“Không ai trong ký ức sống vượt qua bà về vẻ đẹp tuyệt đối cũng như sự nhất quán của đường nét và âm điệu.” – Desmond Shawe-Taylor

Trước khi Birgit Nilsson xuất hiện, Kirsten Flagstad chắc chắn là Wagnerian soprano vĩ đại nhất của thế kỉ 20. Và khi có sự đồng hành của Nilsson, việc so sánh giữa hai người luôn được nhắc đến. Thế giới opera biết ơn họ, những ca sĩ lừng danh đến từ bán đảo Scandinavia, đã tạo ra những vai diễn để đời bằng giọng hát khoẻ khoắn, chắc nịch đầy nội lực. Nilsson dường như may mắn hơn bởi được sinh ra khi công nghệ ghi âm phát triển, giúp lưu trữ giọng hát của bà một cách hoàn hảo nhất có thể. Flagstad không được hưởng niềm vui đó nhưng vẻ đẹp trong toàn bộ âm vực, âm lượng lớn, đầy đặn và mạnh mẽ, dẻo dai và rực rỡ cũng như tính linh hoạt giúp bà có thể dễ dàng biến đổi xen kẽ những đoạn hào hùng và dịu dàng thì không gì có thể che lấp được. Hình ảnh một nữ chiến binh mặc áo giáp, tay cầm giáo, tay cầm khiên là một biểu tượng bất khả xâm phạm, là tượng đài hùng vĩ trong các vở opera của Wagner. Flagstad đã trở thành niềm tự hào của đất nước Na Uy, một biểu tượng âm nhạc vĩ đại, một đỉnh cao quyền lực mà hiếm có ca sĩ nào sánh bằng.

Michael Flagstad là một nghệ sĩ violin cừ khôi và sau này trở thành nhạc trưởng. Ông cũng thông thạo nhiều ngoại ngữ, thường xuyên dịch kịch bản các vở opera nổi bật sang tiếng Na Uy. Vợ ông, bà Maja là một nghệ sĩ piano. Đôi vợ chồng nghệ thuật này đau buồn vì đứa con trai đầu lòng của họ đã mất khi chỉ mới 14 tháng tuổi nên đã đặt rất nhiều hi vọng vào đứa con thứ hai này. Ngày 12/7/1895, cô bé Kirsten chào đời ở thị trấn nhỏ Hamar, trở thành chị cả của ba đứa em (một gái, hai trai, tất cả sau này đều theo đuổi sự nghiệp âm nhạc). Mặc dù không gắn bó với mảnh đất này nhưng Flagstad luôn coi đây là quê hương của mình. Cả gia đình đã chuyển tới Vinderen, vùng ngoại ô của Oslo. Là những người hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp, bố mẹ cô bé thường xuyên phải vắng nhà. Chính vì vậy, ngay từ khi còn nhỏ, Kirsten đã cảm thấy mình phải gánh vác công việc chăm sóc các em, đặc biệt là người em út Karen-Marie (sau này cũng là một soprano) kém 9 tuổi, vượt xa những gì mong đợi ở một cô bé ở độ tuổi đó. Chính điều này đã góp phần hình thành nên tính cách của Flagstad sau này: nghiêm khắc, bướng bỉnh, cẩn thận và có trách nhiệm. Không có gì ngạc nhiên khi những đứa con của ông bà Michael được học nhạc từ rất nhỏ. Sáu tuổi, Kirsten đã bắt đầu chơi piano và bắt đầu bộc lộ năng khiếu âm nhạc của mình. Ngay từ lúc này Kirsten đã say mê ca hát, cô bé tìm tòi và tự đệm cho mình hát các ca khúc của Franz Schubert. Sau này, Flagstad thú nhận chính những bài hát đó đã giúp bà vượt qua những khó khăn của cuộc đời.

Như một định mệnh, món quà sinh nhật lần thứ 10 của Kirsten là tổng phổ rút gọn vở opera Lohengrin của Wagner. Ngay sau đó, cô bé đã thuộc lòng vai Elsa, nữ chính của tác phẩm. Sáu năm sau, trong một bữa tiệc do gia đình tổ chức, với sự góp mặt của nhiều bạn bè, Kirsten đã hát một số trích đoạn của Elsa. Giảng viên thanh nhạc Ellen Schytte-Jacobsen có mặt trong ngày hôm đó đã đề nghị để Kirsten học hát miễn phí cùng mình với nỗi lo sợ rằng tài năng chớm nở có thể sẽ sớm lụi tàn nếu theo đuổi những dự án mạo hiểm quá tham vọng. Bản thân Kirsten không quá tin tưởng vào năng khiếu của mình nhưng “dì Ellen” đã nhìn thấy ở cô bé một tài năng chói sáng. Chính cha mẹ cô, những người hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp, hiểu được sự bấp bênh của nghề này nên dự định ban đầu của họ là cho Kirsten học để trở thành bác sĩ. Dưới sự dìu dắt của Schytte-Jacobsen, chỉ hai năm sau, ngày 12/12/1913, Kirsten đã có vai diễn đầu tiên trong sự nghiệp với Nuri (Tiefland, Eugen d’Albert) tại Nhà hát quốc gia Oslo dưới sự chứng kiến của vua và hoàng hậu Na Uy. Sau đó, cô đã có thêm một số vai nữa, cả chính và phụ nhưng Kirsten hiểu rằng còn một chặng đường dài đầy khó khăn phía trước nếu muốn trở thành một ca sĩ opera chuyên nghiệp. Cô chuyển tới Stockholm để theo học với Gillis Bratt, một giảng viên thanh nhạc nổi tiếng. Chính Bratt là người đã giải phóng những tiềm năng to lớn của Flagstad. Sau khi hoàn thành khoá học, cô theo đuổi sự nghiệp của một ca sĩ opera tại Oslo.

Mùa xuân năm 1918, Flagstad có buổi hoà nhạc ra mắt thành công tại Đại học Aula, Oslo. Mùa thu cùng năm, Flagstad tập luyện với Bratt để chuẩn bị cho vở opera đầu tiên của mình tại Stockholm. Tuy nhiên, một sự kiện diễn ra khiến kế hoạch bị đảo lộn. Khi trở về nhà để nghỉ lễ Giáng sinh, Flagstad đã gặp Sigurd Hall và hai người kết hôn vào nửa năm sau đó. Ngày 17/5/1920, Flagstad sinh hạ đứa con duy nhất, Else. Bản thân Flagstad cho biết lúc đó mình không hề có tham vọng lớn lao nào. Việc mang thai khiến bà phải tạm dừng việc gia nhập Opera Comique, nhà hát mới được thành lập tại Oslo, nơi mà một vài thành viên khác trong gia đình bà đang làm việc. Alexander Varnay, cha của soprano Astrid Varnay, một trong những nhà quản lý của Opera Comique đã thốt lên: “Kristen có thể làm được tất cả!” sau khi nhận thấy những phẩm chất đặc biệt của bà: cao độ hoàn hảo, giọng hát mãnh liệt, trí nhớ tuyệt vời và không bao giờ cảm thấy căng thẳng khi xuất hiện trên sân khấu. Flagstad luôn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Varnay: “Sự hợp tác của tôi với Alexander Varnay thực sự quan trọng trong việc hình thành tính cách của tôi. Tôi đã được hưởng lợi từ những điều mà ông ấy đã dạy tôi trong suốt sự nghiệp ca sĩ của mình”. Thậm chí Flagstad đã từng nghĩ sự nghiệp ca hát của bà đã chấm dứt khi phải chăm sóc cho gia đình. Tuy nhiên, tình hình tài chính không ổn định bắt buộc bà phải làm việc trở lại chỉ vài tháng sau khi sinh nở. Đó là quãng thời gian mệt mỏi của Flagstad khi bà phải hát tại Opera Comique và nhiều địa điểm khác, trong các vở opera, operetta cũng như recital. Một trong những ưu điểm của Flagstad được thể hiện rõ rệt trong giai đoạn này là khả năng học vai mới vô cùng nhanh chóng, thậm chí chỉ mất vài ngày. Sau khi làm mẹ, giọng hát của Flagstad trở nên to lớn và phát triển hơn nữa, đến mức tài năng trời phú của bà đòi hỏi những thách thức và cơ hội lớn hơn những gì mà Oslo có thể đáp ứng, điều mà các đồng nghiệp của bà có thể hiểu rõ hơn chính Flagstad.

Với một số lời giới thiệu, năm 1928, Flagstad có cơ hội thử giọng ở Stora Teatern, Gothenburg. Bà đã được nhận và một giai đoạn quan trọng trong sự nghiệp của Flagstad đã mở ra. Bà ra mắt tại đây với vai diễn Agathe (Der Freischütz, Carl Maria von Weber). Khi vở opera Saul og David của Carl Nielsen được dàn dựng vào năm 1930, Flagstad đã toả sáng với vai Michal, được chính Nielsen nhận xét là “thiên tài”, một từ ngữ kể từ thời điểm đó trở đi sẽ trở nên gắn bó không thể xóa nhòa với nghệ thuật của bà. Ngày 31/5/1930, Flagstad kết hôn lần hai với doanh nhân Henry Johansen, người ủng hộ bà vô điều kiện trong hoạt động ca hát. Khoảng giai đoạn này, Flagstad dần chuyển sang hát những vai soprano kịch tính hơn như Tosca (Tosca, Giacomo Puccini) hay Aida (Aida, Giuseppe Verdi). Tuy nhiên, một điều chắc chắn rằng tên tuổi của Flagstad luôn gắn liền với những opera của Wagner. Và để có được điều này, những người hâm mộ không thể không cảm ơn Ellen Gulbranson, soprano người Thuỵ Điển. Ngày 29/6/1932, Flagstad hát Isolde (Tristan und Isolde, Wagner) tại Nhà hát quốc gia Oslo. Gulbranson có mặt trong đêm diễn, choáng ngợp trước tài năng của Flagstad, đã giới thiệu bà tới Winifred Wagner, con dâu của nhà soạn nhạc, giám đốc của liên hoan âm nhạc Bayreuth. Trong mùa diễn 1933, Flagstad đã được nhận các vai diễn nhỏ Ortlinde (Die Walküre) và Norn thứ ba (Götterdämmerung). Mùa diễn năm sau, bà đã có được những vai diễn lớn hơn như Sieglinde (Die Walküre) và Gutrune (Götterdämmerung). Đây chính là thời điểm quyết định trong sự phát triển nghệ thuật của Flagstad.

Các chuyên gia của Metropolitan Opera, nhạc trưởng Artur Bodanzky và tổng giám đốc Giulio Gatti-Casazza đã tới Thuỵ Sĩ để nghe Flagstad thử giọng và ngay sau đó một hợp đồng đã được kí kết. Ngày 2/2/1935, lần đầu tiên Flagstad ra mắt tại đây trong Sieglinde. Đó là một cơn chấn động. Hầu như không một ai biết đến bà trước đó. Lawrence Gilman đã nhận xét trên New York Herald Tribune: “Giọng hát vừa đáng yêu vừa mạnh mẽ, trong âm vực thấp hơn, nó ấm áp, phong phú, biểu cảm đầy xúc động… Giọng hát mạnh mẽ và chân thật, không hề có chút căng cứng nào”. Chương trình được phát sóng trên khắp nước Mĩ và Canada. Soprano kì cựu Geraldine Farrar thông báo rằng một ngôi sao mới đã được sinh ra còn Gatti-Casazza thì thoả mãn: “Tôi đã tặng cho nước Mĩ hai món quà tuyệt vời – Caruso và Flagstad”. Kể từ thời điểm đó trở đi, bà hầu như dành toàn tâm toàn ý cho các vở opera vĩ đại của Wagner. Chỉ trong vài tháng ngắn ngủi còn lại của mùa diễn năm đó, Flagstad đã kịp tham gia thêm 17 buổi biểu diễn trong sáu vở opera khác của Wagner, dần dần khẳng định vị thế vô song trong địa hạt này. Bà trở thành con cưng của khán giả và những nhà phê bình nơi đây, tạo nên một bầu không khí tích cực trong bối cảnh nền kinh tế Mĩ gặp phải khủng hoảng nghiêm trọng nhất trong lịch sử, góp phần cứu nhà hát khỏi bị đóng cửa. Mùa hè năm 1935, Flagstad trở về Na Uy trong hạnh phúc.

Năm năm tiếp theo là quãng thời gian thành công nhất trong sự nghiệp của Flagstad. Bà liên tục xuất hiện tại các nhà hát danh giá nhất tại châu Âu và Mĩ, xen kẽ là các chuyến lưu diễn dài ngày tại những nơi xa xôi như Nam Mĩ, Úc, cộng tác với nhiều nhạc trưởng hàng đầu như Thomas Beecham, Fritz Reiner và Wilhelm Furtwängler. Bà gạt bỏ đi kịch mục trước đây trong những vở opera, operetta mà chỉ tập trung vào các tác phẩm của Wagner, với một vài ngoại lệ ít ỏi như Fidelio (Ludwig van Beethoven), Alceste (Christoph Willibald Gluck) và Oberon (Weber). Năm 1937, khi Flagstad vào vai chính Brünnhilde (Die Walküre) bên cạnh Lotte Lehmann (Sieglinde), họ đã được vinh danh là những Wagnerian vĩ đại nhất. Còn với Lauritz Melchior, Flagstad đã tạo nên một trong những cặp đôi ăn ý nhất mọi thời đại. Cùng nhau họ đã hát trong Tristan und Isolde 48 lần, chỉ tính riêng tại Metropolitan Opera. Trong bối cảnh châu Âu bị hạn chế biểu diễn vì Thế chiến thứ hai, Metropolitan Opera trở thành nơi quy tụ nhiều ngôi sao opera nhất. Có một dải ngân hà các danh ca hát Wagner tập trung tại đây, nhưng chói sáng nhất vẫn là Melchior và Flagstad. Flagstad không phải là một diễn viên giỏi. Bà hầu như bất động trên sân khấu, chỉ đơn giản là cất tiếng hát. Nhưng như thế là quá đủ. Sở hữu một chất giọng trong sáng, khoẻ mạnh và bền bỉ, có màu sắc vàng óng, Flagstad có ngữ điệu hoàn hảo và khả năng nắm bắt nhịp điệu rất tốt, điều không hề dễ dàng đối với một ca sĩ. Bà có thể làm mọi thứ với giọng hát của mình. Flagstad có vóc dáng cân đối và làn da trắng trẻo, trông giống hệt một nữ thần Bắc Âu như nhiều vai diễn mà bà từng hoá thân.

Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, năm 1941, Flagstad lựa chọn trở về Na Uy, sống với người chồng của mình. Bà vẫn biểu diễn tại quê nhà, Thụy Điển và Thụy Sĩ, những quốc gia trung lập hoặc ít bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chiến tranh. Tuy nhiên, khi cuộc chiến tranh kết thúc, Johansen bị bắt với những cáo buộc kinh doanh với nước Đức và qua đời trong tù trước khi được đem ra xét xử. Mặc dù không liên quan nhưng Flagstad đã bị phản đối trong một khoảng thời gian dài. Bà bị cáo buộc nhiều lần biểu diễn cho Hitler, bởi Wagner là nhà soạn nhạc yêu thích nhất của Hitler và Flasgtad là ca sĩ hát Wagner vĩ đại nhất. Một cơn bão từ phía dư luận bùng lên khiến bà không được biểu diễn, cuộc sống riêng tư cũng bị ảnh hưởng đáng kể. Sau nhiều năm bị trừng phạt và chịu nhiều tổn thương, Flagstad cuối cùng cũng được chính thức được xóa bỏ mọi hành vi sai trái. Có hộ chiếu mới, bà lại tiếp tục bước ra thế giới để bắt đầu quá trình gian nan nhằm xây dựng lại danh tiếng và sự nghiệp của mình. Từng chút một, các lời phản đối và buộc tội tan biến đi, bị những lời khen ngợi và vỗ tay của những người say mê giọng hát bà nhấn chìm. Bà tham gia trong các chương trình hoà nhạc tại London và New York, trong đó, buổi biểu diễn tại Carnegie Hall vào ngày 20/4/1947 đã bị rất nhiều người biểu tình phản đối. Flagstad quay trở lại sân khấu opera với Isolde vào ngày 19/2/1948 tại Covent Garden. Bà tiếp tục cộng tác với nhà hát này suốt bốn mùa diễn sau đó trong các tác phẩm của Wagner với ngoại lệ duy nhất là Fidelio. Trước khi qua đời, Richard Strauss, người có cùng cảnh ngộ bị hiểu lầm là cộng tác với Đức quốc xã như Flagstad, đã đề nghị bà là người đầu tiên biểu diễn Bốn bài hát cuối cùng của ông, cùng “một nhạc trưởng và dàn nhạc hạng nhất”. Flagstad đã chọn Furtwängler và Philharmonia Orchestra. Vào ngày 22/5/1950, họ đã cùng nhau biểu diễn Bốn bài hát cuối cùng tại Royal Albert Hall, London. Lúc này, Flagstad đã gần 55 tuổi, giọng hát của bà đã tối, nặng nề và kém linh hoạt hơn trước. Tác phẩm dường như đã chạm tới giới hạn của bà. Khi hát ca khúc Frühling, Flagstad đã không thể lên được nốt nhạc cao nhất mà tác phẩm yêu cầu. Mặc dù vậy, chúng vẫn nhận được những đánh giá tích cực, vẻ đẹp, sự khoẻ khoắn và những đường nét quyến rũ vẫn còn đó.

Tổng giám đốc mới của Metropolitan Opera Rudolf Bing vẫn quyết định mời Flagstad cộng tác cùng nhà hát bất chấp sự phản đối dữ dội từ phía dư luận: “Soprano vĩ đại nhất của thế kỉ này phải hát trong nhà hát opera vĩ đại nhất thế giới”. Ngày 22/1/1951, vẫn với Isolde bà đã hát tại đây bên cạnh Ramon Vinay. Bất chấp sự thành công, Flagstad đã nhận thấy gánh nặng của tuổi tác. Bà đã tăng cân nhiều, sức khoẻ giảm sút, khó lòng đảm đương được những vai diễn dài, đòi hỏi một nền tảng thể lực sung mãn. Vào giữa năm 1951, Flagstad bị viêm khớp hông, phải đi điều trị khiến bà gặp nhiều khó khăn khi biểu diễn. Flagstad đã quyết định đó là năm cuối cùng bà biểu diễn âm nhạc của Wagner trên sân khấu. Flagstad chia tay Metropolitan Opera sau đêm diễn vào ngày 1/4/1952 với vai Alceste. Tổng cộng, bà đã có 193 lần xuất hiện tại đây. Bà giảm dần các buổi biểu diễn opera, tham gia nhiều hơn trong các chương trình hoà nhạc, tích cực giới thiệu âm nhạc của những nhà soạn nhạc đồng hương, đặc biệt là Edvard Grieg. Flagstad chính thức giã từ sân khấu opera bằng vai diễn Dido (Dido and Aeneas, Henry Purcell) tại Oslo vào ngày 5/6/1953. Flagstad tiếp tục thu âm, trở thành một trong những ca sĩ có nhiều đĩa nhạc nhất thế hệ mình, đáng chú ý có vở Tristan und Isolde bên cạnh Ludwig Suthaus và Fricka (Das Rheingold, Wagner) trong bộ Der Ring des Nibelungen hoàn chỉnh đầu tiên, được Georg Solti chỉ huy.

Từ khoảng năm 1952, sức khoẻ của Flagstad suy giảm một cách nhanh chóng. Thời gian nằm viện của Flagstad ngày một kéo dài khiến bà nói đùa rằng bệnh viện Oslo là ngôi nhà của mình. Bất chấp điều đó, năm 1958, bà trở thành giám đốc đầu tiên của Norwegian National Opera and Ballet mới được thành lập, đánh dấu một kết thúc phù hợp cho sự nghiệp độc đáo và đáng kinh ngạc, đầy ắp sự kiện và kịch tính như những vai diễn bà đóng trên sân khấu. Bà giữ cương vị này cho đến năm 1960 và từ chức sau khi bị chẩn đoán mắc ung thư tuỷ xương. Sau một thời gian dài chống chọi với bệnh tật, Flagstad đã qua đời ở tuổi 67 vào ngày 7/12/1962. Trong những năm tháng nỗ lực cuối cùng của cuộc đời mình, Kirsten Flagstad nói rằng về phần mình, danh tiếng và danh dự là những khái niệm trống rỗng và phù du và rằng bà khao khát được ẩn danh và sống một cuộc sống bình thường. Theo nguyện vọng, chiếc bình đựng tro cốt của bà được an táng trong một ngôi mộ vô danh không có bia.

Mặc dù đó là ước mong của Flagstad nhưng Na Uy thì không thể quên những đóng góp to lớn của bà cho nền nghệ thuật nước nhà. Na Uy không phải đất nước có truyền thống opera. Sự xuất hiện của bà đã làm thay đổi điều đó. Ngôi nhà của gia đình bà tại Hamar nay trở thành bảo tàng Kirsten Flagstad, chứa đựng rất nhiều những kỉ vật của bà. Hình ảnh bà được in trên đồng tiền 100 kroner cũng như hai chiếc máy bay của Norwegian Air Shuttle. Quảng trường phía trước Nhà hát Opera Oslo được mang tên Flagstad với một bức tượng bà phía trước. Với những người dân Na Uy và giới mộ điệu opera, giọng hát của Flagstad sẽ mãi mãi bất tử.

Cobeo