Claudio Monteverdi là một trong những nhân vật có tầm nhìn xa trông rộng vĩ đại nhất trong thế giới âm âm nhạc. Như Beethoven khoảng 200 năm sau, ông nhanh chóng tinh thông và tận dụng hết truyền thống âm nhạc mình thừa hưởng – các kiệt tác hợp xướng theo phong cách phức điệu thời kỳ Phục hưng hay còn gọi là “prima prattica” – và đẩy nhanh tốc độ thay đổi phong cách tiến tới những vinh quang của thời kỳ Baroque hay “seconda prattica”.

Không thể kể xiết tác động của ông trong việc thiết lập nên hình thức opera mới mẻ cũng như cách viết cho dàn nhạc mang tính cách mạng và vô số những kết cấu mới lạ cùng những hiệu ứng mà ông nghĩ ra. Ông cũng đã mở rộng từ vựng hòa âm tới các mức độ nghịch tai gần như chưa từng có. Đến thời điểm Monterverdi soạn tác phẩm danh tiếng Vespers năm 1610, mọi thứ đã được ném vào chiếc nồi tan chảy để tạo ra âm nhạc ở một quy mô không có tiền lệ, chạy theo các cấp độ cảm xúc từ tinh thần chói lọi tới những ẩn ý gợi tình.

Ngay từ năm 1600, các xu hướng “hiện đại chủ nghĩa” của Monteverdi đã bị nhà lý thuyết đối thủ người Bologna, Giovanni Artusi, phê phán qua một tập sách mỏng chế nhạo những kỹ thuật tiến bộ của Monteverdi.

Monteverdi đáp trả trong lời nói đầu của Tập Madrigal thứ năm của mình bằng cách đảm bảo với thính giả rằng họ có thể “vẫn bằng lòng khi biết rằng chừng nào sự thuận tai và nghịch tai còn liên quan thì quan điểm của tôi càng được chứng minh bằng sự hài lòng mà nó tạo cho cả đôi tai và trí óc.”

Monteverdi không chỉ là người đả phá truyền thống như đã chứng tỏ trong những lá thư hiện còn sót lại của ông, những lá thư bộc lộ một con người quan tâm sâu sắc đến nghệ thuật của mình và rất nhạy cảm với những lời chỉ trích. Những lá thư cũng bộc lộ rằng việc mất đi người vợ đầu tiên, Claudia, vào năm 1607 là gần như quá sức chịu đựng với ông và rằng ông thực hiện nghĩa vụ làm cha rất nghiêm túc. Trên tất cả, đây chính là điều đã đẩy thiên tài của Monteverdi tới những đỉnh cao như vậy. Vừa phải làm cha vừa phải đương đầu với chứng trầm cảm, ông đã tìm ra lối thoát trong âm nhạc.

Là con trai cả của một thợ hớt tóc kiêm nhà phẫu thuật, Monteverdi bắt đầu soạn nhạc từ thời niên thiếu và xuất bản tập motet ba bè đầu tiên tại Venice ở tuổi 15. Hai năm sau ông xuất bản một tập canzonetta và đến năm 1587 thì xuất bản tập đầu tiên trong số 9 tập madrigal.

Thành công bước đầu này đã giúp ông được bổ nhiệm làm nhạc công viol tại triều đình Mantua vào năm 1592. Nhưng việc này có vẻ lại là một hiểm họa, vì vương công Mantua khởi sự chinh phục người Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1559 và Monteverdi bị buộc phải đi theo để động viên tinh thần binh sĩ.

Ông đã sống sót qua nhiều cuộc đụng độ và bốn năm sau đó kết hôn với ca sĩ cung đình, Claudia de Cattaneis, người sinh cho ông hai cậu con trai và một cô con gái – cô con út qua đời lúc còn ẵm ngửa.

Đến thời gian được bổ nhiệm làm maestro di cappella tại Mantua năm 1601, Monteverdi đã nổi danh là một trong những ngôi sao âm nhạc đang lên của Ý. Thế nhưng việc xuất bản các tập madrigal thứ tư (1603) và thứ năm (1605) của ông thật sự giống như việc đặt con mèo giữa đàn bồ câu.

Các quy tắc hàn lâm vốn có đã bị gạt bỏ hoàn toàn khi Monteverdi tạo ra các tiến trình hòa âm mới mẻ mang tới cho lời ca sức sống chưa từng có trước đây. Các bản sao chép lậu được lan truyền rộng rãi, tạo ra một bầu không khí hào hứng trong giới sành nhạc thời ấy.

Giai đoạn sáng tạo ban đầu này đã lên đến đỉnh điểm với buổi công diễn lần đầu vở opera đầu tay L’Orfeo. Đây là vở opera sớm nhất mà ngày nay vẫn thường xuyên được biểu diễn. Dù lấy cảm hứng từ cùng một câu chuyện trong thần thoại Hy Lạp nhưng so với L’Euridice của Peri, L’Orfeo của Monterverdi có những thay đổi mang tính lịch sử. Thay vì sử dụng các đàn lute, Monterverdi đã mở rộng biên chế dàn nhạc bằng việc dùng các đàn dây, harpsichord, organ, trumpet, recorder (ống tiêu)… khiến phần nhạc của opera trở nên giàu màu sắc và có tính tương phản rõ nét. Monterverdi cũng mở đầu opera bằng một đoạn nhạc ngắn, tiền thân của overture sau này. Ông cũng tạo cho những nhân vật sự khác biệt bằng những nét nhạc đặc thù. Recitative trong vở opera này không chỉ truyền tải nội dung ca từ mà còn thể hiện ý nghĩa của ca từ, khắc họa diễn biến nội tâm sâu sắc của nhân vật.

Vậy là chỉ bằng một cú ra đòn, Monteverdi đã cách mạng hóa một thể loại vẫn còn trong thời kỳ trứng nước. Các tình huống kịch tính mà trước đây chỉ khiến người xem hơi gật gù thì nay bắt đầu tác động một cách nghiêm túc tới cảm xúc của khán giả. Âm nhạc sẽ chẳng bao giờ như trước nữa. Khả năng thiên bẩm của Monteverdi trong việc chuyển dịch hình ảnh thị giác sang thứ âm nhạc có chất lượng lâu bền cũng có thể được thể hiện bằng hiệu quả vô cùng ấn tượng trong các vở ballet của ông mà nổi bật nhất là vở Il Ballo Delle Ingrate (1608).

Bị buộc phải quay lại làm việc sau cái chết của người vợ vào năm 1607, Monteverdi càng ngày càng chán ngán đời sống ở Mantua và mối quan hệ giữa nhà soạn nhạc và những ông chủ áp bức trở nên thật sự khủng hoảng. Năm 1610, với hy vọng có được một vị trí ở Rome, Monteverdi đã đề tặng một tập tác phẩm âm nhạc nhà thờ mới sáng tác có tên Vespers cho Giáo hoàng. Nỗ lực sáng tạo này được thực hiện trong một giai đoạn đau buồn trong đời ông. Ông vẫn vô cùng thương tiếc người vợ và trở nên ốm yếu đến mức các bác sĩ đã phải dùng đến biện pháp trích máu.

Bất chấp những nỗ lực hết mức của Monteverdi, cánh cửa tới Rome vẫn không mở ra. Khi vương công Vincenzo của Mantua qua đời vào năm 1612, vương công kế nhiệm không cần có Monteverdi phục vụ nữa nên đã thải hồi ông. Vào năm tiếp theo vị trí maestro di cappella tại nhà thờ St Mark ở Venice đã sẵn sàng đợi Monteverdi và ông gây ấn tượng lớn tại đó đến độ lương của ông được tăng lên gần gấp đôi trong vòng ba năm.

Giai đoạn Monteverdi phục vụ tại Venice là một đỉnh cao trong sự nghiệp lâu dài và lừng lẫy của ông. Vào năm 1619, ông xuất bản tập madrigal thứ bảy trong đó sự táo bạo trong hòa âm của các tập trước được phát triển hơn nữa. Năm năm sau, tác phẩm sân khấu lai ghép Il Combattimento Di Tancredi E Clorinda của ông được công diễn lần đầu. Libretto của nó là một số khổ thơ trích từ tập trường ca La Gerusalemme Liberata của Torquato Tasso. Tác phẩm “chiến trận” đột phá này – tiền thân của Wellington’s Victory của Beethoven và Overture 1812 của Tchaikovsky – khiến khán giả bị mê hoặc.

Lần đầu tiên dàn nhạc xuất hiện như một cơ thể độc lập với tất cả các kiểu cách kỹ thuật trong kho vũ khí của nó – đáng chú ý nhất là Concile Concile (phong cách kích động), được đặc trưng bởi các nốt lặp lại rất nhanh để gợi lên một trạng thái kích động hay khiêu chiến. Cuối cùng khi hai chiến binh giáp mặt, kỹ thuật pizziato bất ngờ và chói tai gợi lên tiếng gươm đao giao đấu, trong khi tiếng ngựa phi được thể hiện bằng sự lặp lại của cùng một hợp âm nhảy cách quãng theo nhịp ba.

Đáng buồn là không phải toàn bộ các tác phẩm hay nhất của Monteverdi trong thời kỳ này đều còn lại đến ngày nay. Cả vở opera Proserpina Rapita năm 1630 chỉ còn sót lại một khúc trio, bản mass tạ ơn viết cho nhà thờ St Mark năm 1631 chỉ còn lại khúc Gloria. Tập madrigal thứ tám (1638) cho thấy một bước ngoặt nữa trong sự nghiệp của Monteverdi, người hình như dùng nó như một sự hồi tưởng về âm nhạc và các lý thuyết của mình trong 30 năm qua.

Thêm vào các tác phẩm trước đó, tập madrigal này cũng chứa đựng các sáng tác chứng tỏ sự phát triển liên tục về kỹ thuật và lý thuyết âm nhạc của Monteverdi. Gần như quay lưng lại với những cách đối âm năm bè rắc rối mà ông đã làm rất nhiều để phát triển, ông bắt đầu nghĩ nhiều hơn đến ngôn ngữ hòa âm thuần khiết, với các bè cùng dịch chuyển theo khối. Ông cũng đặt nhiều tin tưởng hơn vào các giọng hát solo được dàn đồng ca đáp lại gần như theo lối hát thời Trung cổ.

Monteverdi trở thành linh mục vào năm 1632 và rất có thể đã gác bút soạn opera mãi mãi nếu như nhà hát opera công cộng đầu tiên không được mở tại Venice từ năm 1637. Ông đã viết cho nhà hát này ba kiệt tác cuối cùng Il Ritorno D’Ulisse In Patria (1640), Le Nozze D’Enea Con Lavinia (1641, bị thất lạc) và L’incoronazione Di Poppea (1642).

Monteverdi qua đời vào năm 1643 ở tuổi 76, một thời gian ngắn sau chuyến thăm quê hương Cremona lần cuối cùng. Ông yên nghỉ tại nhà thờ Frari tại Venice sau khi đã đơn thương độc mã chỉ ra phương hướng mà thế giới âm nhạc Ý sẽ đi trong 400 năm tiếp theo.

Ngọc Anh (nhaccodien.info) tổng hợp