“Về nhiều mặt, Glinka có tầm quan trọng trong âm nhạc Nga tương tự như Pushkin trong thơ ca Nga. Cả hai đều là những tài năng lớn… Cả hai đều đã tạo ra một ngôn ngữ Nga mới – một người trong thơ ca, người kia trong âm nhạc.” – Vladimir Stasov
Là cha đẻ của nền âm nhạc cổ điển Nga, xuất phát điểm của Mikhai Glinka khá khác biệt so với nhiều nhạc sĩ khác. Sinh ra trong một gia đình giàu có, ông có cơ hội tiếp xúc với âm nhạc dân gian và những tác phẩm đương thời do chính dàn nhạc riêng của người bác ruột biểu diễn. Được thừa hưởng một nền giáo dục quý tộc từ nhỏ, hơn thế nữa Glinka còn có điều kiện đi khắp châu Âu để tiếp xúc với những tinh hoa của âm nhạc cổ điển châu Âu nên tài năng của Glinka được phát hiện và bồi dưỡng từ rất sớm. Trong bối cảnh nền âm nhạc nước Nga thời kỳ đó còn quá non trẻ, niềm khát khao sáng tác ra những tác phẩm mang phong cách quê hương, tạo lập nên một trường phái âm nhạc cổ điển Nga hùng mạnh có thể sánh ngang với các quốc gia khác đã giúp ông trở thành một con người vĩ đại. Nhiều thế hệ nhà soạn nhạc sau này như Pyotr Ilyich Tchaikovsky, Modest Mussorgsky, Nikolai Rimsky-Korsakov hay Sergei Rachmaninov đều chịu sự ảnh hưởng từ Glinka và coi ông là bậc tiền bối đáng kính trọng. Âm nhạc của Glinka luôn tràn đầy những giai điệu của dân ca Nga, đầy ắp sự dung dị và trìu mến đồng thời thấm đẫm tư tưởng yêu nước, niềm tin vào con người. Giống như người bạn thân Alexander Pushkin, Glinka ca ngợi vẻ đẹp của cuộc sống, tin vào chiến thắng của lý trí, lòng tốt và công lý. Trong các tác phẩm của mình, ông đã thể hiện những khát vọng tư tưởng tiến bộ của thời đại.
Mikhail Glinka sinh ra tại làng Novospasskoye, tỉnh Smolensk vào ngày 1/6/1804 trong một gia đình quý tộc lâu đời. Ngay sau khi chào đời, Mikhail được bà nội đưa về nuôi dưỡng. Một năm trước đó, người anh Alexei đã qua đời và bà đổ lỗi cho cha mẹ của cậu về cái chết ấy. Trong hồi ký của mình, nhà soạn nhạc viết: “Tôi là một đứa trẻ có thể trạng yếu ớt… Bà tôi, một người phụ nữ tuổi đã cao và thường xuyên ốm yếu, nên trong phòng lúc nào cũng phải giữ nhiệt độ ít nhất là 20 độ Réaumur (tương đương 25 độ C). Dù vậy, tôi vẫn luôn mặc áo khoác lông; ban đêm và cả ban ngày, mọi người thường cho tôi uống trà pha kem với thật nhiều đường”. Bà hết mực chiều chuộng đứa cháu. Mikhail hầu như không ra khỏi nhà, thích dùng phấn vẽ trên sàn và đánh vào những chiếc chậu đồng để giả làm tiếng chuông nhà thờ. Vú nuôi của cậu thường hát các bài dân ca Nga và kể những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết dân gian cho Mikhail nghe. Năm 1810, bà cậu qua đời và Mikhail trở về trong sự chăm sóc của cha mẹ. Mẹ cậu, bà Evgenia bắt đầu chăm lo cho việc học hành của con trai mình. Bà thuê cô gia sư người Pháp dạy cậu học đọc và viết, đồng thời nhờ một kiến trúc sư quen biết dạy cậu vẽ. Glinka tỏ ra rất say mê địa lý và những cuốn sách viết về các chuyến du hành.
Năm 1812, Napoléon xâm lược nước Nga, cả gia đình Glinka phải chuyển đến sinh sống tại nhà của họ hàng tại Oryol và chỉ trở về nhà một năm sau đó. Mọi thứ đều đã đổ nát nên toàn bộ đã được xây dựng lại. Cha cậu, ông Ivan, một đại uý đã nghỉ hưu rất thích tổ chức các bữa tiệc tại nhà và thường xuyên tham gia cùng là sự góp mặt của nhiều thành viên trong dàn nhạc của anh trai mẹ Mikhail, ông Afanasy. Trong những buổi tối như vậy, cậu được thưởng thức âm nhạc và một chân trời mới mở ra trước mắt Mikhail: “Kể từ khi ấy, tôi say mê âm nhạc một cách cuồng nhiệt. Dàn nhạc của bác tôi là nguồn cảm hứng sống động nhất đối với tôi… Trong bữa tối, họ thường chơi những bài dân ca Nga và có lẽ chính những bài hát ấy, mà tôi được nghe từ thuở nhỏ, đã trở thành lý do đầu tiên khiến sau này tôi chủ yếu khai thác chất liệu âm nhạc dân gian Nga”. Thổ lộ ước muốn với mẹ mình, bà Evgenia đã mời Varvara Klammer, một nữ giảng viên đến từ Saint Petersburg đến giảng dạy cho Mikhail về lý thuyết âm nhạc và piano. Ngoài ra, có một nhạc công trong dàn nhạc của ông Afanasy dạy cậu chơi violin.
Tháng 12/1817, Glinka được gia đình gửi đến Saint Petersburg để theo học tại trường nội trú quý tộc tại Học viện Sư phạm. Sau này, nhà soạn nhạc nhớ lại: “Cha tôi không tiếc tiền cho tôi, nên đã thu xếp cho tôi cùng ba học sinh khác ở tầng lửng của một ngôi nhà; tại đó còn có cả chỗ để đặt đàn piano, và không lâu sau, nó được thay thế bằng một cây đại dương cầm của Tishner. Khi ấy, Tishner là nghệ nhân chế tạo đàn tốt nhất ở Peterburg”. Đây là một ngôi trường có chất lượng giáo dục rất cao. Học sinh được đào tạo năm ngoại ngữ: tiếng Latin, Đức, Anh, Ý và Ba Tư. Song song với việc học tại đây, Glinka cũng theo học âm nhạc ở bên ngoài. Giáo viên đầu tiên của anh tại đây là John Field, người sáng tạo ra thể loại nocturne và sau đó là nghệ sĩ piano Charles Mayer. Glinka học lý thuyết âm nhạc và xướng âm, còn cuối tuần thì đi nghe hoà nhạc hoặc opera. Trong các gia đình quý tộc Nga thời bấy giờ, luôn có truyền thống tuyển chọn một người tài năng làm cố vấn cho con em mình, chịu trách nhiệm hướng dẫn, giám sát và nuôi dưỡng đời sống tinh thần cho họ. Với trường hợp của Glinka là nhà thơ Wilhelm Küchelbecker, người luôn khuyến khích Glinka chơi piano bất cứ khi nào có thể và khen ngợi tài năng của anh. Küchelbecker chính là người đã giới thiệu Glinka với những người bạn của mình: Pushkin và Anton Delvig – những mối quan hệ sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến con đường nghệ thuật của Glinka sau này.
Tốt nghiệp trường nội trú vào năm 1822, Glinka lên đường đến vùng Kavkaz. Tuy nhiên khí hậu miền núi không hợp với thể trạng anh nên Glinka đã bị ốm và phải quay trở về nhà. Thời gian này, anh dành trọn vẹn thời gian bên piano. Trong hồi ký, Glinka ghi lại: “Để có được phần trình diễn rõ ràng hơn, mỗi lần có nhạc công đến… tôi đều chơi cùng từng người phân phổ của họ, cho đến khi không còn một nốt sai hoặc thậm chí không còn một chỗ đáng ngờ nào trong phần trình bày. Chính nhờ vậy, tôi đã học được cách phối khí cho dàn nhạc của phần lớn những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất”. Đến năm 1824, Glinka trở lại Saint Petersburg. Anh làm trợ lý thư ký tại Tổng cục Giao thông. Công việc chiếm của anh khoảng năm đến sáu tiếng mỗi ngày, còn lại được dành cho âm nhạc và các buổi họp mặt xã hội. Glinka kể: “Cuối năm đó, tôi thỉnh thoảng gặp lại vài người bạn cũ; một trong số họ trách tôi đã từ bỏ việc học hành nghiêm túc để phí thời gian vào những chuyện phù phiếm – như anh ta nói – và trò vui vô bổ. Tôi nhớ mình đã trả lời rằng: sau này tôi vẫn có thể học được, còn hiện tại, tôi thấy thích hợp hơn khi sống đúng với sở thích và độ tuổi của mình”. Trong những cuộc tụ tập này, Glinka thường trở thành người đệm piano. Anh bắt đầu thử sức với công việc sáng tác, là một romance dựa trên lời thơ của Konstantin Bakhturin – con trai người đứng đầu nơi anh đang làm việc. Bản nhạc này đã bị thất lạc. Từ năm 1825, Glinka bắt đầu quan tâm đến Yevgeny Baratynsky và phổ nhạc bài thơ “Chớ quyến rũ anh một cách vô cớ” thành một romance.
Từ mùa xuân năm 1826, Glinka hầu như sáng tác mỗi ngày. Anh viết romance, serenade, tiểu phẩm cho piano, tứ tấu dây và biểu diễn chúng tại các sự kiện xã hội. Cuối năm 1828, sức khoẻ của anh bắt đầu sa sút. Anh từ bỏ công việc và trở về Novospasskoye sinh sống. Glinka nhớ lại: “Trong những khoảng thời gian ngắn giữa các cơn đau (kèm theo sốt và mê sảng), tôi vẫn tiếp tục luyện tập âm nhạc, cải thiện kỹ thuật chơi piano nhờ luyện tập đều đặn các etude”. Các cơn đau ngày càng nghiêm trọng, và bác sĩ đã khuyên Glinka nên ra nước ngoài, những nơi có khí hậu ấm áp hơn, ít nhất ba năm. Tháng 4/1830, Glinka lên đường đến Ý. Glinka định cư tại Milan. Trong Hồi ký, ông viết: “Tôi như hồi sinh dưới mùa xuân tuyệt diệu của nước Ý, trí tưởng tượng bừng tỉnh và tôi bắt tay vào làm việc”. Ông sáng tác các tiểu phẩm được truyền cảm hứng từ những vở opera Ý nổi tiếng. Một số bản nhạc ông viết dựa theo opera Anna Bolena (Gaetano Donizetti) đã được xuất bản trên các tạp chí âm nhạc Pháp. Tại Ý, nhà soạn nhạc không bỏ lỡ bất kỳ buổi công diễn nào – nhà hát là niềm vui giải trí lớn nhất của ông. Glinka du hành qua nhiều thành phố: Bologna, Rome, Parma, Naples và làm quen với các nhà soạn nhạc Ý như Vincenzo Bellini và Donizetti. Tuy nhiên, đến năm 1833, trong một bức thư gửi về Nga, Glinka thú nhận: “Tôi thật lòng không thể là người Ý. Nỗi nhớ quê dần dần khiến tôi nảy ra ý định viết nhạc bằng tiếng Nga”. Tháng 7 năm 1833, Glinka quyết định chuyển đến Berlin và được học tập sáng tác với Siegfried Dehn, nhà nghiên cứu âm nhạc hàng đầu tại Đức. Tại đây, ông viết hai romance phổ thơ Vasily Zhukovsky và Delvig, hoàn thành bản biến tấu cho piano trên bài hát “Họa mi” của Alexander Alyabyev và chuyển soạn một số bài dân ca Nga cho piano bốn tay. Trong số những tác phẩm được Glinka sáng tác trong thời gian này, đáng chú ý có tiểu phẩm dành cho piano mang tên tiếng Pháp “Motif de chant national” (Bài ca dân tộc). Năm 1944, tác phẩm này được Mikhail Bagrinovsky phổ nhạc, đổi tên thành “Bài ca yêu nước” và trở thành quốc thiều của nước Nga kể từ khi Liên Xô tan rã cho đến năm 2000. Đến tháng 4/1834, ông quay trở lại nước Nga sau khi nhận được tin cha mình qua đời. Sau đó, Glinka chuyển đến Saint Peterburg và sống tại nhà người bạn Aleksey Stuneyev. Maria Ivanova, một người họ hàng của Stuneyev cũng sống ở đó và họ đã làm quen với nhau. Năm 1835, Glinka và Maria kết hôn.
Glinka quay trở lại với các cuộc tụ tập xã hội. Mỗi tuần ông đều tham dự các buổi tối của giới trí thức do Zhukovsky tổ chức tại Cung điện Mùa Đông. Những buổi gặp gỡ này quy tụ giới tinh hoa sáng tạo, trong đó có Pushkin, các nhà phê bình Pyotr Pletnev và Pyotr Vyazemsky, các nhà văn Nikolai Gogol và Vladimir Odoevsky. Trong một buổi tối như thế, Glinka đã chia sẻ ý tưởng viết một vở opera mang tính dân tộc Nga. Zhukovsky lập tức đề xuất câu chuyện về anh nông dân ở thế kỷ 17 Ivan Susanin, người đã lừa quân Ba Lan-Litva lạc vào rừng, nhờ đó cứu thoát Sa hoàng khỏi cái chết. Zhukovsky yêu thích ý tưởng của Glinka đến mức ông muốn tự mình viết lời và nhanh chóng sáng tác bài thơ “Ôi, không phải cho tôi, cơn gió hoang dại đáng thương”. Tuy nhiên, công việc bận rộn đã không cho phép ông tiếp tục, nên Zhukovsky nhờ người bạn của mình là Nam tước Yegor Rosen giúp đỡ Glinka soạn lời cho vở opera. Glinka viết trong hồi ký: “Như thể dưới một phép màu, kế hoạch toàn bộ vở opera hiện ra trước mắt tôi và cả ý tưởng đối lập giữa âm nhạc Nga và âm nhạc Ba Lan. Cuối cùng, nhiều chủ đề và cả những chi tiết sẽ triển khai – tất cả bùng nổ cùng lúc trong đầu tôi”. Glinka sáng tác rất nhanh, chỉ trong mùa xuân năm 1835, ông đã hoàn thành bản thảo không chỉ của màn I và II, mà còn phần lớn các chủ đề âm nhạc khác của toàn bộ vở opera. Ông hoàn tất vở opera tại quê nhà Novospasskoye, nơi ông dọn đến sống cùng vợ sau đám cưới vào đầu năm 1836. Các buổi tập dượt bắt đầu ngay sau đó – tác phẩm dự kiến sẽ khai mạc mùa diễn mới của Nhà hát lớn Saint Petersburg (nay đã bị phá bỏ). Tin đồn về vở opera dân tộc đầu tiên của Nga nhanh chóng lan khắp thủ đô: các buổi tập mở đều chật kín khán giả. Trong buổi tổng duyệt trước công diễn, Sa hoàng Nikolai I cũng đến xem. Glinka quyết định đề tặng vở opera cho hoàng đế và đặt tên là Một cuộc đời vì Sa hoàng. Buổi công diễn ra mắt được tổ chức vào ngày 9/12/1836.
Trong bức thư gửi cho mẹ vào ngày hôm sau, Glinka vui mừng: “Tối hôm qua, cuối cùng ước mơ của con đã thành hiện thực, và bao công sức lâu dài đã được đền đáp bằng thành công rực rỡ nhất. Khán giả đón nhận vở opera của con với sự cuồng nhiệt chưa từng thấy, các nghệ sĩ cũng hăng hái vô bờ… Sa hoàng đã cho gọi con vào lô riêng, nắm tay con, bày tỏ lòng cảm kích và trò chuyện cùng con rất lâu. Thái tử, Hoàng hậu và Đại công nương Maria Nikolaevna cũng dành cho con những lời khen nồng hậu về âm nhạc”. Nikolai I yêu thích vở opera đến mức đã tặng cho Glinka một chiếc nhẫn sang trọng. Các bạn thân của nhà soạn nhạc: Vielgorsky, Vyazemsky, Zhukovsky và Pushkin đã chúc mừng ông bằng một bài thơ vui nhộn với mỗi người sáng tác một khổ. Trong đó Vielgorsky đã hóm hỉnh viết: Vui lên nào, nước Nga! Glinka của ta – Giờ không còn là “đất sét” nữa, mà là sứ quý rồi! (Glinka trong tiếng Nga bắt nguồn từ глина có nghĩa là đất sét). Tuy nhiên, Glinka không nhận được một xu nào từ buổi công diễn này. Giám đốc nhà hát đã bắt ông ký cam kết không nhận thù lao cho vở opera đầu tiên của nước Nga này.
Năm 1837, Glinka được bổ nhiệm làm nhạc trưởng của Dàn hợp xướng cung đình. Nhiệm vụ của ông là chuẩn bị các buổi diễn mới, nhưng sau vài buổi tập, ông quyết định trước tiên phải huấn luyện lại các ca sĩ, bắt đầu bằng các buổi học xướng âm vì ca sĩ thiếu kỹ năng cần thiết. Glinka đích thân giảng dạy, ông chuẩn bị rất kỹ cho mỗi buổi học, thậm chí còn viết vài tác phẩm luyện thanh dành riêng cho họ. Cũng trong thời gian này, ông nảy ra ý tưởng viết một vở opera dựa trên trường ca Ruslan và Lyudmila của Pushkin. Theo kế hoạch ban đầu, đích thân Pushkin sẽ là người viết kịch bản nhưng nhà thơ đã qua đời vào ngày 10/2/1837 nên Glinka đành phải gác lại dự án này. Ông vẫn tiếp tục sáng tác romance, nổi bật là 2 bài hát “Gió thổi” và “Hoạ mi đừng hót”. Đến mùa thu năm 1838, mối quan hệ của Glinka và vợ ngày một xấu đi. Ông viết: “Vợ tôi thuộc kiểu phụ nữ mà với họ, váy áo, dạ hội, xe ngựa, ngựa tốt, đồng phục… là tất cả; cô ấy chẳng hiểu gì về âm nhạc”. Vì vậy, Glinka thường xuyên vắng nhà. Cuối năm này, Glinka trở lại với Ruslan và Lyudmila nhưng tiến triển rất chậm, chỉ được vài đoạn rời rạc. Ông cho biết: “Tôi luôn sáng tác vào buổi sáng sau khi uống trà, nhưng luôn bị gián đoạn: chưa kịp viết xong một hai trang thì người hầu lại bước vào, đứng nghiêm và lễ phép báo: ‘Thưa ngài! Các ca sĩ đã tập trung và đang đợi ngài’”.
Năm 1839, Glinka gặp Ekaterina Kern, con gái của Anna Kern, từng là nàng thơ của Pushkin. Ông hồi tưởng: “Ánh mắt tôi bất giác dừng lại ở cô ấy: đôi mắt trong trẻo biểu cảm, vóc dáng mảnh mai khác thường… và nét duyên dáng, phẩm giá đặc biệt thấm đẫm toàn bộ con người cô ấy đã thu hút tôi ngày càng nhiều hơn”. Ekaterina cũng yêu âm nhạc, họ cùng nhau chơi piano bốn tay, hát các trích đoạn từ Một cuộc đời vì Sa hoàng. Glinka dành tặng Ekaterina bản Waltz-Fantasia cho piano độc tấu. Những giai điệu trong sáng, tươi mát xen kẽ với những khoảnh khắc u sầu là tiền đề cho âm nhạc trong các vở ballet của Tchaikovsky sau này. Glinka chuyển soạn lại tác phẩm này cho dàn nhạc vào năm 1856 sau khi bản đầu tiên năm 1845 bị mất tại Paris. Romance “Nếu anh gặp được em” cũng là một tác phẩm khác được dành tặng Ekaterina (dựa trên lời thơ của Aleksey Koltsov, được chính cô lựa chọn để Glinka phổ nhạc). Glinka và vợ ly thân, Maria kiên quyết không ly hôn. Cùng lúc đó, Ekaterina lâm bệnh nặng. Nhà soạn nhạc viết: “Tôi không hẳn là ốm, cũng chẳng khỏe: lòng tôi trĩu nặng nỗi đau buồn và những suy nghĩ đen tối, mơ hồ vô tình ùa về trong tâm trí tôi.” Ông không đến làm việc và tháng 12/1839, Glinka bị sa thải khỏi vị trí nhạc trưởng của Dàn hợp xướng cung đình.
Năm 1841, Ekaterina khỏi bệnh, nhưng các bác sĩ khuyên cô nên chuyển đến miền nam nước Nga để hồi phục. Glinka muốn đi theo cô, thậm chí đã sáng tác một chuỗi 12 bản romance mang tên Lời từ biệt Petersburg. Tuy nhiên, thủ tục ly hôn với vợ khiến ông buộc phải ở lại. Đêm Ekaterina rời thành phố, Glinka đã thức trắng sáng tác âm nhạc: “Cả đêm tôi trong trạng thái sốt cao, trí tưởng tượng bừng tỉnh và chính khi đó tôi đã hình thành phần finale của opera, sau này trở thành nền tảng cho overture của vở Ruslan và Lyudmila”. Đến năm 1842, vở opera hoàn tất và các buổi luyện tập ở Nhà hát Lớn Saint Petersburg bắt đầu ngay sau đó. Ngày 27/11/1842, Ruslan và Lyudmila ra mắt công chúng. Tác phẩm thất bại, đến màn cuối, gia đình hoàng đế bỏ ra về. Glinka nhớ lại: “Khi màn khép lại, khán giả bắt đầu gọi tên tôi, nhưng tiếng vỗ tay rất yếu ớt, xen lẫn với tiếng suỵt vang lên từ phía sân khấu và dàn nhạc. Tôi quay sang tướng Dubelt đứng bên cạnh hỏi: “Có vẻ họ đang la ó, tôi có nên ra chào không?”. Ông đáp: “Ra đi, Chúa Jesus còn phải chịu đựng nhiều hơn cậu”. Nhiều yếu tố đều chống lại nhà soạn nhạc. Trước hết, họa sĩ thiết kế sân khấu mâu thuẫn với giám đốc nhà hát nên cố tình tạo ra những phông nền thô kệch, tầm thường. Glinka nhớ lại: “Lâu đài trông như doanh trại, những bông hoa trên sân khấu thì bị tô vẽ xấu xí bằng loại màu đơn giản rẻ tiền… Tóm lại, đó không phải là phông nền mà là một cái bẫy cho diễn viên.” Trước buổi diễn, ca sĩ chính bị ốm, phải thay thế bằng một nghệ sĩ trẻ non kinh nghiệm. Tuy vậy, chỉ trong mùa đông năm 1842, vở opera vẫn được trình diễn đến 32 lần. Cũng trong năm này, Ekaterina trở về Saint Petersburg và gặp lại Glinka nhưng như ông thú nhận trong hồi ký: “không còn chất thơ và niềm đam mê như trước nữa”. Năm 1844, Glinka tới Paris. Trước đó, ông ghé thăm và tạm biệt Ekaterina. Sau đó, mối quan hệ giữa hai người chấm dứt. Phải đến năm 1846, Glinka mới nhận được quyết định ly hôn với Maria. Nhưng vào thời điểm này, ông đã chán ghét cuộc sống hôn nhân và sống độc thân cho đến cuối đời.
Tại nước Pháp, ông kết bạn với Hector Berlioz. Trong 10 tháng trời, Glinka học hỏi được rất nhiều ý tưởng của nhà soạn nhạc Pháp vĩ đại và từ đó về sau âm nhạc của Glinka trở nên đa dạng và nhiều màu sắc hơn. Berlioz người đã đưa các tác phẩm của Glinka vào chương trình hoà nhạc tại Paris. Khán phòng chật kín và tràn ngập tiếng vỗ tay tán thưởng. Thành công này khiến Glinka quyết định tổ chức một buổi hòa nhạc riêng, diễn ra vào tháng 4/1845. Báo chí đã ca ngợi nồng nhiệt, với nhiều bài viết tích cực. Sau đó, ông lên đường đến Tây Ban Nha. Cảnh sắc và bầu không khí ở Valladolid để lại ấn tượng mạnh mẽ. Không lâu sau, ông sáng tác một tác phẩm dành cho dàn nhạc Jota Aragonesa. Glinka hứng thú với âm nhạc dân gian Tây Ban Nha đến nỗi ông mời những người đánh xe la tới căn hộ, yêu cầu họ hát các bài dân ca rồi ký âm lại. Mùa hè năm 1847, ông trở về Novospasskoye nhưng sức khoẻ lại xấu đi nên đã chuyển đến Warsaw nghỉ dưỡng. Tại đây, Glinka đã sáng tác Kamarinskaya, dựa trên việc phối lại hai bài dân ca Nga “Từ phía sau ngọn núi” và “Kamarinskaya” (tên một điệu nhảy vùng Smolensk). Trong hồi ký, Glinka cho biết: “Bỗng nhiên trí tưởng tượng tôi bay bổng, thay vì viết cho piano, tôi viết hẳn một bản phối cho dàn nhạc… Tôi có thể nói chắc rằng mình sáng tác bản này chỉ bằng trực giác âm nhạc bên trong, không nghĩ đến đám cưới hay cách người Nga ăn mừng”. Glinka đã mang kỹ thuật lặp lại các giai điệu theo dạng biến tấu với các hoà âm và phần đệm đa dạng của dàn nhạc vào điệu dân ca này, tạo nên một Kamarinskaya của riêng mình. Kỹ thuật để giai điệu lặp lại liên tục và chỉ thay đổi phần đệm được gọi là “thay đổi nền”, một thủ pháp sáng tác sau này được rất nhiều nhà soạn Nga sau này sử dụng, đặc biệt là Tchaikovsky. Nó hoàn toàn khác biệt với quá trình phân mảnh và phát triển chất liệu âm nhạc theo chủ đề của trường phái Đức vốn là đặc điểm trong những tác phẩm của những nhà soạn nhạc như Ludwig van Beethoven hay Johannes Brahms, tạo nên một trường phái Nga độc đáo, và rồi sau này đã vượt qua khỏi biên giới quốc gia. Đây là một tác phẩm quan trọng không chỉ của Glinka mà còn của cả nền âm nhạc Nga như Tchaikovsky đã nhận xét: “Tất cả trường phái âm nhạc giao hưởng Nga đều được chứa đựng trong Kamarinskaya như toàn bộ cây sồi nằm trong một quả sồi”.
Năm 1851, Glinka quay lại Saint Petersburg một thời gian ngắn, dạy hát tại đây. Không lâu sau, ông đến Paris. Tại đây, ông bắt đầu sáng tác vở opera thứ ba Taras Bulba, nhưng bỏ dở giữa chừng do thiếu cảm hứng. Chiến tranh Krym (1853) buộc Glinka rời Paris vì Anh và Pháp liên minh với Đế quốc Ottoman chống lại Nga. Năm 1854, ông trở lại Saint Petersburg, nhưng đến năm 1856 lại rời đi, lần này là sang Berlin, nơi ông sống đến cuối đời. Thời gian này trong Glinka vẫn đầy ắp ý tưởng sáng tác nhưng sức khoẻ suy sụp đã ngăn cản ông thực hiện chúng. Ngày 15/1/1857, gia đình nhận được bức thư của Glinka: “Vào ngày 9/1, vở Ivan Susanin của tôi được biểu diễn tại cung điện của đức vua. Tôi được mời và tôi là người Nga đầu tiên có được vinh dự đó… Bệnh cúm của tôi rất nặng, thời tiết thì rất đáng sợ, toàn sương mù và tuyết…”. Glinka qua đời ở Berlin vào ngày 15/2/1857 ở tuổi 52 vì cơn cảm lạnh làm trầm trọng thêm căn bệnh gan. Ông được chôn cất tại đây nhưng chỉ vài tháng sau, di hài ông được chuyển về Saint Petersburg và yên nghỉ ở nghĩa trang tu viện Alexander Nevsky.
Glinka là khởi đầu cho một hướng đi mới trong âm nhạc Nga. Ông không chỉ là một nhà soạn nhạc tài năng, mà còn là người đặt nền móng cho toàn bộ trường phái âm nhạc cổ điển Nga, mở ra một con đường nơi âm nhạc dân gian và tinh thần dân tộc được nâng tầm nghệ thuật. Dù không còn đủ thời gian để hoàn thành nhiều dự định, những ý tưởng của ông vẫn được phát triển trong các tác phẩm của nhiều thế hệ nhà soạn nhạc Nga sau này – những người đã khắc ghi tên tuổi “nhà khai sinh âm nhạc Nga” lên những biểu ngữ nghệ thuật của họ. Di sản Glinka để lại không chỉ là những tác phẩm, mà là một truyền thống, một bản sắc, có thể sánh ngang với bất kỳ nền âm nhạc tiên tiến nào. Và giống như Pushkin trong thi ca, tên tuổi Glinka mãi mãi gắn liền với khởi nguyên của nghệ thuật Nga hiện đại.
Cobeo







