“Khi thảo luận về các ca sĩ, đầu tiên phải để Rosa Ponselle và Enrico Caruso ra bên ngoài, sau đó bạn mới có thể bắt đầu.” – Geraldine Farrar
Đứng dưới góc độ lịch sử mà nhìn nhận thì Rosa Ponselle có một vai trò vô cùng quan trọng. Bà chính là ca sĩ Mĩ đầu tiên được thừa nhận tài năng trên phạm vi toàn thế giới, cũng là ca sĩ sinh ra tại Mĩ đầu tiên không được đào tạo tại châu Âu, cái nôi của nghệ thuật opera hát vai chính tại Metropolitan Opera. Ponselle thậm chí còn chưa học opera một cách chính thức. Thành công to lớn của bà đã mở ra cánh cửa cho các ca sĩ người Mĩ khác trở thành ngôi sao mà không cần phải đến châu Âu. Dưới góc độ nghệ thuật, có lẽ chưa cần nghe bà hát mà chỉ cần đọc lời nhận xét của Maria Callas vốn nổi tiếng về sự kiêu ngạo: “Bà chính là ca sĩ xuất sắc nhất trong số chúng ta” thì chắc hẳn khán giả cũng đồng ý rằng Ponselle là một ca sĩ xuất chúng. Còn nếu như đã từng được thưởng thức giọng hát của bà thì hẳn chúng ta hiểu được rằng tại sao Tulio Serafin thừa nhận: “Trong đời tôi có ba ca sĩ kỳ diệu: Enrico Caruso, Titta Ruffo và Rosa Ponselle”.
Rosa Ponselle chào đời ngày 22/1/1897 tại Meriden, Connecticut với tên khai sinh là Rosa Melba Ponzillo. Cô là con út trong số ba người con của một gia đình người Ý nhập cư. Nhà cô có một cửa tiệm tạp hoá nhỏ. Ngay từ nhỏ Rosa đã có giọng hát bẩm sinh tuyệt đẹp và cô bé thường xuyên hát véo von trong suốt tuổi thơ của mình. Người mẹ chính là giáo viên thanh nhạc đầu tiên của cô. Rosa thường xuyên hát tại những rạp chiếu phim, quán cà phê, nhà thờ tại Meriden và nhanh chóng nổi tiếng khắp địa phương về giọng hát thiên thần của mình. Không chỉ như vậy, cô bé còn có thể chơi piano rất thành thạo và theo học Anna Ryan, nghệ sĩ organ tại nhà thờ Công giáo gần đó. Carmela, chị cả của Rosa có một chất giọng mezzo-soprano khá đẹp và thường xuyên tham gia vào các chương trình ca nhạc tạp kĩ. Cô khá nổi tiếng vì đã từng có được vai diễn trên sân khấu Broadway. Năm 1915, Carmela dẫn cô em gái đến nhà hát và giới thiệu Rosa với khán giả của mình. Bị chế nhạo vì vẻ ngoài to béo nhưng Rosa đã chinh phục công chúng bằng giọng hát tuyệt vời. Tuy nhiên chỉ có Carmela xuất hiện trên sân khấu còn Rosa thì ẩn ở phía sau cánh gà. Sau ba năm, các màn biểu diễn của chị em nhà Ponzillo (dưới cái tên “Những cô thợ may Ý”) trở thành những tiết mục “đinh” tại Keith Circuit cũng như hầu hết các nhà hát trong vùng và có được thu nhập khá ổn định. Họ thường xuyên hát những bản ballad và một số trích đoạn trong những vở opera.
Năm 1918, Carmela và Rosa yêu cầu Keith Circuit phải tăng lương vì những kết quả khả quan mà họ mang lại nhưng bị từ chối và huỷ bỏ hợp tác. Cũng trong thời gian này, Carmela theo học thanh nhạc tại New York với William Thorner, một thầy giáo và ông bầu khá nổi tiếng. Thorner cũng đã nghe Rosa hát và ngay lập tức đưa ra lời đề nghị dạy Rosa (tuy nhiên sau này, Ponselle luôn từ chối rằng mình đã từng học với Thorner, chỉ coi ông là người quản lý, học sinh của Thorner chỉ có Carmela, dù trong những lời giải thích của bà luôn tồn tại mâu thuẫn). Thorner đã mời Enrico Caruso, khi đó đang là ngôi sao sáng nhất của Metropolitan Opera đến nghe thử hai chị em hát. Caruso tỏ ra vô cùng kinh ngạc với giọng hát của Rosa. Ponselle nhớ lại: “Ông ấy ngồi xuống cạnh tôi – tôi hồi hộp như một chú mèo con – và vừa nói vừa chỉ vào cổ họng mình: “Cô có nó ở đây”. Sau đó, ông ấy chỉ vào tim mình và nói: “Và cô có nó ở đây”. Sau đó, ông ấy giơ tay lên đầu và gõ nhẹ vào thái dương bằng ngón tay: “Và liệu cô có nó ở đây hay không, chỉ thời gian mới trả lời được” Caruso quyết định giới thiệu Rosa với Giulio Gatti-Casazza, tổng giám đốc của nhà hát. Gatti-Casazza gặp Rosa, nghe cô hát vài bài, yêu cầu cô học hai aria “Pace, pace di Mio” (La forza del destino, Giuseppe Verdi) và “Casta Diva” (Norma, Vincenzo Bellini) và trở lại sau hai tuần. Do quá hồi hộp, trong lần gặp lại, Rosa gần như đã ngất xỉu khi đang hát “Casta Diva” nhưng như vậy là quá đủ đối với Gatti-Cazazza. Ông đã ký hợp đồng biểu diễn với cô trong mùa diễn 1918-1919 với mức lương được trả theo tuần thay vì vai diễn. Và cũng chính Gatti-Cazazza là người đã đề nghị cô đổi họ từ Ponzillo thành Ponselle.
Vào ngày 15/11/1918, Ponselle đã có buổi ra mắt khán giả Metropolitan Opera với vai Leonora (La forza del destino) cùng Enrico Caruso và Giuseppe de Luca. Đây cũng là lần đầu tiên La forza del destino xuất hiện trên sân khấu nhà hát. Mặc dù “các dây thần kinh hầu như bị tê liệt (điều mà Ponselle thường xuyên gặp trong suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật của mình), cô đã giành được thành công vô cùng vang dội, chinh phục hoàn toàn công chúng cũng như giới chuyên môn. Vào ngày ra mắt, sự lo lắng lại một lần nữa xâm chiếm cô và Ponselle tự nhủ rằng mình sẽ không thể vượt qua nổi màn một. Khi kết thúc màn hai, cô nghĩ: “Một phép màu đã xảy ra”. Thật vậy, Ponselle đã tiến tới và tạo nên một trong những màn ra mắt huy hoàng nhất trong lịch sử opera. Không thể tưởng tượng được cảnh một người chỉ mới trước đó còn hát ở các quán rượu, trong các chương trình giải trí mà nay đã hát vai chính tại một trong những nhà hát danh giá nhất trên thế giới. Vào thời điểm này, Thế chiến thứ nhất chỉ vừa mới kết thúc được 4 ngày, rất nhiều những ngôi sao opera vĩ đại nhất thế giới đang tụ họp tại Mĩ. Chính vì vậy, sự toả sáng của Poselle càng được đánh giá cao. Nhà phê bình James Huneker của New York Times đã viết: “Một sự ra mắt đầy hứa hẹn làm sao Bên cạnh vẻ cuốn hút cá nhân, cô ấy còn sở hữu một giọng hát đẹp tự nhiên mà có thể trở thành một mỏ vàng – thực ra, đó đã là vàng rồi, với những âm sắc trầm và trung ngọt ngào, tối, phong phú và mềm mại, cùng với sự rực rỡ ở quãng cao”. Cũng chính Huneker là người sau này đã đặt cho Ponselle một biệt danh trìu mến: “Caruso mặc váy”. Cùng với Leonora, những vai diễn khác của Ponselle trong mùa diễn đầu tiên tại Metropolitan Opera là Santuzza (Cavalleria Rusticana, Pietro Mascagni), Rezia (Oberon, Carl Maria von Weber) và Carmelita trong vở opera lần đầu tiên được công diễn trên thế giới: The Legend của Joseph Breil. Tuy nhiên, The Legend không giành được thành công và Ponselle tỏ ra vô cùng ghét vai Carmelita, sau này bà đã đốt tổng phổ tác phẩm và dè bỉu: “vở opera toát ra mùi hôi hám của một cái chuồng mèo”.
Ponselle ngay lập tức trở thành soprano chủ lực của Metropolitan Opera, đóng trong rất nhiều các vai chính tại đây. Ngày 16/11/1927, lần đầu tiên Ponselle hát trong vai diễn mang lại danh tiếng lẫy lừng và là thành tựu cao nhất trong sự nghiệp của bà: Norma. Ponselle khẳng định: “Norma là vai khó nhất trong tất cả. Đó là một thử thách lớn về kỹ thuật thanh nhạc, cảm xúc và kịch tính”. Bà đã dành hai năm để chuẩn bị cho vai diễn. Sau này nhiều năm, Poselle thuật lại: “Tôi thường nằm trên giường rất khuya vào ban đêm, có thể là đến ba hoặc bốn giờ sáng, đọc bản nhạc. Tôi sẽ tự hát cho mình nghe, nói cách khác là hát trong đầu. Đó là một thử thách lớn. Tôi vẫn thấy bồn chồn khi nghĩ về điều đó. Tôi đã có nhiều đêm mất ngủ, lo lắng về việc mình sẽ thể hiện như thế nào trong Norma”. Khi đã là một ngôi sao, Ponselle bắt đầu tham gia trong các chương trình hoà nhạc với mức thu nhập đáng ngưỡng mộ.
Bên ngoài nước Mĩ, Ponselle chỉ xuất hiện tại Covent Garden, London (trong ba mùa diễn) và ở Ý (bà từng hứa với mẹ mình rằng sẽ có một ngày hát opera tại đây). Năm 1929, Ponselle lần đầu đến châu Âu và hát tại Royal Opera House, Covent Garden. Cho đến thời điểm này, danh tiếng của bà hoàn tập tập trung tại Mĩ và có thể nói, bà còn vô danh ở châu Âu. Trong lần ra mắt tại đây, Ponselle đã hát hai vai: Norma và Gioconda (La Gioconda, Amilcare Ponchielli) và giành được những lời hoan hô vang dội của những khán giả London vốn nổi tiếng trầm tĩnh và kín đáo. Tháng 5/1933, Ponselle hát buổi duy nhất tại Ý khi bà xuất hiện trong vai Giulia (La vestale, Gaspare Spontini) tại Maggio Musicale, Florence. Và cũng như ở London, khán giả đã dành cho bà những tình cảm hết sức nồng nhiệt. Trong đêm diễn, Ponselle đã phải hát lại aria “O nume tutelar”, một điều rất hiếm thấy trong biểu diễn opera. Thành công này đã khiến Ponselle cân nhắc đến lời mời của La Scala, Milan tuy nhiên sau khi chứng kiến sự chế nhạo có phần thái quá của một khán giả Florence với tenor nổi tiếng Giacomo Lauri-Volpi khi ông bị vỡ giọng ở một nốt cao trong I Puritani (Bellini), bà đã quyết định không thử sức thêm nữa ở địa hạt opera hiển nhiên đầy khó tính tại Ý này. Ponselle nhớ lại: “Sự cố đó đã gây ra tác động khủng khiếp đối với tôi. Lần đầu tiên, tôi thấy khán giả Ý có thể làm gì với một trong những tenor được họ yêu thích nhất.” Bà nhanh chóng gửi một bức điện tín cho người đại diện của mình: “Quên Milan đi. Chỉ có ở Mỹ thôi”. Ngoài những buổi biểu diễn tại London và Florence, Ponselle không bao giờ hát ở bên ngoài nước Mĩ nữa.
Ponselle tiếp tục bổ sung các vai diễn mới vào danh mục tác phẩm biểu diễn của mình trong thập niên 30. Năm 1930 bà rất thành công khi vào vai Donna Anna (Don Giovanni, Wolfgang Amadeus Mozart) nhưng với lần xuất hiện đầu tiên trước khán giả New York trong Violetta (La Traviata, Verdi) (mà bà đã được tung hô rất nhiều khi ở London) thì Ponselle lại nhận được những lời nhận xét khá đa chiều, nhiều nhà phê bình cho rằng bà đã thể hiện một Violetta quá mạnh mẽ và kịch tính (nhà phê bình William James Henderson đã phàn nàn về những lần “hành hạ” dây thanh quản của bà). Năm 1931, lại một lần nữa Ponselle có buổi ra mắt đầy thất vọng, chìm nghỉm không hề để lại chút ấn tượng nào trong dịp công diễn lần đầu tiên một vở opera, lần này là La notte di Zoraima của Italo Montemezzi. Như một số ca sĩ cùng thời, bà cũng từng tham gia đóng phim nhưng không thành công. Năm 1935, Ponselle lần đầu tiên hát Carmen (Carmen, Georges Bizet) tại Metropolitan Opera. Dù có sự chuẩn bị rất kỹ càng nhưng bà vẫn bị giới phê bình New York chê bai không thương tiếc, đặc biệt là Olin Downes của New York Times, người mà với những bình luận gay gắt đến mức độc ác thật sự đã làm bà đau đớn. Đây là một ví dụ: “Chúng tôi chưa bao giờ nghe Ponselle hát tệ đến vậy, và chúng tôi hiếm khi thấy vai diễn được thể hiện theo cách giả tạo và nói chung là không thuyết phục đến thế”. Trong hai mùa diễn cuối cùng của Ponselle ở Metropolitan Opera, bà chỉ hát trong hai vở là Carmen và Cavalleria Rusticana nhưng tất cả đều không góp phần làm tăng thêm danh tiếng cho bà. Mối bất hoà giữa Ponselle và ban giám đốc Metropolitan Opera về kịch mục của bà đã dẫn đến việc họ không còn tiếp tục hợp đồng trong mùa diễn 1937-1938. Buổi biểu diễn opera cuối cùng của Ponselle diễn ra vào ngày 22/4/1937 với Carmen trong chuyến lưu diễn của nhà hát tại Cleveland. Khi đó bà mới 40 tuổi, đang ở đỉnh cao của sự nghiệp và giọng hát vẫn còn vô cùng quyến rũ.
Ponselle không hề có ý định chủ tâm giải nghệ sau khi rời bỏ Metropolitan Opera, nhưng có những việc cho thấy rõ rằng bà đã để cơ hội trôi qua tầm tay. Nhà hát từng mời bà quay trở lại nhưng Ponselle yêu cầu được hát vai chính trong Adriana Lecouvreur (Francesco Cilea), có âm vực rất hợp với bà, thậm chí không lấy thù lao, nhưng bị tổng giám đốc Edward Johnson khước từ vì những lần công diễn tác phẩm này trước đó không mang lại lợi nhuận khả quan. Còn nhiều nhân tố khác xảy ra khiến Ponselle vĩnh viễn chia tay sân khấu: giọng hát của bà dù vẫn còn rất tuyệt vời nhưng bắt đầu có những dấu hiệu suy yếu; sự mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần sau 19 năm biểu diễn liên tục ở đỉnh cao, một đám cưới vào năm 1936 với “đại gia” Carle Jackson, con trai của thị trưởng Baltimore vào thời điểm đó và hơn cả là chính tư tưởng muốn có một cuộc sống nhàn hạ, không phải biểu diễn mà bà đang sở hữu. Sau này Ponselle nói lại rằng không bao giờ bà nhớ sân khấu sau khi nghỉ hưu: “Tôi không muốn quay trở lại. Không ai biết tôi đã từ bỏ bao nhiêu để hát opera. Tôi đã có tất cả những điều đó – mà tôi vô cùng biết ơn. Bây giờ tôi muốn bắt kịp mọi thứ mà tôi đã bỏ lỡ”.
Bà và Jackson xây một ngôi nhà sang trọng (Villa Pace) ở Baltimore và hai người sống ở đó. Villa Pace sau này đã trở thành một địa điểm nghệ thuật, được các giọng ca vĩ đại trên thế giới tìm đến để thăm huyền thoại sống của thế giới opera. Cuộc hôn nhân không kéo dài lâu. Họ chia tay nhau vào năm 1949. Sự kiện này đã gây ra vết thương lòng rất lớn đối với Ponselle, bà đã vô cùng đau khổ. Dù rằng không bao giờ còn xuất hiện trên các sân khấu opera hay trong các chương trình hoà nhạc nhưng bà vẫn hát tại nhà riêng cho những người bạn thân của mình và họ đều nhận xét rằng giọng hát của bà vẫn còn rất tuyệt vời như ngày nào. Điều này được khẳng định khi vào năm 1954, hãng thu âm RCA Victor đến Villa Pace và ghi âm giọng hát của bà trong một số ca khúc. Nhận xét về đĩa nhạc này, Paul Hume, người bạn lâu năm của Ponselle và là nhà phê bình âm nhạc của Washington Post nhận xét: “Trong những bản thu này, sắc thái trầm đậm nhất của màu tối bao phủ giọng hát của Ponselle trong các mùa diễn cuối cùng tại Metropolitan Opera hiện lên rõ rệt. Nhưng đó là một yếu tố hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến khả năng lướt nhẹ của giọng hát, sự uyển chuyển trong các portamento (trượt nốt), những câu hát dài không hề bị hụt hơi và các yếu tố khác tạo nên một cách thể hiện mang đậm dấu ấn Ponselle”.
Từ những năm cuối thập niên 40, bà trở thành người hướng dẫn nghệ thuật cho nhà hát còn non trẻ Baltimore Civic Opera. Ponselle dạy hát cho những ca sĩ trẻ tại đây, một công việc mà bà đảm nhiệm trong hơn 30 năm. Trong số những người đã học Ponselle, có rất nhiều ca sĩ đã trở thành những tên tuổi lớn của nền opera thế giới như Beverly Sills, Sherrill Milnes, Raina Kabaivanska, Samuel Ramey hay Plácido Domingo. Letitia Bernhardt, nhà sáng lập Baltimore Civic Opera luôn nhớ về Ponselle như một người: “luôn ủng hộ và giúp đỡ những ca sĩ trẻ mà cô tin tưởng. Bà ấy có khả năng phát hiện tài năng từ những người thậm chí còn không biết mình sở hữu nó”. Ponselle truyền đạt cho học sinh không chỉ đơn thuần là kỹ thuật thanh nhạc mà còn là những bài học về kinh nghiệm sống, được đúc kết từ chính cuộc đời của cá nhân bà. Ponselle chia sẻ: “Khi tôi còn hát ở Met, tôi không nhận bất kỳ buổi biểu diễn nào vào mùa hè. Năm nào tôi cũng lên núi nghỉ ngơi để bảo dưỡng giọng hát. Tôi làm việc trí óc rất nhiều. Tôi học lại các vai diễn của mình và chuẩn bị cho những vai mới. Nhưng tôi không nhận thêm chương trình. Và trong suốt những năm tôi đi hát, tôi không tham gia bất kỳ buổi tiệc tùng xã giao nào. Hát opera đòi hỏi sự hy sinh rất lớn. Bạn phải từ bỏ nhiều thú vui. Bạn bắt đầu với một món quà tuyệt vời từ Thượng đế. Nhưng càng làm việc nhiều và càng đến gần điều mà bạn nghĩ có thể là lý tưởng, bạn càng nhận ra mình vẫn còn cách xa nó biết bao”. Năm 1972, nhận xét về lớp ca sĩ trẻ thời điểm đó, Ponselle cho biết: “Các ca sĩ trẻ bây giờ được đưa ra biểu diễn khi họ còn chưa kịp học hành gì. Họ hát ở một nơi, rồi lại vội vã chạy đi hát ở nơi khác. Điều quan trọng là họ thực sự muốn gì. Họ muốn kiếm tiền nhanh, hay họ muốn để lại điều gì đó cho hậu thế? Ngoài một giọng hát tuyệt vời – mà họ nhất định phải có, họ còn cần phải có lương tri: họ phải biết tôn trọng giọng hát của mình”.
Ponselle qua đời tại nhà riêng ở Baltimore, Maryland vào ngày 25/5/1981 vì một cơn đau tim sau thời gian dài lâm bệnh. Trước đó bà đã đột quỵ nhiều lần, bị ung thư tuỷ xương và phải ngồi xe lăn. Bà hưởng thọ 84 tuổi. Ponselle được chôn cất tại nghĩa trang Druid Ridge Cemetery, Baltimore. Paul Hume, người bạn lâu năm của Ponselle và là nhà phê bình âm nhạc đã viết trên Washington Post: “Bây giờ giữa các vì sao đã có một bông hồng”. Còn Allen Hughes thì chia sẻ trên New York Times: “Ponselle để lại một ấn tượng không thể phai mờ nhờ vào sức mạnh từ giọng hát phi thường của mình. Đó là một giọng soprano kịch tính dường như có thể liền mạch chuyển từ những nốt trầm của contralto đến một nốt đô cao rực rỡ. Bà có sự linh hoạt như coloratura, kỹ năng rung (trill) tuyệt đẹp, những đoạn forte mạnh mẽ, những nốt pianissimo tinh tế và một cảm quan về cao độ chính xác. Hơn nữa, trên sân khấu, bà rất đẹp và truyền tải cảm xúc vào những diễn giải của mình”.
Ponselle có một giọng hát đẹp và khêu gợi một cách kì lạ, nhiều màu sắc đến nỗi có người đã so sánh giọng hát của bà với một hỗn hợp gồm rượu vang đỏ (nồng cháy), nhung màu hạt dẻ (mượt mà) và màu nâu của chocolate (ngọt ngào). Hồi trẻ, âm vực của bà lên đến 3 quãng 8 (từ C1 đến c2) và đẹp trên hầu hết âm vực, chủ yếu là âm khu thấp và trung. Ponselle cũng sở hữu một kĩ thuật legato hoàn hảo, không một chút gợn. Đồng thời, Ponselle có một khả năng mezza di voce tuyệt vời cũng như có thể thể hiện mọi cung bậc của cảm xúc, từ những đoạn forte mãnh liệt đến làn hơi pianissimo mảnh như tơ nhưng vẫn vang đến mọi ngóc ngách của nhà hát. Giọng hát của Ponselle thực sự có lẽ là dramatic soprano nhưng bà vẫn có thể hát, thậm chí là rất tuyệt vời một vai vốn dành cho giọng nữ cao màu sắc như Norma. Dù rằng không phải là một coloratura soprano như Luisa Tetrazzini hay Amelita Galli-Curci nhưng khả năng linh hoạt trong giọng hát giúp bà dễ dàng điều khiển những đoạn chạy nốt đặc trưng vốn là “đặc quyền” của giọng nữ cao màu sắc. Có lẽ chính sự đa dạng này đã khiến Luciano Pavarotti tán dương bà: “Ponselle là nữ hoàng của các nữ hoàng trong mọi thể loại ca hát”.
Có lẽ chỉ có một khuyết điểm duy nhất trong giọng hát của bà. Điều này có lẽ xuất phát từ yếu tố tâm lý nhiều hơn là năng lực. Ngay từ khi còn nhỏ, Ponselle đã có một nỗi ám ảnh với các nốt c2. Trong lần đầu tiên hát Aida (Aida, Verdi) tại Metropolitan Opera vào ngày 6/3/1920, giọng bà đã bị vỡ khi hát c2 trong aria “O patria mia”. Tại một cuộc phỏng vấn vào năm 1955, bà cho biết rằng công việc đầu tiên bà làm khi nhận một vai mới là mở tổng phổ và đếm xem có bao nhiêu nốt c2 mà mình phải đảm đương. Cũng chính vì lí do này mà trong suốt sự nghiệp, Ponselle đã rất nhiều lần dịch giọng vai diễn của mình, điển hình nhất là trong Norma, bà đã thay thế tất cả các nốt c2 bằng b1. Trong những năm cuối của sự nghiệp, tuy vẫn còn khá trẻ nhưng âm vực của bà đã bắt đầu hẹp lại, âm sắc bắt đầu tối hơn và có thể nói bà đã trở thành một mezzo-soprano, giống như những gì mà Marilyn Horne hay Regina Resnik đã trải qua. Nếu như Ponselle tiếp tục hát trong những năm 1940 thì rất có khả năng bà đã thành một mezzo-soprano thực sự. Và một điều đặc biệt cuối cùng, là danh mục biểu diễn của Ponselle trải dài từ Mozart đến Mascagni, cũng như nhiều vở opera đương đại, nhưng chưa bao giờ bà hoá thân vào một vai nào của Puccini trên sân khấu.
Cobeo





