CHƯƠNG X – NIỀM VUI VÀ NỖI ĐAU

 

Phiên tập Marie-Magdeleine đầu tiên diễn ra vào một buổi sáng, lúc chín giờ, trong khán phòng nhỏ của nhà Érard, phố du Mail, nơi trước đây được dùng cho các buổi biểu diễn tứ tấu. Dù giờ hẹn có sớm đến đâu thì bà Viardot tốt bụng vẫn đến trước đó bởi bà nóng lòng được nghe những nốt nhạc đầu tiên của tác phẩm. Các nghệ sĩ khác cũng đến ngay sau đó.

Édouard Colonne chỉ huy các buổi diễn tập của dàn nhạc.

Bà Viardot rất quan tâm dến buổi diễn tập. Bà theo dõi nó như một nghệ sĩ tinh thông sáng tác. Là ca sĩ và diễn viên xuất sắc ở mảng bi kịch trữ tình, bà còn hơn cả một nghệ sĩ, một nhạc sĩ lớn, một phụ nữ tư chất tuyệt vời và hoàn toàn vượt trội.

Vào ngày 11 tháng 4, Nhà hát Odéon đón tiếp những khán giả thường có mặt trong các buổi tổng duyệt và công diễn lần đầu. Nhà hát mở cửa cho toàn bộ Paris như mọi khi, nghĩa là khoảng một trăm con người coi việc có mặt trong “buổi công diễn lần đầu” hay “buổi tổng duyệt” là đặc quyền đáng ao ước nhất.

Báo giới cũng có mặt như thường lệ.

Về phần tôi, tôi ẩn náu ở hậu trường cũng các nghệ sĩ biểu diễn rất hứng khởi của mình. Theo cảm nghĩ của họ, dường như họ sắp sửa đưa ra cho tôi lời tuyên án tối hậu, rằng họ sắp sửa biểu quyết định đoạt vận mệnh đời tôi!

Tôi chẳng biết khán giả có ấn tượng thế nào. Vì ngày hôm sau phải cùng vợ mình đi Ý nên tôi không lập tức nắm được tình hình.

Tiếng vọng đầu tiên từ Marie Magdeleine chỉ đến với tôi ở Naples dưới hình thức cảm động là một lá thư gửi cho tôi từ thầy Ambroise Thomas luôn ân cần hết mực.

Người thầy luôn quan tâm một cách tế nhị đến mọi thứ đánh dấu những bước đi của tôi trong sự nghiệp nghệ thuật, đã viết cho tôi như sau:

“Paris, ngày 12 tháng 4 năm 1873.
“Bởi hôm nay tôi phải về quê nên có lẽ tôi sẽ tiếc nuối nếu không gặp được anh trước khi anh khởi hành. Khi còn chưa chắc chắn, tôi không muốn trì hoãn việc nói với anh, bạn thân mến ạ, rằng tối qua tôi đã hài lòng biết bao, và tôi đã mừng vui biết bao trước thành công rực rỡ của anh…
“Đây là một tác phẩm nghiêm túc, vừa cao quý vừa cảm động; nó thuộc về thời chúng ta, nhưng anh đã chứng minh rằng chúng ta có thể đi trên con đường tiến bộ mà vẫn rõ ràng, giản dị và chừng mực.
“Anh biết cách gây xúc động vì anh đã xúc động.
“Tôi đã xúc động như tất cả mọi người và hơn tất cả mọi người.
“Anh đã thể hiện một cách vui vẻ cái thi vị đáng yêu của vở thanh xướng kịch tuyệt vời này!
“Ở một đề tài thần bí mà người ta có nguy cơ rơi vào tình trạng lạm dụng tông màu tối và sự nghiêm ngặt của phong cách, anh đã thể hiện mình là người có tài pha màu trong khi vẫn giữ được sự quyến rũ và tươi sáng…
“Toại nguyện nhé, tác phẩm của anh sẽ được phục dựng và trường tồn.
“Tạm biệt; tôi ôm anh bằng cả trái tim mình.
“Tôi xin gửi lời chúc mừng trìu mến tới phu nhân Massenet.
“Ambrose Thomas.”

Tôi đã đọc đi đọc lại lá thư thân thiết này. Nó không thể bị loại khỏi hồi ức của tôi bởi sự an ủi mà nó mang đến cho tôi thật ngọt ngào và quý giá.

Khi đang chìm đắm trong những giấc mơ tuyệt vời này lúc chuẩn bị lên tàu đi Capri, tôi thấy một người phục vụ ở khách sạn mình đã trọ vừa thở hổn hển vừa chạy về phía mình với một tập thư trên tay. Đó là những lá thư từ bạn bè ở Paris, những người vui mừng trước thành công của tôi và muốn bày tỏ niềm vui với tôi. Kèm theo là một tờ Tranh luận do Ernest Reyer gửi mà trên đó, dưới chữ ký của ông, là một bài viết dành cho tác phẩm của tôi lời ngợi khen sáng giá nhất, một trong những bài viết cảm động nhất mà tôi từng nhận được.

Vậy là tôi đã trở lại thăm xứ sở có vẻ đẹp đắm say này; tôi đã đến thăm Naples và Capri, rồi Sorrento, tất cả những nơi chốn đẹp như tranh với phong cảnh lôi cuốn tỏa ngát hương cam, và tất cả những điều này xảy ra vào ngày hôm sau một buổi tối khó quên. Tôi đã sống trong niềm hân hoan khó tả nhất.

Một tuần sau chúng tôi đã ở Rome.

Chúng tôi vừa mới đến Khách sạn Minerve thì nhận được lời mời ăn trưa rất nhã nhặn từ giám đốc Viện Pháp, thành viên Học viện, họa sĩ lừng danh Ernest Hébert.

Nhân dịp này ông đã tập hợp một số nghệ sĩ lưu trú. Từ cửa sổ để mở của phòng giám đốc, nơi trưng bày những tấm thảm tráng lệ của De Troy miêu tả câu chuyện Esther, chúng tôi có thể hít thở không khí ấm áp ban ngày vô cùng tuyệt diệu.

Sau bữa trưa, Hébert yêu cầu tôi cho ông nghe một số đoạn trích từ Marie Magdeleine. Tin vui đã đến với ông từ Paris.

Ngày hôm sau, các nghệ sĩ lưu trú ở Biệt thự đến lượt mời tôi. Tôi vô cùng xúc động khi thấy mình ở trong căn phòng ăn có trần hình vòm, nơi chân dung mình được treo cạnh chân dung những người từng đoạt Giải thưởng Lớn; sau bữa trưa, trong một xưởng điêu khắc trông ra vườn, tôi đã có thể chiêm ngưỡng bức Gloria Victis, kiệt tác lộng lẫy với sứ mệnh khiến tên tuổi Mercié bất tử.

Nhân nói đến Marie Magdeleine, các con thân yêu ơi, cha phải thú nhận với các con rằng đúng như cha đã có linh cảm, tác phẩm này cuối cùng sẽ được vinh danh trên sân khấu nhà hát. Tuy nhiên cha đã phải đợi ba mươi năm mới có được sự thỏa mãn vô cùng ngọt ngào này. Nó chứng thực quan điểm của cha khi viết vở oratorio đó.

Chính ông Saugey, vị giám đốc tài khéo của Nhà hát Opéra Nice, là người đầu tiên có sự táo bạo này. Ông chỉ có thể tự chúc mừng mình về điều đó, còn về phần tôi, tôi mang ơn ông rất nhiều.

Người sắm vai Marie-Magdeleine đầu tiên của chúng ta trên sân khấu nhà hát là Lina Pacary. Giọng hát, sắc đẹp và tài năng của người nghệ sĩ bẩm sinh này hoàn toàn phù hợp với vai diễn và sau này, khi cũng nhà hát lớn đó dàn dựng vở Ariane, người vào vai lý tưởng lại là Lina Pacary. Những thành công liên tục khiến cuộc đời sân khấu của cô thực sự đáng ngưỡng mộ.

Vào năm tiếp theo, giám đốc Albert Carré và cũng là bạn thân của tôi đã cho dàn dựng tác phẩm tại Nhà hát Opéra-Comique. Tôi may mắn có được các nghệ sĩ biểu diễn: cô Marguerite Carré, cô Aïno Ackté và Salignac.

Vậy là tôi hồi tưởng lại những kỉ niệm thân thương về Marie-Magdeleine ngay tại Rome. Đây đương nhiên trở thành đề tài trò chuyện trong những cuộc dạo bộ lý tưởng mà tôi đi cùng Hébert ở vùng quê Rome.

Hébert không chỉ là một họa sĩ lớn mà còn là một thi sĩ và nhạc sĩ xuất sắc. Với năng lực âm nhạc của mình, ông tham gia một nhóm tứ tấu vẫn thường hòa đàn tại Viện Pháp.

Ingres, cựu giám đốc Viện Pháp, cũng chơi violin. Một hôm Delacroix được hỏi rằng ông nghĩ gì về lối chơi dàn của Ingres. Câu trả lời tếu táo của nhà pha màu tài ba là: “Ông ấy chơi như Raphaël.”

Cho dù kỳ nghỉ tại Rome của chúng tôi có thú vị đến mấy thì than ôi, chúng tôi vẫn phải rời thành phố rất thân thương với ký ức của chúng tôi và trở về Paris.

Vừa trở lại số 46 phố Général-Foy, ngôi nhà tôi đã sống hơn ba mươi năm, tôi lao vào đọc libretto Các hiệp sĩ dòng Đền [Les Templiers] của Jules Adenis.

Tôi đã soạn nhạc được hơn hai màn nhưng vẫn cảm thấy lo lắng. Tác phẩm cực thú vị, nhưng qua các tình huống lịch sử trong đó, nó đưa tôi vào lối mòn mà Meyerbeer từng đi.

Đây hẳn cũng là ý kiến của Hartmann; nhà xuất bản của tôi thậm chí còn thẳng thắn về vấn đề này đến mức tôi xé tan hai trăm trang nhạc vừa đưa cho anh.

Trong nỗi bối rối khôn tả khi chẳng biết sẽ đi đâu, tôi nảy ra ý tưởng đến gặp người đã cộng tác với mình trong Marie-Magdeleine, Louis Gallet, khi ấy là quản lý nhà tế bần Beaujon.

Tôi kết thúc cuộc trò chuyện này bằng bản kế hoạch Vua Lahore [Le roi de Lahore]. Từ giàn thiêu của đại huynh trưởng cuối cùng của các hiệp sĩ dòng Đền, Jacques de Molay, mà mình đã từ bỏ, tôi thấy mình đang ở thiên đường của thần Indra. Với tôi đó là tầng trời thứ bảy!

Nhạc trưởng danh tiếng Charles Lamoureux vừa thành lập Các buổi hòa nhạc tôn giáo [Concerts de l’Harmonie Sacrée] tại khán phòng Rạp xiếc Champs-Élysées mà ngày nay đã biến mất. (Thú vui mới thâm hiểm làm sao khi biến một nhà hát tuyệt vời thành chi nhánh ngân hàng và biến một khán phòng tuyệt vời dành cho những buổi hòa nhạc lớn thành một bãi cỏ trên đại lộ Champs-Élysées!)

Ai cũng biết rằng các vở oratorio của Handel đã làm nên thành công và danh tiếng của những buổi hòa nhạc này.

Vào một một buổi sáng tháng giêng đầy tuyết, Hartmann giới thiệu tôi với Lamoureux, người sống trong một ngôi nhà gỗ lớn trong khuôn viên cư xá Frochot. Tôi mang theo bản thảo vở oratorio ba màn Ève.

Việc nghe thử tác phẩm diễn ra trước bữa trưa. Tới lúc uống cà phê, chúng tôi đã đạt được thỏa thuận.

Tác phẩm sẽ được diễn tập với sự tham gia của các nghệ sĩ biểu diễn nổi tiếng: bà Brunet-Lafleur, các ông Lassalle và Prunet.

Các buổi hòa nhạc tôn giáo lên chương trình ngày 18 tháng 3 năm 1875 cho vở Ève như đã thỏa thuận.

Dù buổi tổng duyệt tuyệt vời diễn ra trong khán phòng trống hoàn toàn – đây chính là lý do tại sao tôi có mặt ở đó, bởi khi ấy tôi đã bắt đầu trốn tránh thứ cảm xúc tại các buổi công diễn – với nỗi lo âu thầm kín khiến lòng dạ bồn chồn, tôi đến một quán cà phê nhỏ lân cận để đợi tin tức từ anh bạn cũ Taffanel, nghệ sĩ flûte thứ nhất khi ấy tại Nhà hát Opéra và tại Các buổi hòa nhạc tôn giáo. – Ôi Taffanel, người bạn đã khuất mà tôi yêu quý ơi, tình cảm và tài năng của anh quý giá biết bao với tôi, khi anh làm nhạc trưởng chỉ huy các tác phẩm của tôi tại Nhà hát Opéra!

Sau mỗi màn, Taffanel lại chạy qua đường để cho tôi hay những tin tức khiến vững lòng. Sau màn ba, vẫn rất khích lệ, anh vội bảo tôi rằng mọi chuyện đã kết thúc, khán giả đã rời đi và anh yêu cầu tôi đến ngay lập tức để cảm ơn Lamoureux.

Tôi đã tin anh; nhưng, ôi sự lừa dối! Vừa đến phòng nghỉ của các nghệ sĩ tôi liền bị nâng lên như một chiếc lông vũ trên những cánh tay đồng nghiệp mà tôi ra sức cào cấu vì đã hiểu ra sự phản bội. Họ đặt tôi lên sân khấu đối diện với đám khán giả vẫn còn ở đó mà vẫy mũ và khăn tay.

Tôi đứng bật dậy, chạy vọt đi như một viên đạn và biến mất trong giận dữ!

Các con thân yêu ơi, cha vẽ lại cho các con bức tranh, chắc chắn là phóng đại, về thành công này bởi những phút tiếp theo đó với cha thật khủng khiếp và thể hiện rất rõ sự hư ảo của mọi thứ trên thế gian này qua sự tương phản của chúng.

Một chị giúp việc đã đi tìm tôi suốt buổi tối khi không biết tôi ở chỗ nào của Paris và vừa phát hiện ra tôi ở cửa phòng hòa nhạc. Lúc ấy đã gần nửa đêm. Chị nói với tôi trong nước mắt rằng hãy về thăm bà mẹ đang ốm nặng của tôi.

Người mẹ yêu thương của tôi khi ấy đang sống ở phố Notre-Dame-de-Lorette. Tôi đã gửi vé cho mẹ và chị gái mình. Tôi cứ chắc mẩm là cả hai đều tham dự buổi hòa nhạc.

Tôi cùng chị giúp việc nhảy lên một cỗ xe thuê và khi tôi tới được chiếu nghỉ cầu thang, chị gái tôi vừa dang rộng cánh tay vừa nghẹn ngào kêu lên: “Mẹ mất lúc mười giờ tối!”

Lời nào có thể diễn tả nỗi đau sâu sắc của tôi khi nghe thông báo về nỗi bất hạnh khủng khiếp vừa ập đến? Thời vận của tôi chợt trở nên u ám vào lúc tưởng chừng như một thượng đế nhân từ đang muốn xua tan mây mù!

Theo di nguyện cuối cùng của mẹ tôi, việc tẩm liệm diễn ra vào ngày hôm sau. Khi đang phủ phục tại đó, tôi và chị gái tôi bỗng sửng sốt trước sự xuất hiện của Hartmann tốt bụng. Tôi vội kéo anh khỏi cảnh tượng đau lòng. Anh vừa nhanh chóng lui ra vừa thốt lên: “Anh đã phải mang thập giá!”.

Người mẹ tội nghiệp của tôi hẳn đã tự hào biết bao!…

“Ngày 21 tháng 3 năm 75.
“Bạn thân mến,
“Nếu tôi chẳng làm mất tấm danh thiếp của anh (và do đó mất luôn địa chỉ nhà anh) mà tôi đã tìm kiếm suốt mười lăm phút trong núi tài liệu của mình, thì tôi đã kể cho anh hay, từ ngày hôm kia, về niềm vui sống động và cảm xúc sâu sắc của tôi khi được nghe và chứng kiến thành công của Ève của anh. Thắng lợi của một người được ân sủng hẳn phải là một lễ hội của nhà thờ. Anh là người được ân sủng, bạn thân mến ạ: thượng đế đã đánh dấu anh là một trong những đứa con của người: tôi cảm nhận được điều này trong tất cả những gì tác phẩm đẹp đẽ của anh đã khuấy động nơi trái tim tôi! Nhưng hãy chuẩn bị sắm vai người tuẫn đạo; cái vai trò mà tất cả những người vượt trội phải đóng và khiến những kẻ kém miếng khó chịu.
Hãy nhớ rằng khi Đức Chúa Trời phán: “Đây là một chiếc bình được chọn”, Ngài nói thêm, “và ta sẽ cho hắn thấy hắn phải chịu đau khổ biết bao vì danh ta”.
“Bởi vậy, bạn thân mến ơi, hãy mạnh dạn dang rộng đôi cánh và tin tưởng không chút sợ hãi trên những tầng cao, nơi viên đạn chì bắn từ mặt đất không thể trúng được chim trời.
“Xin gửi đến anh bằng cả tấm lòng.
Ch. Gounod.”

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch