CHƯƠNG XVII – CHUYẾN ĐI ĐỨC

 

Vào Chủ nhật, ngày 1 tháng 8, Hartmann và tôi đi nghe Parsifal tại Nhà hát Wagner ở Bayreuth. Sau khi nghe kỳ phẩm vô song này, chúng tôi đến thăm thành phố thủ phủ của Haute-Franconie. Một số di tích của nó xứng đáng được chú ý. Về phần mình, tôi rất muốn xem nhà thờ thành phố (Stadkirsche), một kiến trúc Gothic từ giữa thế kỉ 15 được dành để thờ Thánh Marie-Magdeleine. Không khó hình dung kỉ niệm nào đã thu hút tôi đến công trình thực sự đáng chú ý này.

Sau khi lướt qua một vài thành phố Đức và ghé thăm các nhà hát khác nhau, Hartmann, người đã có ý tưởng, đưa tôi đến Wetzlar nơi anh đã gặp Werther. Chúng tôi đến thăm ngôi nhà nơi Goethe đã sáng tác tiểu thuyết bất hủ Nỗi đau của chàng Werther.

Tôi đã biết đến những lá thư của Werther và lưu giữ những hồi ức xúc động nhất về chúng. Tôi vô cùng ấn tượng khi thấy mình ở trong chính ngôi nhà mà Goethe đã khiến cho nổi danh bằng cách để nhân vật nam chính của mình sống và yêu ở đó.

– Tôi có một thứ để hoàn thiện cảm xúc sâu sắc và đẹp đẽ anh đang trải qua, Hartmann nói với tôi khi chúng tôi ra khỏi đó.

Và vừa nói anh vừa lấy từ trong túi ra một cuốn sách có bìa đã ngả vàng theo thời gian. Đó không phải cuốn sách nào khác mà chính là bản dịch tiếng Pháp tiểu thuyết của Goethe. “Bản dịch này thật hoàn hảo”, Hartmann khẳng định, bất chấp câu châm ngôn người dịch kẻ phản bội mang hàm ý rằng bản dịch không tránh khỏi phản bội suy nghĩ của tác giả.

Lúc tôi vừa cầm cuốn sách trên tay và háo hức xem qua cũng là lúc chúng tôi bước vào một trong những quán bia rộng có mặt khắp nơi ở Đức. Chúng tôi ngồi xuống và gọi những vại bia kếch sù như của những người ngồi cạnh. Giữa nhiều nhóm thực khách có các nhóm sinh viên, mà ta có thể nhận ra qua mũ đồng phục, đang chơi bài hay các trò chơi khác, và gần như tất cả đều ngậm một tẩu thuốc dài bằng sứ trong miệng. Ngược lại có rất ít phụ nữ.

Không cần kể thêm về những gì tôi phải chịu đựng trong bầu không khí ngột ngạt hôi hám thấm đẫm mùi bia hăng này. Nhưng tôi không thể rời mắt khỏi những lá thư cháy bỏng tràn đầy những cảm xúc đam mê mãnh liệt nhất. Quả thật, có thứ gì có thể khơi gợi hơn những câu sau đây, trong số rất nhiều câu khác khiến chúng ta nhớ về cuộc vật vã trứ danh với những xáo trộn đắng cay, đau đớn và sâu sắc sẽ ném Werther và Charlotte đang ngây ngất vào vòng tay nhau sau khi đọc những câu thơ đầy cảm động của Ossian?

“Vì sao đánh thức ta, hỡi làn gió mùa xuân? Mi vừa vuốt ve ta vừa nói: Tôi chất chứa sương trời nhưng đã tới thời khô héo; cơn bão đang tới gần sẽ làm nát lá tôi. Sẽ tới đây ngày mai người khách viễn du; ánh mắt chàng sẽ tìm ta khắp chốn, và chàng sẽ chẳng bao giờ thấy nữa…”

Và Goethe viết thêm:

“Werther bất hạnh cảm thấy trĩu nặng trước toàn bộ sức mạnh của những câu từ này; chàng sụp xuống trước mặt Charlotte, trong nỗi tuyệt vọng tột cùng.

“Trong lòng Charlotte hình như đã có linh cảm về kế hoạch khủng khiếp mà chàng đã vạch ra. Đầu óc quay cuồng, nàng siết chặt tay chàng, áp chúng lên ngực mình; nàng dịu dàng nghiêng người về phía chàng và cặp má nóng bừng của họ chạm vào nhau.”

Niềm đam mê cuồng nhiệt và ngất ngây đến thế đã khiến tôi trào nước mắt.

Cần phải đưa lên sân khấu nhạc kịch cảnh tượng cảm động và mê say này! Đó chính là Werther! Đó chính là màn ba của tôi.

Bấy giờ tôi tràn đầy sức sống và hạnh phúc. Tôi bị cuốn vào việc sáng tác, một cách hăng say quên mình, tác phẩm mà tôi phải viết và, nếu có thể, phải đưa vào đó khúc ca về những đam mê bi thương và sống động đó!

Tuy nhiên hoàn cảnh đã buộc tôi phải tạm rời xa kế hoạch sáng tác này. Carvalho đề xuất La Phœbé với tôi và sự tình cờ đã khiến tôi viết Manon.

Rồi đến lượt Le Cid choán lấy cuộc sống của tôi. Rốt cuộc, vào mùa thu năm 1885, thậm chí không đợi kết quả của vở opéra này, Hartmann và người cộng sự tuyệt vời và xuất sắc của tôi trong Hérodiade, Paul Milliet, đã đi đến thỏa thuận về dự án Werther.

Để khích lệ tôi làm việc hăng say hơn (tôi có thực sự cần điều ấy chăng?), nhà xuất bản của tôi, người đã ứng tác một kịch bản, đã thuê cho tôi, trên đường Réservoirs ở Versailles, một căn hộ tầng trệt rộng rãi trông ra những khu vườn Le Nôtre vĩ đại của chúng ta. Căn phòng tôi ở có trần cao, ván ốp từ thế kỷ 18 và được trang bị nội thất cùng thời kỳ. Chiếc bàn mà tôi sắp dùng để viết chính là chiếc bàn thuần khiết nhất của Louis XV. Mọi thứ đều được Hartmann lựa chọn từ nhà buôn đồ cổ nổi tiếng nhất.

Hartmann được trời phú cho những năng khiếu rất đặc biệt để khéo léo dự phần vào công việc; anh nói tiếng Đức rất tốt; anh hiểu Goethe, anh yêu tâm hồn Đức; vậy nên anh muốn tôi đảm nhận tác phẩm này.

Một hôm khi tôi được người ta đề xuất viết một vở opéra dựa trên Những cảnh đời Bohemia của Murger, anh đã tự mình khước từ công việc này mà không hỏi ý kiến tôi dưới bất kỳ hình thức nào.

Tuy nhiên đề tài đó rất cuốn hút tôi. Tôi hẳn sẽ vui thích khi được theo chân Henry Murger trong tác phẩm và trong cuộc đời. Ông là người nghệ sĩ theo cách của mình, người mà Théophile Gautier đã gọi rất chính xác là một thi sĩ dù ông xuất sắc ở mảng văn xuôi. Tôi cảm thấy như mình được theo chân ông vào thế giới đặc biệt mà chính ông tạo ra, và ông đã đưa chúng ta trải qua hàng nghìn diễn biến khi theo chân những nguyên mẫu thú vị nhất mà chúng ta từng gặp. Và tôi nghĩ rằng lẽ ra biết bao niềm vui cùng biết bao nước mắt, biết bao tiếng cười như nắc nẻ trong cảnh khốn khó kiên cường, như Jules Janin đã nói về ông, đã có thể quyến rũ tôi! Như một trong những bậc thầy của ông là Alfred de Musset, ông có nét duyên dáng và sự phóng khoáng, vẻ dịu dàng khôn tả, nụ cười vui vẻ, tiếng gọi của con tim, cảm xúc. Tôi phó thác vào Musette! Ông hát những giai điệu thân thương với những người đang yêu, và những giai điệu của ông làm chúng ta say mê. Như người ta nói, cây violon của ông chẳng phải là một cây Stradivarius nhưng có tâm hồn giống như tâm hồn Hofmann, và ông biết chơi đàn đến độ làm người nghe trào nước mắt.

Cá nhân tôi biết Murger rõ đến mức tôi còn tới thăm ông một ngày trước khi ông qua đời tại Viện dưỡng lão Dubois ở ngoại ô Saint-Denis. Tôi thậm chí còn tình cờ chứng kiến một cuộc trò chuyện rất cảm động mà không hề thiếu chút hài hước nào của ông. Với Murger, đó là điều không thể khác chăng?

Vậy nên tôi đã ở bên giường Murger khi người ta dẫn vào đó ông Schaune (Schaunard của Những cảnh đời Bohemia), người khi trông thấy Murger đang ăn những trái nho tuyệt vời mà ông phải trả bằng đồng louis cuối cùng của mình, đã mỉm cười mà bảo: “Anh thật ngốc khi uống rượu vang dưới dạng những viên thuốc!”

Vì quen biết không chỉ Murger mà cả Schaunard và Musette nên tôi thấy dường như không ai phù hợp hơn mình để trở thành nhà soạn nhạc của Những cảnh đời Bohemia. Nhưng tất cả những nhân vật này đều là bạn bè tôi gặp hàng ngày, và giờ đây tôi hiểu tại sao Hartmann nhận thấy vẫn chưa đến lúc viết tác phẩm đậm chất Paris này và để hát khúc ca sống động này.

…

Nhắc đến thời kỳ đã khá xa xôi này, tôi tự hào khi nhớ rằng mình quen biết Corot, ở Ville-d’Avray, cũng như Harpignies nổi tiếng của chúng ta, người dù đã chín mươi hai tuổi khi tôi viết những dòng này nhưng vẫn đang tràn đầy sức sống cùng tài năng vô biên của mình. Mới hôm qua thôi, ông còn vui vẻ leo cầu thang lên tầng nhà tôi. Ôi người bạn lớn thân thương! Người nghệ sĩ tuyệt vời mà tôi đã biết hơn nửa thế kỉ!…

…

Khi tác phẩm được hoàn thành, vào ngày 25 tháng 5 năm 1887, tôi đến gặp ông Carvalho. Tôi đã được bà Rose Caron, khi ấy ở Nhà hát Opéra, hứa sẽ trợ giúp tôi trong buổi nghe thử. Người nghệ sĩ đáng ngưỡng mộ ấy đã ở ngay cạnh tôi để lật trang bản thảo và đôi khi bộc lộ những xúc cảm nhạy bén nhất. Một mình tôi tự đọc cả bốn màn; đến điểm mở nút, tôi quỵ xuống kiệt sức… mệt nhoài!

Rồi Carvalho lặng lẽ đến gần tôi, và cuối cùng ông bảo:

– Tôi đã hi vọng anh mang đến cho tôi một Manon khác! Đề tài buồn bã này không gây hứng thú. Nó bị kết án ngay từ đầu…

Hôm nay khi hồi tưởng lại, tôi hoàn toàn hiểu ấn tượng này, nhất là khi nghĩ về những năm tháng tôi đã phải sống để đợi ngày tác phẩm được yêu thích!

Rồi Carvalho ân cần mời tôi loại vang hồng hảo hạng mà tôi cho là giống với loại vang tôi đã uống vào một buổi tối vui vẻ, buổi nghe thử của Manon… Với cổ họng khô khốc tôi bỏ đi mà không nói một lời.

Ngày hôm sau, horresco referens [Latin: nghe kể mà rợn tóc gáy], phải, ngày hôm sau, tôi lại bị một phen rụng rời, Nhà hát Opéra-Comique không còn nữa! Một trận hỏa hoạn đã thiêu rụi nó hoàn toàn trong đêm. Tôi chạy đến với Carvalho. Chúng tôi sà vào vòng tay nhau, vừa ôm nhau vừa khóc… Ông giám đốc tội nghiệp của tôi đã bị hủy hoại!… Số phận thật nghiệt ngã! Tác phẩm đã phải đợi sáu năm trong im lặng và lãng quên.

Hai năm trước, Nhà hát Opéra Vienne đã trình diễn Manon; số buổi diễn đã lên tới một trăm và thậm chí còn vượt qua thế trong một thời gian rất ngắn. Do vậy thủ đô Áo đã dành cho tôi sự đón tiếp rất thân thiện và đáng ghen tị nhất; Thậm chí, người ta còn nảy ra ý tưởng đề nghị tôi viết cho giọng ténor Van Dyck một tác phẩm.

Thế là tôi đã đề xuất chính Werther. Sự thiếu thiện chí của các giám đốc người Pháp đã khiến tôi được tùy ý sử dụng tổng phổ này.

Nhà hát Opéra ở Vienne là một nhà hát hoàng gia. Ban quản lý đã thỉnh cầu Hoàng đế cấp cho tôi một căn hộ, và căn hộ tôi được cấp miễn phí này thuộc Khách sạn Sacher hạng sang nổi tiếng, tọa lạc cạnh Nhà hát Opéra.

Người đầu tiên tôi thăm hỏi khi đến nơi là Giám đốc Jahn. Bậc thầy hòa nhã và lỗi lạc này dẫn tôi vào phòng hóa trang nơi đang tổ chức các buổi diễn tập. Đó là một căn phòng rộng mênh mông, được chiếu sáng bởi các cửa sổ lớn và được trang bị những chiếc ghế bành uy nghi. Một bức chân dung toàn thân Hoàng đế Franz Joseph tô điểm cho một trong những mảng tường; ở giữa phòng có một cây piano lớn.

Toàn bộ dàn nghệ sĩ Werther đang tụ tập quanh cây piano khi giám đốc Jahn và tôi bước vào phòng. Trông thấy chúng tôi, các nghệ sĩ liền đứng cả dậy và cúi đầu chào.

Trước biểu hiện cảm động và rất trân trọng mà Van Dyck tuyệt vời của chúng ta bổ sung bằng cái ôm trìu mến nhất này, đến lượt tôi đáp lại bằng cách cúi đầu; và với đôi chút lo lắng, run rẩy toàn thân, tôi ngồi xuống bên đàn piano.

Tác phẩm đã thành hình trọn vẹn. Tất cả các nghệ sĩ đều hát theo trí nhớ. Các biểu hiện nồng nhiệt mà họ tỏ ra với tôi những lúc giải lao khiến tôi xúc động đến mức cảm thấy nước mắt lưng tròng.

Tại buổi diễn tập với dàn nhạc, cảm xúc này lại một lần nữa trào dâng. Màn trình diễn tác phẩm đã đạt đến độ hoàn hảo hiếm có, dàn nhạc, lúc thì êm ái lúc thì mạnh mẽ, đệm theo các sắc thái giọng hát đến mức tôi không khỏi mê mẩn:

– Đó! Gottlicher Mann!… (Phải, Người được Thiên Chúa yêu thương!…)

Buổi tổng duyệt diễn ra vào ngày 15 tháng 2, từ chín giờ sáng đến trưa, và tôi thấy (một nỗi ngạc nhiên ngọt ngào khôn tả!) ngồi trên các ghế cạnh dàn nhạc là nhà xuất bản tuyệt vời và thân yêu Henri Heugel của tôi, cộng sự quý giá Paul Milliet của tôi, và một số bạn thân đến từ Paris. Họ đã đến từ rất xa để gặp tôi ở thủ đô Áo, giữa những niềm vui lớn lao và sống động của tôi, bởi ở đó tôi đã thực sự được đón nhận một cách tự hào và cao nhã nhất.

Các buổi biểu diễn tiếp theo càng khẳng định ấn tượng tuyệt vời của buổi công diễn lần đầu ngày 16 tháng 2 năm 1892. Hát các vai chính là các nghệ sĩ nổi tiếng Marie Renard và Ernest Van Dyck.

Cũng trong năm 1892, Carvalho một lần nữa trở thành giám đốc Nhà hát Opéra-Comique, khi ấy tọa lạc ở Quảng trường Châtelet. Ông hỏi tôi về Werther và bằng một giọng cảm động đến nỗi tôi đã không ngần ngại giao phó tác phẩm cho ông.

Cùng tuần lễ diễn ra cuộc hội kiến này, tôi và bà Massenet đã ăn tối tại nhà ông bà Alphonse Daudet. Cùng với chúng tôi còn có các khách mời khác là Edmond de Goncourt và nhà xuất bản Charpentier.

Khi bữa tối kết thúc, Daudet thông báo với tôi rằng anh sắp sửa cho tôi nghe một nữ nghệ sĩ trẻ mà theo lời anh là “hiện thân của âm nhạc”. Cô gái trẻ này không phải ai khác mà chính là Marie Delna! Ngay từ những ô nhịp đầu tiên cô hát (aria trong Nữ hoàng Sheba của Gounod vĩ đại của chúng ta), tôi đã quay về phía cô và nắm lấy tay cô:

– Hãy là Charlotte! Charlotte của chúng ta!, tôi hoan hỉ nói.

Một ngày sau buổi công diễn lần đầu tại Nhà hát Opéra-Comique ở Paris vào tháng 1 năm 1893, tôi nhận được bức thư này từ Gounod:

“Bạn thân mến,
“Chúng tôi chân thành chúc mừng chiến thắng kép mà chúng tôi rất tiếc vì những nhân chứng đầu tiên không phải là người Pháp này.”

Những dòng chữ vừa cảm động vừa đẹp như tranh dưới đây cũng được kiến trúc sư lừng danh của Nhà hát Opéra gửi cho tôi:

“Amico mio,
Đôi mắt để nhìn bạn.
Đôi tai để nghe bạn,
Đôi môi để hôn bạn.
Đôi cảnh tay để ôm bạn,
Đôi bàn tay để hoan hô bạn,
Và đôi lời để chúc mừng bạn
Và để nói với bạn rằng Werther của bạn được diễn rất hay, – bạn biết chăng? Tôi tự hào về bạn, còn về phần bạn, đừng đỏ mặt bởi một kiến trúc sư nghèo hoàn toàn hài lòng về bạn.
“Carlo.”

Năm 1903, sau chín năm bị gạt bỏ, ông Albert Carré đã một lần nữa phục dựng tác phẩm bị quên lãng. Với tài năng vô song, gu thẩm mỹ tuyệt vời và nghệ thuật uyên bác tinh tế của mình, ông đã biết cách giới thiệu tác phẩm này với công chúng, những người coi đây là một khám phá thực sự.

Kể từ đó nhiều nghệ sĩ nổi tiếng đã hát vai này: Cô Marié de l’Isle, Charlotte đầu tiên trong thời kỳ phục dựng và là người đã thể hiện tác phẩm bằng tài năng cá nhân tuyệt vời của mình; rồi đến cô Lamare, Cesbron, Wyns, Raveau, bà Nuovina, Vix, Hatto, Brohly và… những người khác mà tôi sẽ kể tên sau.

Trong thời kỳ phục dựng, nhờ có ông Albert Carré, Werther đã có may mắn lớn khi có Léon Beyle sắm vai nam chính; sau này, Edmond Clément và Salignac cũng là các nghệ sĩ trình diễn xuất sắc và sống động tác phẩm này.

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch