đây là để chia sẻ niềm vui của mình tới khán giả. Ấn tượng cuối cùng mà de los Ángeles luôn tạo ra khi biểu diễn là sự tự nhiên tuyệt đối. Đó cũng chính là những gì mà bà muốn truyền tải đến khán giả: “Chúng tôi là những người hát một cách tự nhiên… Khi chúng tôi có một nỗi buồn, đó là nỗi buồn tuyệt vời; khi chúng tôi có một niềm hạnh phúc, đó là niềm hạnh phúc lớn lao”. Thỉnh thoảng bà cũng chia sẻ sân khấu với Elisabeth Schwarzkopf và Dietrich Fischer-Dieskau, những huyền thoại của địa hạt ca khúc thính phòng. Đó là những bậc thầy với diễn giải đầy trí tuệ còn de los Ángeles lại có cách tiếp cận bản năng hơn.

Trong những năm 1970, trọng tâm biểu diễn của bà dần dần nghiêng hẳn sang các chương trình thính phòng. Bà chính thức chia tay sân khấu opera bằng vai diễn Mélisande tại Teatro de la Zarzuela, Madrid. Năm 1987, de los Ángeles nhận bằng tiến sĩ danh dự của đại học Barcelona, được tổ chức tại chính khán phòng mà bà đã vui chơi rất nhiều khi còn nhỏ. Chính tại đây, cô bé Victoria đã tìm thấy một cây đàn piano cũ kỹ, bị hỏng hóc và bám đầy bụi. Cô đã cố gắng chơi đàn tốt nhất có thể và giữ gìn nó trong suốt thời gian xảy ra cuộc nội chiến. Đây là một sự kiện có ý nghĩa vô cùng đặc biệt đối với de los Ángeles. Bà vẫn tiếp tục hát cho đến những năm 1990 khi đã ở độ tuổi 70. Buổi biểu diễn cuối cùng của bà diễn ra vào ngày 28/12/1997 tại Teatre Nacional de Catalunya, Barcelona. De los Ángeles chỉ nghỉ hưu khi người con trai đầu Juan Enrique qua đời vào năm 1998. Ngày 31/12/2004, bà phải nhập viện tại Barcelona vì viêm phế quản nặng. Hai tuần sau, ngày 15/1/2005, cả đất nước Tây Ban Nha thức dậy trước tin buồn về sự qua đời của giọng nữ cao vĩ đại. De los Ángeles hưởng thọ 80 tuổi. Soprano Ainhoa Arteta cho biết: “Tôi đã ở bên Victoria khi bà qua đời. Điều cuối cùng bà làm là tháo mặt nạ dưỡng khí để hát Sì, mi chiamano Mimì của Puccini. Các bác sĩ không thể tin được. Đó là ca hát. Với điều này bà được sinh ra và với điều này bà qua đời”. Tang lễ được diễn ra tại Vương cung thánh đường Santa María del Mar, Barcelona vào ngày 17/1/2005. Bà được chôn cất ở nghĩa trang Montjuïc, Barcelona.

De los Ángeles là người tiên phong cho một thế hệ tài năng các ca sĩ opera Tây Ban Nha trong thế kỷ như Montserrat Caballé, Plácido Domingo, Alfredo Kraus, Pilar Lorengar, Teresa Berganza và José Carreras. Những bậc đàn em này đã dành cho bà rất nhiều sự kính trọng. Carreras nhận xét: “Những người trong chúng ta, những người theo sau bà đã học được từ sự cống hiến to lớn, âm nhạc và phẩm giá phi thường của bà” còn Domingo thì thán phục: “Một thiên thần, một giọng hát kì diệu, người có khả năng âm nhạc tuyệt vời và cũng là một con người vĩ đại. Bà đã mang cái tên Tây Ban Nha lên mọi sân khấu”. Nhận được tin de los Ángeles đã ra đi, Berganza vô cùng đau xót: “Với phong cách và giọng hát của mình, Victoria đã chạm đến cõi vĩnh hằng… Victoria đã, đang và sẽ mãi là một thiên thần”. Không chỉ những người Tây Ban Nha mà những người say mê tiếng hát của bà có mặt trên khắp thế giới. Elizabeth Forbes chia sẻ trên The Independent: “Không thể tưởng tượng được giọng hát nào đẹp thuần khiết hơn giọng hát của Victoria de los Ángeles ở đỉnh cao sự nghiệp của bà vào những năm 1950 và đầu những năm 1960”. Tạp chí BBC, trong một cuộc bình chọn những giọng soprano vĩ đại nhất trong lịch sử vào năm 2007 đã vinh danh tên của de los Ángeles ở vị trí thứ ba, xếp sau Callas và Joan Sutherland.

Cobeo