Thông tin tác phẩm Scheherazade

Tác giả: Nikolai Rimsky-Korsakov.
Tác phẩm: Scheherazade, Op. 35
Thời gian sáng tác: Năm 1888.
Công diễn lần đầu: Ngày 3/11/1888 tại Saint Petersburg với tác giả chỉ huy dàn nhạc.
Độ dài: Khoảng 45-47 phút.
Tác phẩm có 4 chương:
Chương I – Biển và con tàu của Sinbad
Chương II – Câu chuyện của hoàng tử Kalendar
Chương III – Hoàng tử và công chúa
Chương IV – Lễ hội tại Baghdad. Biển cả. Con tàu đâm vào vách đá và được kị sỹ đồng cứu vớt.
Thành phần dàn nhạc: picollo, 2 flute (flute 2 kiêm piccolo 2), 2 oboe (oboe 2 kiêm English horn), 2 clarinet, 2 bassoon, 4 horn, 2 trumpet, 3 trombone, tuba, timpani, snare drum, triangle, cymbal, bass drum, tambourine, tam-tam, harp và dàn dây.

Hoàn cảnh sáng tác Scheherazade

Sau khi nhà soạn nhạc Borodin mất vào ngày 27/2/1887, người bạn thân Rimsky-Korsakov đã cố gắng hoàn thành vở opera Hoàng tử Igor còn đang dang dở của Borodin. Chính trong quá trình này, ông nảy ra ý định sáng tác một tác phẩm lấy chất liệu từ âm nhạc phương Đông, giống như cách mà Borodin đã sử dụng trong Hoàng tử Igor. Ý tưởng sáng tác dần hình thành nhưng Rimsky-Korsakov chỉ thực sự bắt tay vào sáng tác vào mủa hè năm 1888, khi ông về nghỉ tại ngôi nhà của gia đình ở gần hồ Cherementets, Luga, cách Saint Petersburg khoảng 140km về phía nam. Trong suốt mùa hè, ông đã hoàn thành hai trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất của mình là tổ khúc giao hưởng Scheherazade và Overture Lễ hội Phục sinh Nga. Theo những ghi chép của chính nhà soạn nhạc, 4 chương của tổ khúc được hoàn thành lần lượt vào các ngày 16, 23, 28/7 và 7/8/1888.

Scheherazade được sáng tác dựa trên các câu chuyện trích ra từ tập Nghìn lẻ một đêm, một tuyển tập tuyệt vời các câu chuyện dân gian Trung Đông được du nhập vào châu Âu khoảng đầu thế kỷ 18. Trên thực tế, đây không phải là lần đầu Rimsky-Korsakov lấy cảm hứng từ âm nhạc phương Đông. Năm 1868, bản giao hưởng số 2 “Antar” (sau này nhà soạn nhạc gọi là tổ khúc giao hưởng) cũng được ông sáng tác dựa trên những câu chuyện Ả Rập.

Các câu chuyện riêng lẻ trong Nghìn lẻ một đêm được kết nối bằng một sợi dây xuyên suốt: Nhà vua Shahryar căm ghét sự thiếu chung thuỷ của phụ nữ, mỗi ngày đều thu nhận một cô dâu mới và sẽ hành quyết vào bình minh hôm sau cho đến khi Scheherazade xuất hiện. Cô đã cứu mình bằng cách kể những câu chuyện hấp dẫn cho nhà vua, khơi gợi trí tò mò của Shahryar khiến ông không thể không đợi đến đêm hôm sau để nghe tiếp. Và cuối cùng cô cũng giành được trái tim của nhà vua. Rimsky-Korsakov đã lấy tên cô để đặt cho tổ khúc của mình. Ông nhớ lại trong hồi ký: “Chương trình mà tôi hướng tới khi sáng tác Scheherazade bao gồm các phần riêng biệt, không kết nối với nhau và hình ảnh về Những đêm Ả Rập, rải rác qua 4 chương nhạc trong tổ khúc của tôi: Biển và con tàu của Sinbad; Câu chuyện của hoàng tử Kalendar; Hoàng tử và công chúa; Lễ hội tại Baghdad. Biển cả. Con tàu đâm vào vách đá và được kỵ sỹ đồng cứu vớt… Ban đầu tôi đã định ghi chú các chương nhạc của mình lần lượt là Prelude; Ballade; Adagio và Finale nhưng theo lời khuyên của Liadov và một vài người khác, tôi đã không làm như vậy. Sự ác cảm của tôi khi tìm kiếm một chương trình đã quá rõ ràng trong sáng tác này đã khiến tôi (trong ấn bản mới) loại bỏ những gợi ý của mỗi chương nhạc… Ý tôi là gợi ý này trực tiếp nhưng sẽ ảnh hưởng phần nào tới người nghe… Tất cả những gì tôi mong muốn là người nghe, nếu thích bản nhạc của tôi là một tác phẩm giao hưởng, nên mang theo ấn tượng rằng đây chắc chắn là một câu chuyện cổ tích phương Đông với số lượng đa dạng và phong phú những kỳ quan và không chỉ là 4 chương nhạc nối tiếp nhau”.

Phân tích tác phẩm

Một câu chuyện mà chắc chắn Rimsky-Korsakov viết vào tổng phổ là câu chuyện khung, được miêu tả sống động bằng âm nhạc. Chương I tổ khúc bắt đầu 2 chủ đề: chủ đề 1 là tiếng đe doạ gầm gừ của Shahryar trên kèn đồng và Scheherazade nhanh chóng đáp lại chủ đề 2 dịu dàng, huyền bí, da diết, được lặp lại xuyên suốt tác phẩm bằng violin độc tấu. Cô thường xuyên được đệm bằng harp, gợi lên truyền thống cổ xưa hàng thế kỷ. Hình ảnh “Biển cả và con tàu của Shinbad” hiện ra. Những làn sóng nổi lên nhẹ nhàng lăn tăn trong bè cello khi violin chơi một giai điệu bán cung uốn khúc ở giọng Mi trưởng. Là nhà soạn nhạc luôn đồng điệu âm nhạc với màu sắc (cũng giống như Scriabin), Rimsky-Korsakov nghe giọng Mi trưởng như màu xanh sẫm, sâu thẳm của biển khơi. Là người từng nhiều năm theo học hải quân, biển cả hẳn mang lại cho ông những cảm giác hết sức thân thuộc.

Toàn bộ tác phẩm thể hiện Rimsky-Korsakov là một thiên tài trong việc khơi gợi sức sống của tất cả các nhạc cụ trong dàn nhạc, một bậc thầy về phối khí. Âm nhạc của sóng biển xen kẽ với những đoạn nhạc tinh tế dành cho nhạc cụ độc tấu. Và mỗi khi “sóng biển” trở lại, âm sắc dàn nhạc trở nên phong phú và hùng vĩ hơn, đạt cao trào trong âm thanh fortissimo lung linh. Chủ đề Scheherazade với tiếng violin độc tấu giới thiệu chương II “Câu chuyện của hoàng tử Kalendar”. Trong thế giới Ả Rập thời Trung cổ, Kalendar là một người thần bí lang thang, sống theo lối khổ hạnh, dựa vào các tổ chức từ thiện để tồn tại. Trong Nghìn lẻ một đêm, thực tế có tới 3 hoàng tử Kalendar, cả 3 đều bị chột mắt. Họ kể cho nhau về câu chuyện bi thương của họ, về cách họ trở nên những con người như vậy. Chủ đề Kalendar, được biến tấu từ chủ đề Shahryar vang lên với tiếng bassoon độc tấu đầy biểu cảm được nối tiếp bằng oboe độc tấu và sau đó là bè violin. Đột nhiên nhịp độ chậm lại, tiếng trombone và trumpet vang lên báo động. Hình ảnh này được lặp lại vài lần, chương nhạc khép lại với sự tái xuất của tiếng bassoon đầu chương.

Có quá nhiều ứng cử viên được đề xuất, thật khó mà nhận biết được đâu là nhân vật chính của chương III “Hoàng tử và công chúa”. Tình yêu là chủ đề phổ biến trong Nghìn lẻ một đêm, và chương nhạc cho thấy một Rimsky-Korsakov trữ tình nhất. Trong chương nhạc này, chủ đề Scheherazade không xuất hiện ở đầu mà ở gần cuối, như thể dừng lại để bình luận về câu chuyện. Chương nhạc được xây dựng trên một giai điệu nhẹ nhàng của dàn dây ngay đầu chương. Chủ đề Scheherazade hoà nhập với âm nhạc của hoàng tử và công chúa, tạo nên cao trào ngây ngất cho chương nhạc.

Chương IV Lễ hội tại Baghdad. Biển cả. Con tàu đâm vào vách đá và được kỵ sỹ đồng cứu vớt bắt đầu với lời giới thiệu của chủ đề Scheherazade, sau đó lẽ hội bắt đầu. Một lần nữa, rất khó tìm ra câu chuyện phù hợp với lễ hội được miêu tả ở đây. Các giai điệu ở chương II và III trở lại trong suốt lễ hội, mặc dù Rimsky-Korsakov nói rằng động lực của ông cho những lần tái hiện này hoàn toàn là vì âm nhạc và cảnh báo người nghe không đọc quá nhiều từ bài hướng dẫn. Khi cảnh tượng hoang dã đạt tới đỉnh điểm, chủ đề “biển cả” từ chương I trở lại với logic của một giấc mơ và chúng ta chứng kiến thảm hoạ đắm tàu (liên quan tới câu chuyện của hoàng tử Kalendar thứ 3). Các cơn sóng dịu dần và chủ đề Scheherazade bay cao trên giai điệu trầm thấp của Shahryar. Khi tiếng violin độc tấu lên nốt cao nhất trên thang âm của nó, âm nhạc tan biến vào hư vô, kết thúc câu chuyện thần kỳ của nàng Scheherazade.

Scheherazade là tác phẩm tập trung những gì tinh hoa nhất của Rimsky-Korsakov: trí tưởng tượng phong phú, thấu hiểu tính năng nhạc cụ, hoà âm đa dạng, độc đáo và rực rỡ. Bắt đầu nghiên cứu âm nhạc từ khi còn trẻ, mang trong mình khát vọng về một nền âm nhạc Nga cường thịnh, sự tận tâm, học hỏi không ngừng cũng như sự trân trọng tới những sáng tác của những nhạc sĩ khác, ảnh hưởng của ông từ lâu đã vượt xa ra khỏi quê hương và lan rộng tới thế hệ tiên phong của châu Âu sau đó với những tên tuổi như Debussy, Ravel, Stravinsky, Respighi…

Cobeo

Tổng phổ tác phẩm

Bình luận Facebook