CHƯƠNG XXV – NÓI VỀ NĂM 1793

 

Georges Cain, người bạn tuyệt vời của tôi, nhà sử học lỗi lạc và có tài hùng biện về Paris Cổ, đã tập hợp chúng tôi vào một buổi sáng mùa hè năm 1905 để cùng nhau đến thăm nơi từng là tu viện dòng Cát Minh ở phố Vaugirard. Trong đoàn chúng tôi có bà Georges Cain xinh đẹp và quyến rũ, cô Lucy Arbell từ Nhà hát Opéra và một vài người khác.

Chúng tôi lang thang qua các trai phòng của tu viện cổ, xem cái giếng nơi đám người Tháng chín khát máu đã ném xác các linh mục bị tàn sát, chúng tôi đến những khu vườn vẫn khét tiếng bởi những cuộc tàn sát khủng khiếp này. Khi vừa dừng chân giữa cái nóng bức vừa kể lại những sự kiện bi thảm này, Georges Cain chỉ cho chúng tôi thấy một dáng hình màu trắng đang lang thang đơn độc phía xa.

“Đó là linh hồn của Lucile Desmoulins,” anh nói. “Lucile Desmoulins tội nghiệp đã thật mạnh mẽ và can đảm bên cạnh chồng khi anh bị dẫn tới đoạn đầu đài, nơi chính cô cũng sớm theo anh.

Đó chẳng phải cái bóng lẫn hồn ma! Dáng hình màu trắng rất sống động!… Đó là Lucy Arbell, người choáng ngợp bởi một cơn xúc cảm sâu sắc mà tránh ra xa để che giấu những giọt nước mắt.

Thérèse đã hiện diện rồi…

Vài ngày sau, tôi ăn trưa tại Đại sứ quán Ý. Trong lúc dùng món tráng miệng, bằng vẻ duyên dáng quyến rũ cùng tài hùng biện tinh tế và hấp dẫn quen thuộc với mình, nữ bá tước rất đáng mến Tornielli kể cho chúng tôi nghe lịch sử tòa Đại sứ quán, phố Grenelle.

Năm 1793, tòa nhà này thuộc sở hữu của gia đình Galliffet. Một số thành viên của ngôi nhà lừng lẫy này đã bị chém đầu, một số khác di cư ra nước ngoài. Người ta đã muốn bán tòa nhà như bán tài sản của nhân dân; người phản đối việc này là một đầy tớ già có tính cách kiên định và quyết đoán. “Tôi là nhân dân,” ông nói, “và các người sẽ không chiếm đoạt của nhân dân những gì thuộc về họ. Tôi đang ở nhà tôi đây!…”

Vào năm 1798, khi một trong những người lưu vong nhà Galliffet còn sống trở về Paris, ý nghĩ đầu tiên của ông là đến thăm ngôi nhà của gia đình. Ông thật ngạc nhiên khi đón tiếp ông ở đó là người đầy tớ trung thành, người đã ngăn được vụ cướp đoạt bằng những lời lẽ gay gắt và cương quyết. “Thưa ngài,” người đầy tớ quỳ dưới chân chủ nhân mà nói, “tôi đã gìn giữ tài sản của ngài. Tôi xin trả lại ngài!”

Ca từ của Thérèse đã được tiên đoán! Sự tiết lộ này dự cảm điều đó.

…

Tôi có thể nói rằng chính tại Bruxelles, vào tháng 11 năm đó, trong Rừng Cambre, tôi đã có ý tưởng âm nhạc đầu tiên cho tác phẩm.

Đó là một chiều thu đẹp với những tia nắng nhạt nhòa. Ta cảm thấy bao nhiêu nhựa sống đang từ từ rút khỏi những thân cây xinh đẹp này. Những tán lá xanh tươi vui trên ngọn cây đã biến mất. Rụng xuống theo những cơn gió thất thường là từng chiếc lá quắt queo héo úa, nhuốm vàng nhuốm đỏ bởi cái lạnh. Thiên nhiên thật trớ trêu với sự rực rỡ, những sắc thái cũng như những sắc màu đa dạng nhất.

Chẳng có gì giống với những cái cây gầy gò mảnh khảnh ở Rừng Boulogne của chúng ta. Với sự phát triển của nhánh cành, những cái cây lộng lẫy này gợi nhớ đến những cái cây rất được ngưỡng mộ ở các công viên Windsor và Richemond. Tôi bước đi trên những chiếc lá khô, bàn chân tôi giẫm đạp lên chúng tạo nên tiếng xào xạc vui tai đệm theo những suy nghĩ trong đầu.

Tôi đã đến gần trung tâm của tác phẩm, trong “phần cốt lõi của chủ đề”, bởi trong bốn hay năm người đang đi cùng tôi có cả nữ chính của Thérèse trong tương lai.

Tôi say mê tìm kiếm khắp nơi mọi thứ liên quan đến thời kỳ Khủng bố khủng khiếp, bất cứ điều gì trong các bức tranh khắc có thể kể lại cho tôi lịch sử đen tối và thê thảm của thời đại đó, để viết một cách chân thực nhất có thể các cảnh trong màn hai mà tôi thú thật là mình yêu sâu sắc.

Vậy nên khi trở về Paris, chính tại ngôi nhà trên phố Vaugirard, trong suốt mùa đông và mùa xuân (tôi hoàn thành tác phẩm vào mùa hè bên bờ biển), tôi đã soạn nhạc cho Thérèse.

Tôi nhớ một sáng nọ khi việc xử lý một tình tiết cần tới sự giúp đỡ khẩn thiết của cộng sự Jules Claretie đã khiến tôi rất bực dọc. Tôi lập tức quyết định viết thư cho Bộ trưởng Bộ Bưu chính, điện báo và điện thoại để xin ông chấp thuận cho tôi điều gần như bất khả này: lắp đặt điện thoại ở nhà tôi ngay trong ngày, trước bốn giờ!…

Dĩ nhiên là thư tôi viết mang giọng điệu của một lá đơn thỉnh cầu cung kính.

Tôi có thể hy vọng vào nó không? Khi xong việc ở bên ngoài về nhà, tôi tìm thấy trên lò sưởi một máy điện thoại tuyệt đẹp mới tinh!

Ông bộ trưởng Bérard , một trong những trí thức lỗi lạc nhất, chắc hẳn đã ngay lập tức quan tâm đến mong muốn thất thường của tôi. Ông illico [tiếng Latin: lập tức] phái đến nhà tôi một đội 20 người được trang bị mọi thứ cần thiết để nhanh chóng lắp đặt.

Ôi ông bộ trưởng dễ thương thân mến! Tôi càng quý ông hơn vì một hôm ông đã dành cho tôi những lời lẽ rất đáng yêu: “Tôi rất vui,” ông nói, “được mang lại sự hài lòng này cho anh, người đã rất thường xuyên khiến tôi hài lòng biết bao ở nhà hát với các tác phẩm của anh.”

Par pari refertur, phải, đó chính là sự đền đáp, nhưng được thực hiện bằng sự chiếu cố và ân cần mà tôi đánh giá cao.

A lô!… A lô! Trong lần gọi điện đầu tiên, như bạn có thể tưởng tượng, tôi đã rất vụng về. Tuy vậy tôi cũng xoay xở được một cuộc trao đổi.

Tôi cũng biết được một chi tiết chu đáo rất hữu ích khác là số của tôi sẽ không xuất hiện trong cuốn Danh bạ. Vì thế không ai có thể gọi điện cho tôi. Tôi sẽ là người duy nhất có thể sử dụng công cụ tuyệt vời này.

Tôi không chậm trễ gọi điện cho Claretie. Anh rất ngạc nhiên khi nhận được cuộc gọi từ phố Vaugirard. Tôi trao đổi với anh những ý tưởng về cái cảnh khó xử lý đã dẫn đến chuyện lắp đặt điện thoại.

Đó là cảnh cuối cùng.

Tôi gọi điện bảo anh:

Cứ cắt cổ Thérèse là mọi chuyện sẽ ổn.

Tôi nghe thấy một giọng nói lạ đang bật ra những tiếng kêu hốt hoảng (đường dây của chúng tôi đang bị nối nhầm với một thuê bao khác); cô ta hét lên với tôi:

Chà! Nếu tôi biết anh là ai, đồ vô lại! Tôi sẽ tố giác anh với cảnh sát. Một tội ác như thế! Nạn nhân là ai vậy?

Đột nhiên giọng Claretie vang lên:

Một khi đã bị cắt cổ, cô ấy sẽ được đặt lên xe ba gác cùng chồng mình. Tôi thích thế hơn thuốc độc!

Giọng một người đàn ông:

Ôi! Quá đáng thật! Giờ thì mấy kẻ hung ác sẽ đầu độc cô ấy! Tôi sẽ gọi cảnh sát!… Tôi muốn một cuộc điều tra!…

Có tiếng lép bép lớn phát ra từ máy điện thoại và sự thanh bình trở lại.

Thật đúng lúc; với một người thuê bao kích động đến mức như vậy, Claretie và tôi có nguy cơ phải một phen lao đao! Nghĩ lại mà tôi vẫn còn run!

Kể từ đó tôi thường xuyên làm việc với Claretie bằng cách trao đổi giữa hai đầu dây, và sợi dây này của Ariane đã dẫn truyền từ giọng tôi đến giọng Perséphone, ý tôi là… giọng Thérèse, người mà tôi đã cho nghe thử màn kết kiểu này hay kiểu nọ khi muốn biết ý kiến của cô trước khi viết thành nốt nhạc.

Vào một ngày xuân đẹp, tôi đến thăm lại công viên Bagatelle, cùng tòa nhà xinh xắn, khi ấy vẫn bị bỏ hoang, được Bá tước Artois xây dựng dưới thời Louis XVI. Tôi nhớ rất rõ lâu đài nhỏ xinh xắn mà Cách mạng thắng lợi đã cho phép biến thành nơi tổ chức các lễ hội đồng quê sau khi đã tước quyền sở hữu của người chủ cũ. Khi lấy lại được quyền sở hữu trong thời kỳ Khôi phục, Bá tước Artois đã gọi nó là “Babiole”. “Bagatelle” hay “Babiole” thì cũng là một, và vào thời chúng ta chính tòa nhà này gần như là nơi ở của nhà triệu phú, nhà hảo tâm và nhà sưu tập nổi tiếng Richard Wallace.

Sau này tôi muốn bối cảnh màn đầu của Thérèse tái hiện chính xác tòa nhà này. Họa sĩ của chúng tôi đặc biệt nhạy cảm với ý tưởng đó. Quả thực chúng tôi biết cô có quan hệ họ hàng với hậu duệ của Hầu tước Hertford.

Khi tổng phổ đã hoàn thành và biết ý định của Raoul Gunsbourg, người mong muốn dàn dựng tác phẩm này tại Nhà hát Opéra Monte-Carlo, vợ chồng tôi được thông báo rằng thân vương điện hạ Monaco sẽ ban vinh dự cho ngôi nhà khiêm tốn của chúng tôi bằng sự hiện diện của ngài và sẽ đến ăn trưa ở nhà chúng tôi cùng người trưởng dòng họ ngài, Bá tước Lamotte d’Alllogny. Chúng tôi lập tức mời vợ chồng cộng sự thân yêu Claretie, cũng như mời vợ chồng nhà xuất bản xuất sắc và người bạn Heugel của tôi.

Thân vương Monaco, một người rất giản dị, đã đủ từ tâm để ngồi gần cây piano mà tôi cho đưa vào nhà trong dịp này và ngài đã nghe một vài đoạn trích từ Thérèse. Ngài đã biết tình tiết này qua chúng tôi. Trong buổi đọc đầu tiên cho người sắm vai, Lucy Arbell, một nghệ sĩ thực thụ, đã ngăn tôi lại khi tôi đang hát cảnh kết, cảnh Thérèse bật ra một tiếng kêu kinh hoàng khi trông thấy chiếc xe ba gác khủng khiếp đang đưa André Thorel chồng mình lên đoạn đầu đài, và dùng hết sức bình sinh thét lên “Dức vua vạn tuế!” để chắc chắn được hội ngộ cùng chồng trong cái chết. Đúng vào lúc này, nghệ sĩ biếu diễn đã xúc động sâu sắc của chúng tôi ngăn tôi lại mà nói trong cơn rung cảm tột cùng: “Tôi không bao giờ có thể hát hết cảnh này, bởi khi tôi nhận ra chồng mình, người đã cho tôi mang họ anh, người đã cứu Armand de Clerval, tôi ắt sẽ không thốt nên lời. Vì vậy tôi đề nghị ông viết lại toàn bộ cảnh kết vở.”

Chỉ những nghệ sĩ lớn mới có năng khiếu bẩm sinh để có những phản ứng bản năng này; như cô Fidès-Devriès, người đã đề nghị tôi viết lại khúc aria của Chimène: “Hãy khóc đi mắt ta ơi!…” [Pleurez mes yeux!…] Cô nhận thấy trong lúc chỉ nghĩ đến người cha đã khuất thì mình đã quên mất người bạn Rodrigue!

Giọng nam cao Talazac, người vào vai Des Grieux, cũng có một cử chỉ rất chân thành. Anh muốn thêm từ toi!… trước từ vous! mà anh thốt ra khi tìm lại được Manon trong chủng viện Saint-Sulpice. Chẳng phải từ toi này là tiếng kêu đầu tiên của người tình cũ khi tìm lại được tình nhân của mình hay sao?

…

Những buổi tập đầu tiên của Thérèse diễn ra trong một căn hộ xinh đẹp được trang hoàng lộng lẫy bằng những bức tranh và tác phẩm nghệ thuật cổ mà Raoul Gunsbourg sở hữu trên phố Rivoli. Đó là ngày đầu năm mới và chúng tôi ăn mừng bằng cách tập luyện trong phòng khách, từ tám giờ tối cho đến nửa đêm.

Bên ngoài trời rất lạnh, nhưng một ngọn lửa rực cháy khiến chúng tôi quên mất điều đó; và chính trong bầu không khí ngọt ngào tuyệt vời này chúng tôi uống sâm panh để mừng những hy vọng chung sắp thành hiện thực.

Cảm động biết bao những buổi diễn tập quy tụ ba nghệ sĩ xinh đẹp này: Lucy Arbell, Edmond Clément và Dufranne!

Vào tháng tiếp theo, ngày 7 tháng 2 năm 1907, buổi công diễn lần đầu Thérèse diễn ra tại Nhà hát Opéra Monte-Carlo.

Trong năm đó vợ chồng tôi lại một lần nữa làm khách của thân vương trong cung điện tráng lệ mà tôi đã kể với biết bao ngưỡng mộ.

Thân vương mời chúng tôi vào lô riêng của ngài, chính cái lô mà tôi đã được triệu vào cuối buổi công diễn lần đầu vở Người làm trò tung hứng của Đức Bà, và nơi mà trước sự chứng kiến của công chúng, Thân vương Monaco đã tự tay đeo lên ngực tôi tấm Huân chương Saint-Charles.

Đi nhà hát thì thì tốt thôi; thế nhưng tham dự buổi biểu diễn và lắng nghe lại là chuyện hoàn toàn khác! Vậy nên vào buổi diễn Thérèse, tôi lại ngồi ở vị trí quen thuộc của mình trong phòng khách của thân vương. Rèm và cửa ngăn cách nó với cái lô. Tôi ở đó một mình trong im lặng, hoặc ít ra là tôi mong như vậy.

Im lặng ư? Hãy nói về nó! Tiếng hoan hô chào đón ba nghệ sĩ của chúng tôi inh ỏi đến mức không cửa hay rèm nào có thể chống chịu cũng như ngăn chặn được!

Ngày hôm sau các nghệ sĩ vào vai chính đã được tán thưởng lại được mời tới ăn mừng trong một bữa tối chính thức được tổ chức tại cung điện. Đồng nghiệp nổi tiếng của tôi, ông Louis Diémer, nghệ sĩ điêu luyện tuyệt vời đã đồng ý chơi clavecin màn đầu của Thérèse, bà Louis Diémer, bà Massenet và tôi cũng có mặt ở đó. Để đến được phòng tiệc, vợ chồng tôi chỉ phải leo lên cầu thang danh dự. Nó gần căn hộ của chúng tôi, một căn hộ đẹp lý tưởng, một nơi nghỉ ngơi thực sự trong mơ.

Trong hai năm liên tiếp, Thérèse đã được biểu diễn ở Monte-Carlo, và cùng với nữ chính Lucy Arbell, chúng tôi có giọng nam cao xuất sắc Rousselière và giáo sư bậc thầy Bouvet.

Vào tháng 3 năm 1910, các liên hoan hoành tráng khác thường và thực sự chưa từng có đã diễn ra tại Monaco nhân dịp khánh thành tòa nhà khổng lồ của Bảo tàng Hải dương học.

Tại hội diễn, Thérèse lại được biểu diễn trước một đám khán giả gồm các thành viên Học viện, các đồng nghiệp của thân vương điện hạ, một thành viên Viện hàn lâm Khoa học. Một vài người nổi tiếng, các học giả từ khắp nơi trên thế giới, đại diện của các đoàn ngoại giao, cũng như ngài Loubet, cựu Tổng thống nước Cộng hòa, cũng có mặt ở đó.

Vào buổi sáng lễ khánh thành long trọng, thân vương đọc một bài diễn văn tuyệt diệu và nhận đáp từ của các chủ tịch viện hàn lâm ngoại quốc.

Tôi đã rất đau yếu và không thể tham dự bữa tiệc diễn ra tại cung điện mà sau đó các vị khách đi dự buổi hội diễn tôi đã kể.

Đồng nghiệp Henri Roujon của tôi ở Học viện, trong bữa tiệc sáng hôm sau, đã rất tốt bụng khi đọc bài diễn văn mà lẽ ra chính tôi phải đọc nếu không buộc phải nằm trên giường.

Được Henri Roujon phát biểu thay vừa là một vinh dự vừa là một thành công!

Cũng được mời tham dự các lễ hội này và sống trong cung điện, Saint-Saëns không ngừng bày tỏ với tôi những dấu hiệu thể hiện sự quan tâm trìu mến nhất. Chính thân vương cũng hạ cố đến thăm tôi trong phòng bệnh, và từng người kể cho tôi nghe về thành công của buổi hội diễn cũng như thành công của Thérèse của chúng tôi, Lucy Arbell.

Bác sĩ của tôi cũng lặng lẽ rời tôi vào buổi tối và lại mở cửa phòng tôi vào khoảng nửa đêm. Chắc chắn là để kiểm tra bệnh tình của tôi nhưng cũng để kể cho tôi nghe về màn trình diễn tuyệt đẹp. Ông biết đó sẽ là một niềm an ủi chắc chắn hiệu nghiệm với tôi.

Một chi tiết khiến tôi rất hài lòng là:

Người ta trình diễn vở Đại bàng già [Le Vieil Aigle] của Raoul Gunsbourg, nơi bà Marguerite Carré, phu nhân giám đốc Nhà hát Opéra-Comique, được ca ngợi. Thérèse cũng đồng thời có mặt trên áp phích. Albert Carré, người tham dự buổi biểu diễn, đã gặp một trong những người bạn Paris của mình trên ghế dàn nhạc và được thông báo rằng anh ấy đã biểu diễn Thérèse tại Nhà hát Opéra-Comique, với một nữ chính rất truyền cảm.

Thật vậy, bốn năm sau buổi công diễn lần đầu ở Monte-Carlo, và sau khi nhiều nhà hát khác đã trình diễn tác phẩm này, buổi ra mắt Thérèse tại Nhà hát Opéra-Comique diễn ra vào ngày 28 tháng 5 năm 1911, và tờ Tiếng vọng Paris đã có nhã ý xuất bản một phụ trương được trình bày tuyệt vời nhân dịp này.

Khi viết những dòng này, tôi đọc được rằng màn thứ hai của Thérèse góp mặt trong chương trình hiếm có của lễ kỉ niệm dành cho tôi tại Nhà hát Opéra vào Chủ nhật ngày 10 tháng 12 năm 1911 do các nhà hảo tâm nổi tiếng người Pháp tổ chức. “Ba mươi năm sân khấu” là một sáng tạo rất hữu ích của anh bạn Adrien Bernheim của tôi, người có tinh thần cũng quảng đại như tâm hồn cao cả và tốt lành của anh.

…

Gần đây, một người bạn hiền dịu đã nói với tôi: “Nếu anh đã viết Người làm trò tung hứng của Đức Bà bằng đức tin thì anh đã viết Thérèse bằng cả trái tim.”

Không điều gì có thể được diễn đạt giản dị hơn mà lại khiến tôi xúc động hơn thế.

Jules Massenet (trích Hồi ức của tôi)
na9 dịch