CHƯƠNG XXVII – MỘT ĐÊM DIỄN!
Vào mùa xuân năm 1910, sức khỏe của tôi có phần bất ổn.
Roma đã được in từ lâu và sẵn sàng về cơ sở vật chất; Panurge đã hoàn thành; và tôi cảm thấy, một điều hiếm hoi, nhu cầu cấp thiết phải nghỉ ngơi vài tháng.
Nhưng tôi không thể hoàn toàn không làm gì và thả mình chìm vào cảnh nhàn hạ ngọt ngào dù điều đó có thể thú vị đến đâu! Vậy nên tôi đã tìm quanh và kiếm được một công việc không làm mệt mỏi cả tâm lẫn trí.
Các con thân yêu ơi, ta đã kể với các con rằng vào tháng 5 năm 1891, khi nhà xuất bản Hartmann biến mất, ta đã giao các tổng phổ Werther và Amadis cho một người bạn. Giờ ta chỉ nói về Amadis mà thôi. Vậy nên ta tìm đến người bạn của mình, người đã mở két sắt, không phải để lấy ra tiền giấy, mà lấy ra bảy trăm trang (bản nháp phối khí) hình thành nên tổng phổ Amadis, được sáng tác từ cuối năm 1889 đến hết năm 1890. Vậy là tác phẩm này đã trải qua hai mươi mốt năm.chờ đợi trong im lặng.
Amadis! Tôi có một libretto mới hay làm sao! Nên thơ và cảm động xiết bao dáng vẻ của chàng Hiệp sĩ Hoa Huệ vẫn thuộc mẫu tình nhân thủy chung và kính cẩn này! Mê li làm sao những tình tiết này! Tóm lại là hấp dẫn biết bao sự hồi sinh những anh hùng cao quý của tinh thần hiệp sĩ thời Trung cổ, của những dũng sĩ rất kiên cường và dũng cảm!
Vậy nên tôi lấy tổng phổ này ra khỏi két và để lại bên trong một tứ tấu và hai hợp xướng cho giọng nam. Amadis trở thành công việc mùa hè của tôi. Tôi vui vẻ bắt đầu sao chép nó ở Paris và làm tiếp ở Égreville.
Dẫu có công việc dễ dàng này, mà với tôi có vẻ là một loại thuốc xoa dịu hoàn hảo cho sự khó ở mà tôi đang cảm thấy, tôi thấy mình thực sự đau khổ và tự nhủ rằng mình đã làm tốt khi từ bỏ sáng tác vì biết rằng sức khỏe của mình đang rất mong manh.
Tôi đi Paris để tham khảo ý kiến bác sĩ. Anh khám cho tôi rồi không giấu tôi điều chẩn đoán tiết lộ: “Bệnh tình của ông rất nặng!” “Sao cơ?”, tôi nói. “Không thể nào! Tôi vẫn đang chép nhạc khi anh đến!”
“Bệnh tình của ông rất trầm trọng!”, anh nhấn mạnh. Sáng hôm sau, các thầy thuốc và bác sĩ phẫu thuật buộc tôi phải rời khỏi ngôi nhà yên tĩnh và căn phòng thân thương biết mấy của tôi.
Một chiếc xe cứu thương đưa tôi đến bệnh viện trên phố Chaise. Có một điều an ủi là tôi không phải rời khu phố nhà mình. Tôi được ghi vào sổ đăng ký bệnh viện dưới một cái tên giả, bởi các bác sĩ lo ngại về những cuộc phỏng vấn, dẫu thân thiện, mà người ta có thể yêu cầu và tôi hoàn toàn bị cấm nhận lời vào những lúc thế này.
Chiếc giường tôi nằm được kê vào giữa căn phòng đẹp nhất ở đây, căn phòng được gọi là phòng khách Borghèse. Sự chăm chút hết mực ân cần này khiến tôi cảm động.
Tôi là đối tượng được săn sóc tận tình và đáng ngưỡng mộ nhất của giáo sư phẫu thuật Pierre Duval cùng các bác sĩ Richardière và Laffitte.
Ở đó tôi được vây quanh và bao bọc bởi sự yên bình và tĩnh lặng mà tôi vô cùng trân trọng.
Những người bạn thân thiết nhất đến thăm tôi mỗi khi được phép. Còn vợ tôi lo lắng chạy ào về từ Égreville để đem đến cho tôi sự dịu dàng cảm động.
Tôi cảm thấy khá hơn sau vài ngày.
Tuy nhiên việc cơ thể phải nghỉ ngơi bắt buộc không ngăn cản trí óc tôi hoạt động.
Tôi không đợi tình trạng sức khỏe của mình cải thiện mới bắt đầu soạn các bài diễn văn mà tôi sẽ phải đọc với tư cách chủ tịch Học viện và chủ tịch Viện Hàn lâm Mỹ thuật (chức vụ mà tôi kiêm nhiệm trong năm nay) và quấn mình trong nước đá, từ trên giường, tôi cũng gửi đi các chi dẫn về cảnh trí dàn dựng Don Quichotte trong tương lai.
Cuối cùng tôi cũng về nhà!
Vui biết bao khi được gặp lại ngôi nhà cùng đồ đạc của ta; khi thấy lại những cuốn sách ta từng lật giở, thấy lại tất cả những vật dụng quen thuộc làm mắt ta vui thích và gợi lại cho ta những kỷ niệm thân thương; gặp lại những con người thân thiết, những gia nhân đầy tận tụy! Và niềm vui ấy lớn đến mức khiến tôi bật khóc.
Vui biết bao khi lại được bước những bước đi, dù còn rất loạng choạng và phải dựa vào cánh tay người anh trai hiền từ và cánh tay người bạn gái rất thân thiết! Hạnh phúc biết bao khi được dạo bước trong thời gian dưỡng bệnh qua những con đường rợp bóng mát của Luxembourg, giữa những tiếng cười hồn nhiên của đám trẻ đang thích thú nô giỡn ở đó, giữa tiếng hót trong trẻo của lũ chim đang nhảy nhót chuyền cành, những sinh vật hài lòng được sống trong khu vườn xinh đẹp này, vương quốc thú vị của chúng!
…
Égreville, nơi tôi đã bỏ hoang khi chưa biết tương lai của mình sẽ ra sao, đã trở lại cuộc sống bình thường ngay khi người vợ yêu dấu của tôi, đã yên tâm về số phận của chồng, có thể quay về đó.
Mùa hè mà với tôi rất buồn bã đã kết thúc, và mùa thu đến với hai buổi công diễn tại Học viện và Viện hàn lâm Mỹ thuật, cũng như các buổi diễn tập Don Quichotte.
Trong khi đó một ý tưởng thực sự thú vị được đề xuất với tôi từ người nghệ sĩ sau này sẽ chuyển thắng thành bại khi thực hiện nó. Sau khi áp dụng ý tưởng này một cách hiệu quả, tôi đã sáng tác một loạt tác phẩm và đặt cho chúng cái tên mà người biểu diễn gợi ý: Những biểu hiện trữ tình [Expressions lyriques]. Tôi rất quan tâm đến sự kết hợp của hai lực lượng biểu cảm, tiếng hát và lời nói, nhất là khi khiến cả hai rung lên trong cùng một giọng.
Hơn nữa người Hy Lạp cũng làm tương tự trong màn trình diễn các khúc tụng ca của họ khi luân phiên giữa ca hát và ngâm nga.
Và bởi không có gì mới mẻ dưới bầu trời sao, nên những gì chúng ta nghĩ là một cách tân hiện đại thì chỉ đơn thuần là “lặp lại từ người Hy Lạp”, tuy nhiên chúng ta có thể tự hào về điều này.
Kể từ thời điểm đó và mãi mãi về sau, tôi đã thấy thính giả rất bị cuốn hút bởi những sáng tác này và xúc động trước biểu hiện cá nhân đáng ngưỡng mộ của người trình diễn.
…
Một buổi sáng, khi đang sửa bản in thử cuối cùng của vở Panurge mà libretto do Heugel bạn tôi giao phó và các tác giả libertto là Maurice Boukay, bút danh của Couyba, sau này là Bộ trưởng Bộ Thương mại, và Georges Spitzmüller, tôi được đón một vị khách tới thăm một cách thân tình. Đó là O. de Lagoanère, tổng giám đốc Nhà hát Trữ tình Gaîté. Ông thay mặt các đạo diễn xuất sắc của chúng ta là anh em nhà Isola, để đề nghị tôi giao Panurge cho họ.
Trước sự vận động vừa tự nhiên vừa đáng tự hào này, tôi trả lời rằng các quý ông này thật tốt bụng khi quan tâm đến tôi nhưng họ lại không quen thuộc với tác phẩm. “Đúng vậy”, ông de Lagoanère dễ mến trả lời ngay, “nhưng đó là một tác phẩm do anh viết!”
Chúng tôi ấn định ngày và ngay lập tức hợp đồng được ký kết với tên của các nghệ sĩ do ban quản lý đề xuất.
Các con thân yêu ơi, ngay khi Panurge được đưa ra diễn tập ta sẽ kể với các con chi tiết hơn về vở này.
…
Khi viết những dòng này, tôi vẫn còn ấn tượng sâu sắc về đêm diễn tuyệt vời hôm 10 tháng 12 tại Nhà hát Opéra.
Vài tuần trước, anh bạn Adrien Bernheim tuyệt vời của tôi đến thăm tôi và, giữa hai viên hạnh nhân bao đường (anh cũng ham ăn như tôi), anh mời tôi tham dự một buổi biểu diễn lớn mà anh tổ chức để vinh danh tôi, nhân kỷ niệm mười năm ra đời tác phẩm Pháp nổi tiếng Ba mươi năm sân khấu. “Để vinh danh tôi!”, tôi thốt lên trong nỗi bối rối tột độ…
Không một nghệ sĩ nào, ngay cả nghệ sĩ vĩ đại nhất, không cảm thấy vui thích khi ủng hộ đêm diễn này.
Sau đó, hết ngày này qua ngày khác, tôi luôn thấy tại nhà mình, trong phòng khách gia đình trên phố Vaugirard, các tổng thư ký của Nhà hát Opéra và Nhà hát Opéra-Comique, các ông Stuart và Carbone, cùng người quản lý Nhà hát Trữ tình Gaîté, ông O. Lagoanère, tụ tập do được thúc đẩy bởi lòng tận tụy ngang nhau để đảm bảo thành công. Paul Vidal thân yêu của tôi, nhạc trưởng tại Nhà hát Opéra và giáo sư sáng tác tại Nhạc viện, tham gia cùng họ.
Chương trình được quyết định ngay lập tức. Các buổi diễn tập riêng bắt đầu ngay. Tuy nhiên, nỗi sợ sẽ bị ốm vào vào thời điểm biểu diễn mà tôi cảm thấy, và luôn cảm thấy khi thực hiện một lời hứa, đã khiến tôi mất ngủ không chỉ một đêm.
“Tất cả đều tốt đẹp khi kết thúc tốt đẹp”, đạo lý cuộc sống nói vậy. Như chúng ta sẽ thấy, tôi đã sai khi tự hành hạ mình trong bao đêm.
Như tôi đã nói, sẽ không nghệ sĩ nào cảm thấy vui nếu không tham dự dêm diễn này bằng sự ủng hộ hào phóng. Chủ tịch Adrien Bernheim dũng cảm của chúng tôi, sau vài lời ái quốc nồng nhiệt, đã được tất cả các giáo sư của dàn nhạc Nhà hát Opéra đồng ý đến tập luyện các tiết mục khác nhau trong chương trình lúc 6 giờ 25 phút chiều. Không ai ăn tối; mọi người đều đúng hẹn!
Xin gửi đến tất cả, những người bạn và đồng nghiệp của tôi, lời cảm ơn chân thành nhất!
Tự tôi không có đủ lời lẽ để ca ngợi lễ kỷ niệm mà mình đã tham gia một phần cá nhân đến vậy này…
Trên đời này không có hoàn cảnh nào, dù tươi đẹp và nghiêm túc đến đâu, không đan xen với một biến cố tạo nên sự tương phản.
Tất cả bạn bè tôi đều muốn bày tỏ niềm háo hức khi tham dự đêm diễn tại Nhà hát Opéra. Trong số họ có một khán giả quen mặt của nhà hát, người đến thổ lộ với tôi nỗi tiếc nuối vì không thể tham dự lễ kỷ niệm này. Ông chú triệu phú của anh vừa mất và anh là người thừa kế.
Tôi chia buồn với anh rồi anh lên đường.
Điều buồn cười nhất là tôi tình cờ biết được cuộc trò chuyện lạ lùng tại tang lễ ông chú giữa anh và đại diện nhà đòn.
“Nếu ngài muốn”, đại diện nhà đòn nói, “một lễ tang hạng nhất thì toàn bộ nhà thờ sẽ được phủ vải đen có gắn huy hiệu của người đã khuất, với dàn nhạc Nhà hát Opéra, các nghệ sĩ hạng nhất, linh cữu đồ sộ nhất”, tương ứng với số tiền.
Người thừa kế lưỡng lự…
“Vậy thì, thưa ngài, hạng hai sẽ là dàn nhạc Nhà hát Opéra-Comique cùng các nghệ sĩ hạng hai”, tương ứng với số tiền.
Vẫn lưỡng lự…
Sau đó, đại diện nhà đòn nói thêm với giọng ăn năn:
“Vậy thì sẽ là hạng ba; nhưng tôi xin báo trước với ngài rằng thế sẽ không vui (nguyên văn) đâu!”
Vì đang nói về chủ đề này, và từ này thực sự xác đáng, tôi sẽ kể thêm rằng tôi đã nhận được một lá thư chúc mừng từ Ý kết thúc bằng lời chào thường lệ, và lần này, được diễn đạt như sau:
“Xin hãy tin vào… lời chia buồn chân thành nhất của tôi.” (Cách dịch thoáng của ossequiosita.)
Cái chết đôi khi có những mặt vui cũng như cuộc sống có những mặt buồn.
Điều này làm tôi nhớ đến lòng trung thành mà anh em nhà Lionnet thể hiện trong các đám tang.
Đó là niềm cảm thông với người đã khuất hay là tham vọng muốn thấy tên mình trong số những người tao nhã được báo chí nhắc đến trong dịp này? Ta không bao giờ có thể biết được.
Một ngày nọ khi tham dự một lễ tang, Victorien Sardou nghe được cuộc trò chuyện giữa một trong hai anh em nhà Lionnet và người ngồi cạnh. Trong khi thông báo tin buồn về sức khỏe của một người bạn, anh nói với vẻ thương tiếc: “Chà, sắp đến lượt anh ấy rồi!”
Những lời này thu hút sự chú ý của Sardou, người vừa thốt lên vừa chỉ vào anh em nhà Lionnet: “Họ không chỉ tham dự tất cả các lễ tang mà còn báo trước chúng!”
Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch




