Thông tin chung

Tác giả: Franz Liszt.
Tác phẩm: Giao hưởng Faust, S. 124
Thời gian sáng tác: Khoảng tháng 8-10/1854 mặc dù những phác thảo đầu tiên có từ những năm 1840. Sau đó gần ba năm, Liszt tiến hành sửa chữa tác phẩm và hoàn thành vào năm 1857. Năm 1880, Liszt thêm vào chương II khoảng 10 ô nhịp.
Công diễn lần đầu: Tại Weimar vào ngày 5/9/1857 dưới sự chỉ huy của chính tác giả.
Độ dài: Khoảng 75 phút.
Đề tặng: Tác phẩm được dành tặng Hector Berlioz.
Cấu trúc tác phẩm:
Tác phẩm có 3 chương:
Chương I – Faust
Chương II – Gretchen
Chương III – Mephistopheles
Thành phần dàn nhạc: piccolo, 2 flute, 2 oboe, 2 clarinet, 2 bassoon, 4 horn, 3 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, cymbals, triangle, organ, harp và dàn dây. Ngoài ra còn có sự tham gia của dàn hợp xướng nam (hai bè tenor, một bè bass) và tenor lĩnh xướng.

Hoàn cảnh sáng tác

Berlioz bắt đầu khám phá Faust của Goethe từ năm 1828 qua bản dịch của Gérard de Nerval. Nhà soạn nhạc say mê tác phẩm: “Tôi không thể đặt nó xuống. Tôi đọc nó liên tục, trong bữa ăn, tại nhà hát, trên đường phố, khắp mọi nơi”. Berlioz cũng không ngại ngần trong việc giới thiệu Faust với những người bạn của mình, trong đó có Liszt. Dưới sự hào hứng của Berlioz, Liszt cũng đã từng có những phác thảo âm nhạc về Faust vào những năm 1840 nhưng sau đó đã nhanh chóng gạt chúng qua một bên vì ác cảm với nhân vật. Liszt nhận xét một cách hài hước: “Đối với tôi, tu sĩ Dòng Tên tồi tệ nhất còn thân yêu hơn toàn bộ Goethe của các bạn”. Năm 1869, Liszt lí giải về cảm nghĩ của mình thời điểm đó khi so sánh Faust và Manfred (nhân vật chính trong tác phẩm cùng tên của Byron): “Khi còn trẻ, tôi say mê ngưỡng mộ Manfred và đánh giá cao anh ấy hơn Faust, người mà chỉ là bí mật giữa bạn và tôi thôi nhé, mặc dù có uy tín tuyệt vời trong thơ ca, đối với tôi dường như là một nhân vật hoàn toàn trưởng giả. Vì lý do đó mà anh ta trở nên đa dạng hơn, hoàn thiện hơn, phong phú hơn, giao tiếp nhiều hơn… (so với Manfred). Tính cách của Faust tự phân tán và tiêu tan; anh ta không hành động, để mình bị điều khiển, thử nghiệm, do dự, lạc lối, lưỡng lự, mặc cả và chỉ quan tâm đến hạnh phúc nhỏ bé của riêng mình. Manfred chắc chắn không thể nghĩ đến việc phải chịu đựng sự đồng hành tồi tệ của Mephistopheles và nếu anh ta yêu Marguerite, anh ta có thể sẽ giết chết cô ấy, nhưng không bao giờ bỏ rơi cô ấy một cách hèn nhát như Faust”.

Tuy nhiên, bất chấp sự khó chịu từ phía Liszt với Faust, sự hiện diện của Goethe cùng tác phẩm vĩ đại này vẫn hiện diện khắp mọi nơi tại Weimar, nơi nhà soạn nhạc đang đảm nhiệm công việc Kapellmeister. Ngày 28/8/1849, Liszt đã chỉ huy một số trích đoạn từ Scenes from Goethe’s Faust (Schumann) nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Goethe. Sau đó, Liszt cũng tham gia trong việc thành lập quỹ Goethe. Mùa hè năm 1850, dịch giả Nerval tới làm khách trong nhà của Liszt. Hai người đã có rất nhiều cuộc trò chuyện xung quanh chủ đề Faust và sau đó còn tiếp diễn qua những bức thư của họ. Sau khi chứng kiến Berlioz chỉ huy tác phẩm La Damnation de Faust, sự nhiệt tình của Liszt đã được gia tăng rõ rệt. Tuy nhiên, vẫn còn đó những ngại ngần. Trong bức thư gửi cho người bạn thân thiết, công nương Carolyne zu Sayn-Wittgenstein, Liszt cho biết: “Bất cứ điều gì liên quan đến Goethe đều rất nguy hiểm đối với tôi”. Chất xúc tác cuối cùng đến vào tháng 8/1854 khi tiểu thuyết gia George Eliot ghé thăm Weimar. Chồng của bà, George Henry Lewes đang thu thập thông tin về tiểu sử của Goethe. Trong chuyến ghé thăm Liszt tại nhà riêng của ông, hai vợ chồng đã có nhiều cuộc thảo luận với Liszt và công nương Carolyne về Goethe và vị trí của ông trong nền văn học Đức. Sau đó, Liszt đã lao vào sáng tác Faust với niềm cảm hững mãnh liệt.

Mặc dù được hoàn thành ngay trong năm 1854 nhưng Liszt đã không đưa tác phẩm tới công chúng. Ba năm sau, nhà soạn nhạc đã mang Faust ra sửa chữa. Ông đã thêm vào nhiều kèn đồng để tăng thêm sức mạnh cũng như sáng tác phần hợp xướng với tenor lĩnh xướng ở cuối chương III, được ghi chú là chorus mysticus (hợp xướng huyền bí) với lời ca được lấy từ tác phẩm gốc. Bản giao hưởng Faust có ba chương, lần lượt lấy tên của ba nhân vật chính: Faust, Gretchen và Mephistopheles. Liszt không cố gắng thuật lại câu chuyện của Goethe bằng âm nhạc mà ông miêu tả suy nghĩ và cảm xúc của mình về ba nhân vật, như đúng cái tên đầy đủ của tác phẩm được nhà soạn nhạc đề trên tổng phổ: “Bản giao hưởng Faust trong ba bức tranh nhân vật”.

Phân tích

Chương I – Faust được Liszt sáng tác ở dạng sonata nhưng có cấu trúc rất lỏng lẻo, được mở đầu bằng một giai điệu u ám trên âm khu trầm của dàn dây, không có giọng chủ mà chứa đựng toàn bộ 12 nốt nhạc của một thang âm, được chia thành 4 nhóm, mỗi nhóm 3 nốt nhạc. Đây là một điều gần như không thể tưởng tượng được ở giữa thế kỷ 19, cho thấy một tư duy vượt trước thời đại của Liszt khi nó được Schoenberg hiện thực hoá gần 100 năm sau đó. Âm nhạc chất chứa sự tuyệt vọng và chán chường của Faust, người đang vô cùng bi quan với cuộc sống của mình. Ngay sau đó, tiếng oboe độc tấu trỗi dậy, tươi sáng và sống động, mang tới một niềm hi vọng le lói. Nhưng chủ đề u ám đầu tiên quay trở lại, lần này trên kèn đồng, hung dữ và tuyệt vọng hơn. Sau đó, dựa trên hai chủ đề này, Liszt đã xây dựng nên ba niềm khao khát của Faust: niềm đam mê trở về thời thanh xuân; một tình yêu lý tưởng thuần khiết và niềm vinh quang trong chiến thắng của một vị anh hùng. Chân dung của Faust dần dần được hiện lên, một người đàn ông đã ở phía bên kia của cuộc đời và chất chứa mong muốn tột bậc về những gì mình không đạt được. Đây là chương nhạc dài nhất trong toàn bộ tác phẩm và nó được coi là sự tổng hợp của bản giao hưởng vì chứa đựng những motif âm nhạc được Liszt tiếp tục sử dụng cho những chương tiếp theo.

Chương II miêu tả Gretchen, thiếu nữ được Mephistopheles, bằng phép thuật của mình, đã giúp Faust có được tình yêu của cô. Gretchen xinh đẹp, sùng đạo và giản dị. Chính vì vậy, Liszt đã khắc hoạ chân dung của cô bằng một giai điệu dịu dàng, trôi chảy và đẹp tuyệt vời. Không có tính chất phức tạp như Faust, tâm hồn Gretchen trong sáng và đơn thuần. Chính vì vậy, âm nhạc miêu tả cô này chỉ xoay quanh một chủ đề duy nhất ở trên. Chương II ở giọng La giáng trưởng, mở đầu bằng một phần giới thiệu trên flute và clarinet. Sau đó, oboe giới thiệu chủ đề chính của chương nhạc bằng một thứ âm nhạc thuần khiết, lãng mạn trên nền trang trí dịu dàng của viola. Âm nhạc tiến triển một cách hồn nhiên và ngây thơ. Trong tâm trí của Getchen chỉ có hình bóng của Faust nên những chủ đề của chương I dần dần được xuất hiện và được đẩy lên một cao trào khi chúng hoà nhạc với giai điệu của Gretchen tạo thành một bản song ca tình yêu nồng nàn. Phần tái hiện nhẹ nhàng, ngắn gọn và thanh bình khép lại chương nhạc.

Chương III chứa đựng tất cả những gì tinh tuý nhất của Liszt: trí tưởng tượng phong phú, tài sáng tạo phi thường và kỹ năng phối khí hoàn hảo cho dàn nhạc. Điểm đặc biệt trong chương nhạc này là Liszt hoàn toàn không sử dụng một chủ đề mới nào mà ông dùng lại những giai điệu của 2 chương nhạc trước nhưng tất cả đều được biến đổi một cách tài tình để tạo thành bức chân dung của tên quỷ dữ Mephistopheles. Những chủ đề của Faust được bóp méo, chế giễu, mỉa mai và cuối cùng bị xé nát, tạo thành một thứ âm nhạc của ma quỷ. Faust đã bị Mephistopheles huỷ hoại, anh dần dần bị biến thành kẻ nô lệ cho quỷ dữ. Nhưng giai điệu của Gretchen vang lên, sự thánh thiện của cô hoàn toàn không bị Mephistopheles khuất phục. Chủ đề này được lưu giữ nguyên vẹn. Tình yêu chân thành của cô đã cứu rỗi Faust. Âm nhạc của Gretchen lan toả, lấn át sự dữ dội của Mephistopheles và khép lại tác phẩm trong sự hân hoan, lạc quan ở giọng Đô trưởng. Tuy nhiên, ba năm sau, Liszt đã quyết định thêm vào phần kết một đoạn nhạc nữa với sự tham gia của dàn hợp xướng nam với tenor độc tấu và organ. Lời hát được lấy từ cuối phần thứ hai của Faust, nơi Goethe kêu gọi và ca ngợi Nữ tính vính cửu.

Bản giao hưởng được trình diễn lần đầu vào ngày 5/9/1857 tại Weimar nhân dịp khánh thành Đài tưởng niệm Goethe-Schiller. Tuy nhiên, tác phẩm không được đón nhận. Dường như những cách tân đi trước thời đại của Liszt đã không nhận được sự đồng cảm từ phía khán giả cũng như những đồng nghiệp. Hans von Bülow, con rể Liszt và từng chỉ huy bản giao hưởng này vào năm 1861 cũng lên tiếng chỉ trích tác phẩm: “Nó hoàn toàn rác rưởi, hoàn toàn không phải âm nhạc! Tôi không biết cái nào lớn hơn, nỗi kinh hoàng của tôi hay sự ghê tởm của tôi!… Không, Faust là một sai lầm: chúng ta hãy bỏ chủ đề này một lần và mãi mãi!”. Bản giao hưởng chỉ được biểu diễn lẻ tẻ sau đó và bị lãng quên trong suốt 50 năm. Phải đến thế kỷ 20, dưới sự nỗ lực của nhiều nhạc trưởng như Thomas Beecham hay Leonard Bernstein, Faust mới được trình diễn thường xuyên. Đã có nhiều đánh giá coi tác phẩm là “kiệt tác của thời kỳ Lãng mạn”. Faust là bằng chứng cho thấy Liszt cảm nhận sức mạnh thực sự của âm nhạc là gì: nó có thể làm được những điều cơ bản hơn nhiều so với việc chỉ thể hiện hoặc đại diện một cách ẩn dụ cho các ý tưởng hoặc cảm xúc – nó thực sự có thể thể hiện chúng dưới dạng trải nghiệm. Đối với Liszt, âm nhạc sở hữu một sức mạnh kỳ diệu có thể vượt qua các loại hình nghệ thuật khác bằng cách trở thành những cuộc đối đầu kỳ vĩ, tuyệt diệu mà hội họa hay văn học chỉ có thể khái quát và tượng trưng.

Ngọc Tú tổng hợp

Nguồn:
theguardian.com
thelistenersclub.com
leonardbernstein.com