“Nếu như không có âm nhạc, thế giới sẽ là một nơi tồi tệ.” – Claudio Abbado

“Cảm giác tuyệt đối về nhịp điệu, về sự chính xác và tự nhiên trong các mối liên kết của tác phẩm giúp tạo ra hình dáng và ý nghĩa ngay cả với những tác phẩm vô định hình nhất, và trong đó là một sức sống dẻo dai cho những tác phẩm âm nhạc riêng biệt mà không một người đương đại nào có thể sánh kịp”, đó là những lời tán dương dành cho Claudio Abbado, một trong những nhạc trưởng xuất sắc nhất thế giới của thế kỷ 20. Abbado là một tài năng vĩ đại, người được công nhận là thiên tài ngay từ khi còn trẻ. Những buổi hoà nhạc của ông không chỉ đơn thuần là biểu diễn, mà là những hành trình hiện sinh đầy biến đổi. Từng nắm giữ cương vị giám đốc nghệ thuật, nhạc trưởng chính tại nhiều dàn nhạc, nhà hát, liên hoan âm nhạc nổi tiếng thế giới, đỉnh cao sự nghiệp của Abbado đến vào năm 1989 khi ông thay thế Herbert von Karajan để chỉ huy Berlin Philharmonic danh giá, do chính những thành viên của dàn nhạc lựa chọn. Bất chấp việc sức khoẻ bị ảnh hưởng nặng nề từ căn bệnh ung thư dạ dày, sau khi nghỉ điều trị trong ba tháng, Abbado đã trở lại mạnh mẽ và tiếp tục công việc yêu thích của mình cho đến khi qua đời. Được biết đến là một người nhút nhát, kiệm lời, nhưng những hiệu quả âm nhạc mà Abbado mang tới lại hiếm người có thể sánh được. Khi nhắc đến những nhạc trưởng thành công và yêu mến nhất, cái tên Abbado luôn nằm ở những vị trí đầu tiên trong các cuộc bình chọn.

Claudio Abbado sinh ngày 26/6/1933 tại Milan trong một gia đình âm nhạc. Cha cậu, ông Michelangelo là nghệ sĩ violin chuyên nghiệp, giáo sư tại nhạc viện Milan. Mẹ cậu, Maria là nghệ sĩ piano. Anh trai Claudio, Marcello (sinh năm 1926), sau này trở thành nhà soạn nhạc, nghệ sĩ piano và giảng viên tại nhạc viện Rossini, Pesaro. Tuổi thơ Claudio lớn lên trong hoàn cảnh nước Ý nằm dưới sự cai trị của chủ nghĩa phát xít. Mẹ cậu từng bị giam giữ vì dám chứa chấp một đứa trẻ Do Thái. Bà là người tích cực trong việc hỗ trợ các đảng phái chống phát xít và giúp đỡ người Do Thái trốn sang Thuỵ Sĩ. Chính những điều này khiến Abbado trở thành người cực lực phản đối chủ nghĩa phát xít trong suốt cuộc đời mình. Cậu bé 11 tuổi Claudio đã viết lên tường “Viva Bartók” để tôn vinh nhà soạn nhạc yêu thích của mình khiến Gestapo ngược xuôi lùng kiếm thủ phạm. Abbado nhớ lại: “Chúng đến nhà tôi và truy hỏi: “Ai là đảng viên Đảng Bartók”? Chúng hoàn toàn không biết gì về âm nhạc”. Để đuổi chúng đi, Claudio đã phải chơi một bản nhạc của Bartók. Cha mẹ chính là những người thầy âm nhạc đầu tiên của Claudio. Tình yêu âm nhạc của cậu bé còn đến từ việc chứng kiến những buổi luyện tập và biểu diễn tại La Scala dưới sự chỉ huy của Arturo Toscanini hay Wilhelm Furtwängler. Abbado vẫn luôn nhớ về sự ác cảm của mình với Toscanini lúc đó: “Ông ấy thật kinh khủng với dàn nhạc của mình, chỉ có tiếng la hét”. Tuy nhiên, điều quyết định đến ước muốn trở thành nhạc trưởng của Claudio đến khi cậu mới 7 tuổi. Trong lần xem buổi biểu diễn của Antonio Guarnieri tại La Scala trong Nocturnes của Claude Debussy, Abbado cho biết: “Tôi quyết định khi đó sẽ trở thành một nghệ sĩ, một nhạc trưởng. Tôi muốn thực hiện lại điều kỳ diệu này”. Niềm đam mê này càng được thúc đẩy mạnh mẽ khi vào năm 1949, Leonard Bernstein tới Milan để biểu diễn cùng ông Michelangelo, Bernstein đã đánh giá Claudio: “Cậu ấy có con mắt của một nhạc trưởng”.

Abbado theo học tại Nhạc viện Milan với các chuyên ngành piano, sáng tác và chỉ huy dàn nhạc. Ở tuổi 18, anh đã thể hiện được tài năng vượt trội của mình, được coi là một nhạc trưởng đầy hứa hẹn để kế tục Toscanini. Anh cũng dành thời gian để học tập với Friedrich Gulda tại liên hoan Salzburg cũng như Alceo Galliera và Carlo Zecchi tại Accademia Chigiana, Siena. Tại Siena, Abbado đã kết bạn với Zubin Mehta và Daniel Barenboim, đều là những nhạc trưởng nổi tiếng sau này. Chính Mehta đã rủ Abbado theo học Hans Swarowsky tại Vienna Academy of Music vào năm 1956. Trong thời gian ở Vienna, họ tham gia vào Musikverein Chorus, không phải vì yêu thích ca hát mà muốn chứng kiến sự dàn dựng của những nhạc trưởng như Karajan hay Bruno Walter. Năm 1958, Abbado lần đầu tiên xuất hiện trên cương vị chỉ huy dàn nhạc tại Trieste, đông bắc nước Ý. Cũng trong năm này, cùng với Mehta, Abbado đã nhận được giải thưởng về chỉ huy mang tên nhạc trưởng Serge Koussevitzky do trung tâm âm nhạc Berkshire tại Tanglewood, Massachusetts trao tặng. Trở về nước, Abbado giảng dạy âm nhạc thính phòng tại Parma trong ba năm. Anh có một dàn nhạc thính phòng của riêng mình Solisti di Milano. Năm 1959, cũng tại Trieste, anh chỉ huy vở opera đầu tiên của mình, Tình yêu cho ba quả cam (Sergei Prokofiev). Ngày 24/11/1960, anh có lần ra mắt tại La Scala trong một chương trình gồm toàn những tác phẩm của Alessandro Scarlatti nhân dịp kỉ niệm 300 năm ngày sinh nhà soạn nhạc. Mặc dù dành cho các cuộc thi những từ ngữ không mấy tốt đẹp: “Kinh khủng, khủng khiếp” nhưng năm 1963, Abbado tiếp tục giành được giải thưởng Dmitri Mitropoulous, giúp anh trở thành trợ lý nhạc trưởng cho Bernstein tại New York Philharmonic. Trong lễ trao giải vào ngày 7/4/1963, Abbado đã lần đầu tiên chỉ huy New York Philharmonic với tổ khúc Chim lửa (Igor Stravinsky).

Năm 1964, Abbado tham gia liên hoan RIAS tại Berlin và đã thu hút được sự chú ý của Karajan. Ông đã mời Abbado tham gia liên hoan Salzburg năm 1965 để chỉ huy Giao hưởng số 2 của Gustav Mahler (một trong những nhà soạn nhạc yêu thích của Mahler) cùng Vienna Philharmonic. Abbado kể lại: “Ngồi phía trước tôi là một nghệ sĩ violin lớn tuổi. Ông ta nói với tôi: “Cậu biết đấy, tôi đã từng chơi nhạc với Mahler””. Tháng 12/1966, Abbado lần đầu tiên chỉ huy cùng Berlin Philharmonic. Năm 1968, với Don Carlo (Giuseppe Verdi), Abbado lần lượt ra mắt tại Covent Garden và Metropolitan Opera. Tài năng của Abbado phát triển nhanh đến nỗi, năm 1969, khi chỉ mới 36 tuổi, ông đã được mời trở thành nhạc trưởng chính tại La Scala, một trong những vị trí được kính trọng nhất tại nước Ý. Tại La Scala, Abbado chủ trương danh mục biểu diễn không chỉ nằm ở các vở opera quen thuộc và được yêu thích. Ông đã bổ sung nhiều tác phẩm của những nhà soạn nhạc đương đại như Atomtod (Giacomo Manzoni) hay Al gran sole carico d’amore (Luigi Nono). Uy tín của Abbado tại La Scala lên cao hơn bao giờ hết. Ông tiếp tục được bổ nhiệm làm giám đốc âm nhạc và sau đó là giám đốc nghệ thuật. Tại đây, Abbado đã kéo dài mùa diễn hơn thông lệ. Ông tin âm nhạc cổ điển không chỉ dành riêng cho một giới đặc quyền nào đó mà là tất cả mọi người. Abbado đã đưa dàn nhạc của La Scala ra khỏi nhà hát, tới các nhà máy, công trường để biểu diễn cho tầng lớp lao động đồng thời tổ chức các buổi hoà nhạc miễn phí để nhiều người dân có cơ hội tiếp cận với không khí của nhà hát. Ông cũng chủ trương La Scala ngoài việc công diễn opera và ballet còn là nơi để tổ chức các chương trình khí nhạc. Trọng tâm trong kịch mục của Abbado tại La Scala vẫn là opera của Ý, từ những vở opera bel canto của Gioachino Rossini cho đến Verdi và verismo. Ông trung thành với tổng phổ của các nhà soạn nhạc, loại bỏ những nốt nhạc hoa mỹ thường được các ca sĩ thời đó thêm vào nhằm khoe kỹ thuật cũng như khôi phục những đoạn nhạc bị cắt xén.

Abbado là một nhạc trưởng với một phong cách đặc trưng không thể nhầm lẫn với bất kỳ ai khác. Với bản tính nhút nhát và khiêm tốn, trong các buổi tập, ông rất kiệm lời. Clive Gillinson, giám đốc điều hành của London Symphony Orchestra nhận xét: “Về cơ bản ông ấy không nói gì trong các buổi luyện tập, nếu có, sẽ rất nhẹ nhàng, bởi vì ông ấy nhút nhát nên mọi người cảm thấy có vẻ như nhàm chán. Nhưng nó lại hiệu quả vì mọi người đều đã biết đến các màn trình diễn quá tuyệt vời. Tôi chưa từng biết đến ai hấp dẫn hơn. Ông ấy là nhạc trưởng tự nhiên nhất trên thế giới. Nhiều nhạc trưởng cần phải trình bày rõ ràng những gì họ muốn thông qua lời nói, nhưng Abbado chỉ việc chỉ ra, chỉ việc thực hiện nó”. Abbado căm ghét cách tiếp cận độc tài của Toscanini, ông giao tiếp với các nhạc công của mình trong một bầu không khí thoải mái và ấm áp hơn rất nhiều: “Một số nhạc trưởng muốn trở thành nhà độc tài. Đối với tôi, điều quan trọng là tình yêu âm nhạc và sự lắng nghe lẫn nhau” và “Một nhạc trưởng phải coi mình trước hết và quan trọng nhất là một nhạc công. Toàn bộ ý tưởng về người chỉ huy như một vị thần hoặc một nhà độc tài nào đó là vô lý – đặc biệt là khi thời đại của kẻ chuyên quyền đã kết thúc”. Tuy nhiên, có một điều tương đồng giữa Toscanini và Abbado, đó là sự truyền đạt ý tưởng qua đôi mắt: “Công cụ quan trọng nhất mà tôi có”, Abbado từng nói như vậy và bổ sung: “Người nhạc trưởng phải có thể thay đổi độ độc đáo của dàn nhạc ngay cả với chuyển động của mắt anh ấy. Anh ấy sẽ đạt được những gì mình muốn chỉ với một cái lắc đầu”. Ông không bao giờ tức giận, nhưng sẽ không thoả hiệp. Peter Diamond, người từng tài trợ cho nhiều chương trình biểu diễn của Abbado cho biết: “Ông ấy không khó tính, nhưng cố chấp”. Abbado sẽ tập luyện đi tập luyện lại một đoạn nhạc cho đến khi có được âm thanh mà mình mong muốn. Đôi khi chỉ dẫn duy nhất của ông sẽ chỉ là: “Hãy lắng nghe”. Chính vì cá tính này mà dù đã gặt hái được rất nhiều thành công tại các dàn nhạc hàng đầu tại Mỹ nhưng Abbado vẫn hứng thú làm việc với các dàn nhạc tại châu Âu hơn. Bởi vì quy định của công đoàn tại Mỹ rất chặt chẽ, các buổi tập của dàn nhạc sẽ kết thúc khi hết thời gian, thay vì tạo ra được hiệu quả như mong muốn và sẵn sàng được biểu diễn như tại châu Âu. Abbado có cách giải thích của riêng mình: “Ở Vienna và Berlin thì tốt hơn vì có nhiều nhạc công chơi nhạc thính phòng hơn”. Phong cách chỉ huy của Abbado rất tự do, đặc biệt là tay trái. Ông hiếm khi đánh nhịp, thay vào đó ông định hình và điêu khắc âm nhạc, đục đẽo nó từ hư vô như một người thợ gốm lành nghề đang nhào nặn lên những tác phẩm tinh xảo nhất của mình. Một điểm đáng lưu ý nữa trong công việc của Abbado là ông không bao giờ biểu diễn với tổng phổ, tất cả đều được học thuộc lòng. Ông giải thích: “Tôi đã thử một lần sử dụng tổng phổ, nhưng đối với tôi điều đó có nghĩa là tôi không biết tác phẩm đó. Tiếp xúc với dàn nhạc tốt hơn nhiều khi không có bản nhạc. Và với opera, nếu bạn nhìn vào tổng phổ, bạn không thể nhìn thấy sân khấu”. Abbado tin rằng, nếu có điều bất ngờ xảy ra, khả năng ứng phó của một nhạc trưởng sẽ lớn hơn nếu anh ta không phụ thuộc vào tổng phổ.

Abbado dành rất nhiều sự quan tâm cho âm nhạc đương đại, tại La Scala ông đã biểu diễn nhiều tác phẩm mới được sáng tác của Luciano Berio, Pierre Boulez, Krzysztof Penderecki và Karlheinz Stockhausen. Ông cũng rất khuyến khích các tài năng âm nhạc trẻ bằng cách thành lập European Community Youth Orchestra (nay là European Union Youth Orchestra) vào năm 1976, bao gồm các nghệ sĩ trẻ có độ tuổi từ 16-26, đến từ các nước thuộc Liên minh châu Âu. Năm 1979, ông đảm nhiệm cương vị nhạc trưởng chính tại London Symphony Orchestra. Trong nhiệm kỳ của mình, ông đã gặt hái được nhiều thành công với truyền thống âm nhạc Đức-Áo, trái ngược với những lựa chọn của người tiền nhiệm André Previn, đặc biệt là các bản giao hưởng của Mahler. Tuy nhiên, với chính âm nhạc của Mahler, Abbado đã bị các nhạc công của London Symphony Orchestra phàn nàn: “Mặc dù chúng tôi đã đổ mồ hôi khi chơi những bản giao hưởng Mahler đồ sộ đó cho Abbado, nhưng ông ấy sẽ đi và thu âm chúng với các dàn nhạc khác, điều này đã khiến chúng tôi cảm thấy giống như lựa chọn thứ hai, thậm chí có thể là thứ ba”. Các dàn nhạc khác ở đây là Vienna Philharmonic, mà Abbado gắn bó kể từ đầu những năm 1970 và Chicago Symphony Orchestra, được Abbado đảm nhận cương vị nhạc trưởng khách mời chính từ năm 1982. Năm 1982, Abbado thành lập Filarmonica della Scala, chuyên biểu diễn các tác phẩm khí nhạc, bổ sung cho các vở opera và ballet của La Scala, với sự tham gia tích cực của các nhạc trưởng người Ý khác như Carlo Maria Giulini và Riccardo Muti. Năm 1986, Abbado rời bỏ khỏi cương vị của mình tại La Scala để tiếp nhận vị trí tương tự tại một nhà hát danh giá khác, Vienna State Opera mà ông ra mắt lần đầu vào ngày 22/3/1984 trong Simon Boccanegra (Verdi). Abbado chia tay London Symphony Orchestra vào năm 1987. Luôn được biết đến như một nhạc trưởng say mê âm nhạc của Mahler, năm 1986, ông thành lập Gustav Mahler Youth Orchestra, một dàn nhạc trẻ khác, có trụ sở tại Vienna với danh mục biểu diễn trải dài từ Cổ điển đến đương đại nhưng tập trung chủ yếu vào các bản giao hưởng thời kỳ Lãng mạn và hậu Lãng mạn. Từ năm 1992, Gustav Mahler Youth Orchestra là dàn nhạc đầu tiên tiếp nhận thành viên đến từ khối Đông Âu.

Khi Karajan từ chức tại Berlin Philharmonic vào ngày 24/4/1989 và Carlos Kleiber từ chối là người thay thế, Abbado đã được các nhạc công của dàn nhạc bỏ phiếu lựa chọn trở thành nhạc trưởng chính của dàn nhạc. Cũng đúng trong khoảng thời gian này, đã rộ lên nhiều tin đồn rằng Abbado là người kế tiếp đảm nhận cương vị giám đốc âm nhạc của New York Philharmonic, thay cho người bạn thân Mehta. Nhiều người khẳng định là Abbado đã tìm kiếm cho mình một ngôi nhà ở Manhattan, tuy nhiên, ông cho biết rằng mọi thứ chỉ dừng lại ở những cuộc trao đổi thông thường. Abbado tuyên bố ngay sau khi trở thành nhạc trưởng của Berlin Philharmonic: “Lịch sử âm nhạc không kết thúc với Puccini”. So với Karajan, danh mục biểu diễn của Abbado mạo hiểm hơn với nhiều tác phẩm âm nhạc đương đại. Ông là một người tôn trọng truyền thống nhưng luôn hướng về phía trước. Tại Berlin Philharmonic, Abbado được ghi nhận là người đã giúp dàn nhạc phát triển một bản sắc riêng một cách độc lập mà trước đó thường bị sự chuyên chế của Karajan áp đảo. Paul Driscoll, tổng biên tập của Opera News đánh giá: Abbado đã làm cho dàn nhạc tồn tại theo cách không được kết nối với một người mà kết nối với tương lai”. Bức tường Berlin sụp đổ, kết thúc sự chia cắt tại châu Âu. Ông đã tìm kiếm cách vượt qua ranh giới nghệ thuật giữa Đông và Tây, để mang hai phần của thành phố mới thống nhất lại với nhau và truyền tải nghệ thuật đến mọi thành phần trong xã hội, như ông giải thích: “Nhà hát, thư viện, bảo tàng và rạp chiếu phim giống như những ống dẫn nước nhỏ”. Năm 1992, cùng với nghệ sĩ cello Natalia Gutman, Abbado là đồng sáng lập Berlin Encounters, một liên hoan âm nhạc thính phòng có sự kết hợp của những tài năng lão luyện và nghệ sĩ trẻ.

Luôn là một người nhút nhát, rụt rè nhưng Abbado sẽ không bao giờ nhân nhượng cho những ai dám thách thức quyền lực của mình. Hélène Grimaud từng muốn sử dụng cadenza của Ferruccio Busoni trong bản Concerto piano số 23 (Wolfgang Amadeus Mozart) nhưng Abbado kiên quyết muốn cadenza của chính Mozart. Và cuối cùng Grimaud đã bị loại khỏi chương trình, bất chấp những cam kết ghi âm trước đó. Ông cũng có quan điểm chính trị rõ ràng: “Trong cuộc đời mỗi người đều phải có một vị trí. Khi mọi người nói, “Ồ, anh ấy là một nhạc sĩ, tại sao anh ấy lại phải nói về chính trị”? Thì điều này thật ngu ngốc. Tôi đã tổ chức một buổi hoà nhạc chống lại chủ nghĩa phát xít ở Ý tại La Scala. Đó là vào thời điểm bầu cử và những kẻ phát xít rất mạnh. Ở Ý, phe đối lập với chủ nghĩa phát xít là chủ nghĩa cộng sản, nhưng ở Mỹ thì không. Tuy nhiên, bản thân tôi không thuộc đảng phái nào. Tôi bỏ phiếu cho những người cộng sản đơn giản vì họ là phe đối lập với phát xít. Nhưng tôi không đồng ý với cả chủ nghĩa cộng sản Ý và Nga về nhiều thứ. Quan điểm của tôi rất rõ ràng. Tôi vì tự do. Mọi thứ không vì tự do tôi đều phản đối”. Abbado là người chỉ trích thẳng thắn thủ tướng Silvio Berlusconi, người mà ông cho là thiếu hiểu biết về mặt chính trị. Trên truyền hình Ý, ông đọc một tuyên ngôn chống lại các chính sách văn hóa của chính phủ: “Văn hóa khắc phục sự bất bình đẳng xã hội. Văn hóa giải phóng chúng ta khỏi đói nghèo”.

Năm 1998, Abbado tuyên bố sẽ chia tay Berlin Philharmonic kể từ năm 2002. Không có bất kỳ mâu thuẫn nào với dàn nhạc, mà chỉ đơn giản là “để đọc nhiều hơn, đi trượt tuyết và chèo thuyền”. Năm 2000, Abbado bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư dạ dày. Ông đã phải phẫu thuật vào tháng 7/2000 và huỷ bỏ toàn bộ chương trình biểu diễn cho đến hết ba tháng đầu năm 2001. Sau khi trở lại, diện mạo bề ngoài của ông thay đổi rõ rệt, trở nên gày gò và ốm yếu hơn. Ông cho biết: “Âm nhạc rất quan trọng trong việc giúp tôi vượt qua bệnh tật. Nhưng quan trọng hơn cả là gia đình – tình yêu và sự hỗ trợ mà tôi đã trải qua từ bạn bè và người thân trong môi trường riêng tư của tôi”. Tuy nhiên, cường độ hoạt động âm nhạc của Abbado thì vẫn mãnh liệt như chưa từng có cơn bạo bệnh nào. Ông cùng với Michael Haefliger, giám đốc nghệ thuật của liên hoan Lucerne, đã thành lập Lucerne Festival Orchestra với nòng cốt là Mahler Chamber Orchestra, với nhạc công là các cựu thành viên quá tuổi của Gustav Mahler Youth Orchestra. Cùng tham gia còn là những nhạc công hàng đầu của những dàn nhạc danh giá trên khắp châu Âu mà Abbado đã từng cộng tác trước đó. Trọng tâm âm nhạc của dàn nhạc là các bản giao hưởng của Mahler mà Abbado đã thu âm trọn bộ (ngoại trừ bản số 8). Năm 2004, ông là giám đốc nghệ thuật của dàn nhạc mới được thành lập Orchestra Mozart có trụ sở tại Bologna. Khi mọi việc tưởng chừng đang diễn ra rất tốt đẹp, căn bệnh ung thư của Abbado tái phát và ông đã qua đời vào ngày 20/1/2014 tại Bologna ở tuổi 80.

“Nghe” có lẽ là thuật ngữ thương hiệu của Abbado, là từ mà ông sử dụng thường xuyên nhất trong các buổi tập. Các nhạc công không nên nghe ông, mà là âm nhạc, như Abbado từng nhấn mạnh: “Nhiều người học cách nói chuyện, nhưng họ không học cách lắng nghe. Lắng nghe lẫn nhau là một điều quan trọng trong cuộc sống. Và âm nhạc cho chúng ta biết cách làm điều đó”. Đúng như vậy, hãy lắng nghe di sản đồ sộ của Abbado để thấy rằng ông đã tạo ra được những điều tuyệt vời nhất trong âm nhạc.

Cobeo