CHƯƠNG IV – BIỆT THỰ MÉDICIS

 

Năm 1863, những người đoạt giải thưởng lớn Rome về hội họa, điêu khắc, kiến trúc và chạm khắc là Layraud và Monchablon, Bourgeois, Brune và Chaplain.

Theo tập quán mà hiện nay vẫn được áp dụng, tất cả chúng tôi sẽ cùng nhau đến Biệt thự Médicis và tham quan đất Ý.

Thật là một cuộc sống mới mẻ và lý tưởng với tôi!

Bộ trưởng Bộ Tài chính trao cho tôi 600 franc cùng một tấm hộ chiếu nhân danh Hoàng đế Napoléon III, có chữ ký của Drouyns de Luys, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao khi ấy.

Những người bạn mới và tôi cùng nhau tới thăm nhà mọi thành viên Học viện để chào tạm biệt theo thông lệ trước khi khởi hành đến Viện Pháp tại Rome.

Một ngày sau Giáng sinh, trên ba cỗ xe ngựa mui trần, chúng tôi bắt đầu các cuộc thăm viếng chính thức khắp phố phường Paris, nơi các nhà bảo trợ của chúng tôi sống.

Ba cỗ xe này, chở đầy thanh niên, các họa sĩ bất tài (rapin) thật sự, tôi định nói là các chàng trai (gamin), những người say sưa với thành công và bị nụ cười của tương lai làm cho chếnh choáng, đã gây ra một vụ bê bối thực sự trên đường phố.

Gần như tất cả các ngài viện sĩ đều cho người nhà ra báo rằng mình vắng nhà. Đó là một cách để tránh phải phát biểu.

Ông Hirtoff, kiến trúc sư nổi tiếng sống ở phố Lamartine, ít khách sáo hơn khi hét bảo gia nhân từ phòng ngủ của mình: “Bảo bọn nó là tao không có nhà!”

Tôi nhớ lại hồi các thầy tiễn học trò tới tận bến xe khách ở phố Notre-Dame-des-Victoires. Cái ngày mà khi cỗ xe nặng nề chở học trò chen chúc ở đằng đuôi, nơi có những chỗ ngồi rẻ nhất cũng là những chỗ khiến bạn phải hứng nhiều bụi đường nhất, sắp sửa bắt đầu chặng đường dài từ Paris đến Rome, người ta nghe thấy ông Couder, họa sĩ yêu thích của Louis-Philippe, dịu dàng nói với trò cưng của mình: “Nhất là đừng quên phong cách của thầy!” Lời lẽ ngây thơ thân thiết mà thật cảm động! Ông chính là họa sĩ mà nhà vua đã nhận xét sau khi đặt ông vẽ cho bảo tàng Versailles: “Ông Couder làm ta hài lòng. Đường nét chính xác, màu sắc đẹp mắt và không đắt đỏ!”

Ôi! Cái thời tốt đẹp mà giản dị, khi lời nói có giá trị và sự ngưỡng mộ thì thích đáng chứ không phải là sự tán dương khoa trương, nếu tôi có thể nói như vậy, của ngày hôm nay, thứ mà người ta chất chồng lên bạn thật dễ dàng!

Tuy nhiên tôi đã phá lệ và rời đi một mình sau khi hẹn gặp lại các bạn trên đường đến Gênes, nơi tôi sẽ bắt kịp họ bằng một cỗ xe khách kếch xù do năm ngựa kéo. Lý do trước hết là vì tôi muốn dừng lại ở Nice, nơi cha tôi được chôn cất, sau đó đến ôm hôn mẹ tôi, người khi đó đang sống ở Bordighera. Mẹ ở trong một biệt thự khiêm tốn nhưng rất thú vị vì nằm giữa rừng cọ trông ra biển. Tôi cùng mẹ thân yêu trải qua ngày đầu năm mới và cũng là ngày giỗ của cha tôi với những giờ phút dạt dào xúc động. Tuy nhiên, tôi phải rời xa mẹ vì những người bạn vui vẻ đang đợi mình trong cỗ xe trên đường đến Corniche thuộc Ý, và vừa ráo nước mắt là tôi đã cười được ngay. Ôi tuổi trẻ!…

Xe của chúng tôi dừng tại Loano trước tiên vào khoảng tám giờ tối.

Tôi thừa nhận mình dù sao cũng là người vui tính; đó là sự thật, ấy thế mà tôi vẫn chìm đắm trong những suy tư khó tả, tôi cảm thấy từ nay trở đi mình gần như là một người cô độc trong cuộc đời. Tôi mặc lòng miên man trong những suy nghĩ có lẽ là quá có lý ở cái tuổi ấy trong khi những cây mimosa, những cây chanh, những cây mía đương nở hoa trên đất Ý tỏa ra bao mùi hương khêu gợi. Thật là một sự tương phản đáng yêu với tôi, người cho đến lúc đó mới chỉ biết đến cái mùi hăng hắc của vùng ngoại ô Paris, mùi cỏ bị giẫm nát trong các công sự và mùi nước hoa – ý tôi là mùi nước hoa của hậu trường yêu dấu!

Chúng tôi dành hai ngày ở Gênes, để thăm nghĩa trang Campo-Santo của thành phố, nơi có rất nhiều tượng đài đá cẩm thạch quý giá nhất và nổi tiếng là đẹp nhất ở Ý. Sau khi nhìn ngắm chúng, ai dám bảo rằng lòng tự trọng không tồn tại sau khi chết chứ?

Rồi vào một buổi sáng, tôi thấy mình chầm chậm dạo bước trên quảng trường nhà thờ ở Milan cùng anh bạn Chaplain, nhà chạm khắc huy chương nổi tiếng, sau này là đồng nghiệp của tôi tại Học viện. Chúng tôi chia sẻ niềm hứng khởi trước ngôi nhà thờ bằng đá cẩm thạch trắng tuyệt đẹp được vị tướng khét tiếng Jean-Galéas Visconti xây dựng để thờ riêng Đức mẹ Đồng trinh nhằm được cứu chuộc cuộc đời. “Ở cái thời của đức tin này, trái đất được bao phủ bởi những tấm áo choàng trắng,” Bossuet, tác giả của những lời lẽ uy lực hùng hồn mà tôi chợt nhớ lại, đã nói như thế.

Chúng tôi rất xúc động trước Bữa tối cuối cùng của Leonardo de Vinci. Bức tranh trong một căn phòng lớn từng bị dùng làm chuồng ngựa cho lính Áo và người ta đã trổ một cánh cửa đúng vào khu vực trung tâm của nó. Ôi thật kinh khủng! Một việc ghê tởm trong những việc ghê tởm!

Kiệt tác này đang dần bị phai màu. Theo thời gian, chẳng bao lâu nữa nó sẽ hoàn toàn biến mất chứ không giống như bức La Joconde, thứ dễ dàng cắp nách mang đi hơn là mảng tường cao mười mét mà bức bích họa này được vẽ lên.

Chúng tôi băng qua Vérone và thực hiện cuộc hành hương bắt buộc đến mộ Juliette, người yêu của Roméo. Cuộc dạo chơi này chẳng phải đã thỏa mãn những tâm tình thầm kín của mọi chàng trai trẻ đang phải lòng Tình yêu hay sao? Sau đó là Vicenze, Padoue, nơi mà khi chiêm ngưỡng các bức tranh của Giotto về Câu chuyện Chúa Kitô, tôi có trực giác rằng một ngày nào đó Marie-Magdeleine sẽ choán giữ đời tôi; và cuối cùng là Venise!

Venise!… Người ta có thể bảo rằng tôi vẫn đang sống trong đời thực và tôi sẽ không tin vậy, sự siêu thực của những giờ phút trải qua ở thành phố độc đáo này khiến tôi sững sờ. Khi chẳng có trong tay cuốn sách hướng dẫn quá đắt tiền của ông Bædeker thì chính nhờ một kiểu tiên đoán mà chúng tôi đã khám phá ra tất cả những điều kỳ thú của Venise mà không cần chỉ dẫn.

Các bạn tôi đã ngưỡng mộ một bức tranh của Palma Vecchio trong một nhà thờ mà họ không biết tên. Làm sao tôi có thể tìm lại nó trong số chín mươi nhà thờ ở Venise? Một mình trên chiếc gondola, tôi nói với người chèo thuyền của mình rằng tôi sẽ đến Saint-Zacharie; nhưng khi không thấy ở đó bức tranh, một bức Santa Barbara, tôi được đưa đến một vị thánh khác. Lại thất vọng. Khi việc này tái diễn và có nguy cơ kéo dài, người chèo thuyền của tôi vừa cười vừa trỏ một nhà thờ khác, nhà thờ Tất cả các thánh (Chiesa di tutti santi), và bảo tôi với giọng hơi chế giễu: “Vào đó đi, ông sẽ tìm thấy vị thánh của mình!”

Tôi đi qua Pisa và Florence, những nơi tôi sẽ kể chi tiết sau.

Khi đến gần lãnh thổ giáo hoàng, chúng tôi quyết định bổ sung một số cảnh đẹp như tranh vào hành trình của mình, thay vì theo con đường thường lệ đến Rome như các đàn anh cùng giải thưởng, nghĩa là qua Ponte-Molle, một chứng tích cổ xưa cho sự thất bại của Maxentius và vinh quang Cơ đốc giáo, chúng tôi sẽ đi tàu hơi nước từ Livorno tới tận Civitta-Vecchia. Đây chính là lần đầu đi biển mà tôi đã chịu đựng… một cách gần như thỏa đáng nhờ những miếng cam mà tôi liên tục ngậm rít lấy nước.

Cuối cùng chúng tôi đến Rome bằng tuyến đường sắt từ Civitta-Vecchia đến Thành phố Vĩnh cửu. Đã đến giờ ăn tối của các nghệ sĩ lưu trú. Họ chưng hửng khi trông thấy chúng tôi bởi bị hụt mất một cuộc vui là đi đón xe chúng tôi trên Đường Flaminia.

Việc đón tiếp diễn ra đột ngột. Một bữa tối đặc biệt được tổ chức ngẫu hứng và bắt đầu bằng những trò đùa nhằm vào các ma mới, được gọi là các ma mới khủng khiếp.

Là nhạc sĩ, tôi được giao nhiệm vụ cầm chuông đi báo giờ ăn tối khắp các lối đi trong khuôn viên Biệt thự Médicis lúc này đã chìm trong bóng tối. Vì không hay biết về những chỗ ngoặt, tôi ngã xuống một bể nước. Dĩ nhiên là chuông ngừng kêu và các nghệ sĩ lưu trú, những người thấy tiếng leng keng đột ngột im bặt, khoái chá về trò đùa nhả của mình đến mức phá lên cười không nhịn nổi. Họ hiểu chuyện gì đã xảy và chạy đến vớt tôi lên.

Vậy là tôi đã vượt qua thử thách đầu tiên, thử thách gia nhập Biệt thự Médicis. Đêm tối sẽ còn mang đến các trò bắt nạt khác.

Phòng ăn của các nghệ sĩ lưu trú, mà ngay ngày hôm sau tôi thấy thấy thật thú vị, đã biến thành hang ổ thực sự của bọn cướp. Các nhân viên phục vụ, những người thường mặc chế phục màu xanh lá của hoàng đế, ăn vận như tu sĩ với một khẩu súng loe miệng đeo chéo qua vai và hai khẩu súng lục giắt ở thắt lưng, mũi họ được một nghệ sĩ điêu khắc tô son và vẽ kiểu. Chiếc bàn gỗ linh sam lốm đốm vết rượu vang và đầy vết bẩn.

Các đàn anh của chúng tôi đều có vẻ mặt kiêu kỳ, song điều này không ngăn cản họ, theo một tín hiệu đã định, nói với chúng tôi rằng tuy đồ ăn đạm bạc nhưng ở đây người ta sống trong sự hòa hợp thân thiết nhất. Đột nhiên, sau một cuộc thảo luận nghệ thuật rất khôi hài, bất đồng nảy sinh và tất cả bát đĩa cùng chai lọ bay lên không trung giữa những tiếng la hét khủng khiếp.

Theo hiệu lệnh của một trong những người mạo xưng tu sĩ, sự im lặng ngay lập tức được thiết lập và đàn anh già giặn nhất, Henner, nghiêm trang nói: “Ở đây, sự hòa hợp tốt đẹp luôn ngự trị!”

Dù biết chúng tôi là đối tượng để trêu đùa nhưng tôi vẫn hơi sững sờ. Không dám cử động, tôi chúi mũi xuống mặt bàn và đọc thấy ở đó cái tên Hérold, mà tác giả Cánh đồng thầy tu đã dùng dao khắc vào khi còn là nghệ sĩ lưu trú ở chính Biệt thự Médicis này.

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch