Thông tin chung

Tác giả: Robert Schumann.
Thời gian sáng tác: Năm 1839.
Độ dài: Khoảng 7 phút.
Đề tặng: Tác phẩm được đề tặng cho Friederike Serre (1800-1872), một nhà bảo trợ nghệ thuật.

Hoàn cảnh sáng tác

Mùa thu năm 1838, Schumann rời Leipzig đến Vienna. Ông bắt buộc phải đến một vùng đất mới để tìm kiếm những công chúng đồng cảm với các sáng tác dành cho piano của ông cũng như một nhà xuất bản chấp nhận chúng, bất chấp điều này đồng nghĩa với việc Schumann phải xa rời Clara. Trong thời điểm này, mối quan hệ của ông với Clara tưởng chừng như không thể có kết quả tốt đẹp bởi vì ông Wieck, cha của Clara phản đối kịch liệt bất kỳ điều gì có thể cản trở sự nghiệp trở thành nghệ sĩ piano của con gái mình và càng không thể chấp nhận để Schumann trở thành con rể. Cách xa về mặt địa lý nhưng không hề cách biệt về cảm xúc, ông giao tiếp với cô bằng những bức thư và âm nhạc. Dường như bất kỳ tác phẩm nào được Schumann sáng tác trong thời kỳ này đều chất chứa hình bóng của Clara và đó là một cách giải thích hợp lý về tâm trạng của Arabeske giọng Đô trưởng, tác phẩm được ông sáng tác vào năm 1839, với âm nhạc xen kẽ giữa sự khát khao mơ mộng và những chi tiết mạnh mẽ hơn.
Quen biết Clara từ năm 1835, hầu hết những tác phẩm dành cho piano độc tấu của Schumann kể từ đó đã mang nhiều tính thử nghiệm và phức tạp hơn; sự bộc lộ cảm xúc một cách công khai và cấu trúc độc đáo của chúng đã gây khó hiểu cho khán giả thông thường và thậm chí tạo ra những cuộc tranh cãi cho cả các chuyên gia. Fantasie, Kreisleriana, Piano sonata số 3 với vô vào thách thức thật sự về mặt kỹ thuật đều là những tác phẩm thuộc giai đoạn này. Tuy nhiên, mặc dù trong thời gian ở Vienna, Schumann bị chứng trầm cảm và thất vọng về công việc bủa vây, Arabeske lại mang một tâm trạng khác hẳn, dịu dàng, duyên dáng, ngắn gọn và đơn giản nhưng quyến rũ một cách kỳ lạ.
Mặc dù thuật ngữ Arabesque vốn rất quen thuộc với các tác phẩm dành cho đàn phím trong những năm trước đó, đặc biệt trong thời kỳ Baroque nhưng đây lại là tác phẩm đầu tiên của piano mang tên gọi này. Arabesque được sử dụng như một phép ẩn dụ thi ca, là vật trang trí hoặc một phong cách với các đường viền hình tượng, hoa hoặc động vật được sử dụng để tạo ra các mẫu phức tạp, lấy cảm hứng từ kiến ​​trúc Ả Rập. Nó cũng là một thuật ngữ khiêu vũ, một tư thế múa ballet. Ở đây, có lẽ Schumann đặt tên này cho bản nhạc của mình là dựa trên đường cong cuộn xoáy nhẹ nhàng với những đường nét đan xen lẫn nhau trong kết cấu của chủ đề mở đầu tác phẩm bao quanh một giai điệu đơn giản, thân mật xuyên suốt tác phẩm. Dường như bản thân Schumann đã cố gắng sáng tác Arabeske theo một “phong cách nhẹ nhàng hơn, nữ tính hơn”. Trong lá thư gửi Ernst Becker vào ngay 15/9/1839, nhà soạn nhạc đã miêu tả Arabeske và Blumenstück, Op. 19 là “tinh tế – dành cho phụ nữ”.

Phân tích tác phẩm

Về mặt cấu trúc, Arabeske có hình thức rondo ABACA với ba đoạn lặp lại với giai điệu không đổi được hai đoạn chen tương phản xen vào giữa. Tác phẩm mở đầu với phần A thì thầm với những mảnh ghép nhỏ ở giọng chủ Đô trưởng trong sáng và thuần khiết. Hai đoạn chen được viết ở giọng Mi thứ đầy say mê khao khát (B) và La thứ, khá bất ngờ lại là một một đoạn hành khúc nhỏ (C). Hai phần B và C này dữ dội hơn, tượng trưng cho tính cách Florestan mạnh mẽ trong bản ngã hư cấu của Schumann nhưng về thực chất cũng là những chất liệu âm nhạc dựa trên chủ đề mở đầu. Arabeske được kết thúc bằng một coda thơ mộng, trầm ngâm tuyệt đẹp đầy bất ngờ gợi nhắc đến những bài hát của Schumann chưa được sáng tác vào thời điểm đó, tượng trưng cho Eusebius đầy suy tư, trang nhã, mang một phong cách đặc trưng của nhà soạn nhạc. Tác phẩm chuyển động nhẹ nhàng giữa các tâm trạng tương phản, khép lại với sự tóm tắt nhẹ nhàng của chất liệu mở đầu bản nhạc. Schumann không có nhiều ghi chú hướng dẫn cho Arabeske, ngoại trừ một ký hiệu Ped dành cho bàn đạp. Sau này, Clara đã thêm vào những chỉ dẫn về tốc độ: phần A Leicht und zart (Nhẹ nhàng và tinh tế) với nốt đen = 126; phần B Minor #1: nốt đen = 112 và phần C Minor #2: nốt đen = 120.
Bản thân Schumann đã từng nói: “Bức tranh trở thành âm nhạc của họa sĩ, nhạc sĩ đưa những bức tranh thành âm nhạc… Thẩm mỹ của loại hình nghệ thuật này cũng là thẩm mỹ của loại hình nghệ thuật khác; chỉ có chất liệu là khác nhau”. Và trong tác phẩm này, vốn từng bị Schumann chê bai là “mờ nhạt” thì những giai điệu tuyệt đẹp và tâm trạng mơ màng kì diệu đã đưa bản nhạc thành một viên ngọc xinh xắn, biến Arabeske thành một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất Schumann, bất chấp quy mô bé nhỏ của nó. Cùng với Blumenstück, Schumann đã dành tặng Arabeske cho Friederike Serre, một nhà bảo trợ nghệ thuật ở Dresden vì những hỗ trợ tốt đẹp của bà cho mối quan hệ của nhà soạn nhạc với Clara.
Nguồn:

Facebook Comments